Cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam - 12


sách trong từng thời kỳ. Một số vai trò tích cực của các NHTM có nhà nước nắm cổ phần chi phối cần được ghi nhận, trong đó có thể kể đến:

Một là, các NHTMNN luôn là những TCTD đi đầu trong việc thực thi các chính sách lãi suất, tỷ giá, điều hành tín dụng. Có thể khẳng định, đây chính là những đơn vị chủ đạo, góp phần tạo lập sự ổn định trên thị trường tiền tệ, bảo đảm an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng, thực hiện các nhiệm vụ an sinh xã hội.

Hai là, trong suốt quá trình thành lập và phát triển, các NHTMNN luôn duy trì quy mô lớn và đóng vai trò quan trọng trong hệ thống ngân hàng tại Việt Nam. Với quy mô lớn và thời gian hoạt động trong ngành lâu dài, các NHTMNN đảm nhiệm phần lớn công việc lưu chuyển nguồn vốn trong nền kinh tế. Số liệu cho thấy, ba NHTM Nhà nước có cổ phần chi phối: Vietinbank, Vietcombank và BIDV chiếm tới 27,6% tổng tài sản, 28,9% tổng huy động và gần 30% tổng cho vay của cả hệ thống. Như vậy, cho đến nay, các NHTMNN ở Việt Nam vẫn đóng vai trò trụ cột của ngành ngân hàng nước nhà.

Ba là, nhóm các NHTMNN cũng là nhóm các ngân hàng duy trì được tốc độ tăng trưởng tài sản và tín dụng ổn định nhất trong giai đoạn nền kinh tế gặp khó khăn do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008. Điều này được lý giải là do các NHTMNN có tiềm lực mạnh về quy mô tài sản, vốn chủ hữu. Đồng thời, các ngân hàng này luôn duy trì cho mình những uy tín trên thị trường khi có sự bảo hộ của Nhà nước, có lịch sử phát triển lâu dài, nhất là khi so sánh với các NHTMCP mới đi vào hoạt động khoảng hai mươi năm trở lại đây. Điều này cũng được kiểm chứng tại các ngân hàng trên thế giới về vai trò của sở hữu nhà nước trong khủng hoảng tài chính thế giới 2007-2008.

Bốn là, các NHTMNN thực hiện thành công hiện đại hóa ngân hàng, phát triển được những sản phẩm, dịch vụ ngân hàng mới, tiện ích đáp ứng nhu cầu của thị trường.

Sở hữu tư nhân tại các NHTM có cho thấy những ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động của các NHTM. Việc gia tăng sở hữu tư nhân do cổ phần hóa tại các NHTM do nhà nước chi phối đã đóng góp một số tác động nhất định đến cải thiện hiệu quả hoạt động của các ngân hàng này. Số liệu thống kê cho thấy đối với các ngân hàng Vietcombank, Vietinbank và MHB quá trình CPH với sự giảm xuống của tỷ lệ sở hữu Nhà nước đã gắn với sự cải thiện các chỉ tiêu tài chính cơ bản. Đối với Vietcombank


và Vietinbank sau khoảng 2 năm CPH, hiệu quả kinh doanh của ngân hàng được nâng cao khoảng 1,5 lần so với trước CPH.. Ngoài ra, các NHTMCP thường duy trì các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tài chính và an toàn hoạt động ở mức cao hơn tương đối trong so sánh với các NHTMNN. Theo kết quả phân tích ở phần thực trạng trong chương 3, quan sát các chỉ tiêu tài chính của nhóm các NHTMNN và một số NHTMCP có thể thấy được các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh và an toàn tài chính của các NHTMCP tỏ ra cao hơn các NHTMNN ngay cả đối với một số NHTMNN dẫn đầu về doanh thu và lợi nhuận như Vietcombank, Vietinbank hay BIDV.

Các hình thức sở hữu của tổ chức nước ngoài, quỹ đầu tư tại ngân hàng trong nước giúp cho các NHTM Việt Nam có thể dễ dàng hơn trong việc tài trợ vốn cho các hoạt động kinh doanh có yếu tố nước ngoài;đồng thời góp phần nâng cao năng lực quản trị và công nghệ. Trong mối quan hệ này, NHTM trong nước có thêm kênh đầu tư, được học hỏi kinh nghiệm, năng lực quản trị của NHTM nước ngoài. Đối với NHTM nước ngoài, là sự mở rộng kênh đầu tư ở thị trường mới, ngoài ra còn được NHTM trong nước cung cấp những lợi thế về mạng lưới, hiểu biết về thị hiếu, thói quen tiêu dùng các sản phẩm ngân hàng để đưa ra chiến lược kinh doanh thích hợp nhất. Cổ đông chiến lược nước ngoài tại các NHTM sẽ giúp tăng thêm vốn góp cho các NHTM trong nước, tạo điều kiện mở rộng hoạt động, cũng như hợp tác, học hỏi kinh nghiệm của nước ngoài. Ngoài ra, cổ đông tại các NHTM là các công ty quản lý quỹ có thể giúp cải thiện khả năng quản lý trong ngân hàng cũng như lựa chọn các kênh đầu tư.

3.5.2. Những hạn chế còn tồn tại

3.5.2.1. Đối với sở hữu nhà nước tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Để giải thích cho việc chưa phát huy hết tiềm năng hoạt động tại các NHTM có cổ phần Nhà nước chi phối, nghiên cứu sinh xin đưa ra một số hạn chế của sở hữu Nhà nước đến hoạt động của ngân hàng Việt Nam như sau:

Thứ nhất, sở hữu Nhà nước gây ra sự thiếu rạch ròi giữa chức năng kinh doanh tiền tệ của các NHTMNN và chức năng thực thi CSTT của NHNN. Việc sở hữu lượng cổ phần chi phối giúp NHNN thực hiện một số CSTT như việc nới lỏng hay thắt chặt nguồn cung tín dụng thông qua hệ thống các NHTMNN hoặc yêu cầu các NHTMNN thực hiện các gói vay ưu đãi. Trong khi đó, các ngân hàng tư nhân được tự xác định phân bổ vốn


vào khu vực nào có năng suất cao trong giới hạn rủi ro có thể kiểm soát được. Việc chỉ định các lĩnh vực nhất định có thể khiến cho hệ thống ngân hàng rủi ro hơn.

Thứ hai, các NHTMNN có thể chịu ảnh hưởng trong việc xác định khẩu vị rủi ro đặc biết là trong việc cho vay đối với các DNNN. Như đã đề cập, nợ xấu của các NHTMNN chiếm tỷ lệ lớn trong quy mô nợ xấu của cả hệ thống – đây cũng chính là các ngân hàng thường ưu ái trong thẩm định cho vay đối với các DNNN. Như vậy, tác động của ngân sách mềm, mối quan hệ tam giác giữa Nhà nước – DNNN – NHTMNN đã làm cho NHTMNN hoạt động kém hiệu quả. Theo số liệu thống kê của Ủy ban giám sát tài chính quốc gia tại thời điểm đầu năm 2013, nợ xấu của DNNN (chưa tính Vinashin) chiếm 11,8% tổng nợ xấu của hệ thống tổ chức tín dụng và 5% dư nợ đối với DNNN. Với số liệu trên, nhóm chuyên gia ước tính nợ xấu của DNNN khoảng 24.950 tỷ đồng. Con số này chưa bao gồm nợ xấu của Vinashin tại các tổ chức tín dụng trong nước (ước tính khoảng 19.800 tỷ đồng năm 2010) và nợ đã được cơ cấu lại theo Quyết định 780 của Ngân hàng Nhà nước (ước chiếm khoảng 10% tổng dư nợ năm 2012). Theo tính toán này thì nợ xấu và nợ cơ cấu lại của khu vực DNNN năm 2012, bao gồm các khoản của Vinashin sẽ vào khoảng 44.750 tỷ đồng. Nếu như phần khu vực DNNN còn lại (không kể Vinashin) chiếm 15% số nợ đã được cơ cấu lại (ước khoảng 28.300 tỷ đồng) thì tổng số nợ xấu và nợ cơ cấu lại của khu vực DNNN sẽ khoảng hơn 73.000 tỷ đồng.

Thứ ba, khó khăn trong tách bạch được quyền sở hữu và quyền giám sát tại các NHTMNN. Tại các NHTMNN, cổ đông Nhà nước nắm quyền chi phối, điều này có nghĩa là NHNN vừa là người sở hữu các ngân hàng vừa là người thực thi chức năng giám sát. Thực tế đã cho thấy còn tồn tại rất nhiều trường hợp ngoại lệ trong việc tuân thủ chức năng giám sát. Chính tính ngoại lệ đó đã tạo nên mức độ rủi ro cao đối với các NHTMNN do sự thiếu kỷ luật trong hệ thống ngân hàng. Bên cạnh đó, mặc dù các NHTMNN đã bắt đầu tiến hành CPH nhưng sở hữu Nhà nước vẫn ở mức lớn, vì vậy, chức năng giám sát của thị trường chưa được cải thiện nhiều.

Việt Nam hiện sở hữu 5 NHTMNN là Agribank, Vietcombank, Vietinbank, BIDV. Trong số đó, Agribank đã được duyệt chuyển đổi mô hình thành công ty TNHH một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn. Theo nguyên tắc Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối thì 4 ngân hàng còn lại đã được thực hiện cổ phần hóa thành công và chính thức trở thành NHTMCP (Vietcombank (năm 2008), Vietinbank (năm


2009), MHB (2011) và BIDV (năm 2012); nâng cao năng lực tài chính, năng lực quản trị điều hành phù hợp với tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế, tạo điều kiện để các NHTM này phát triển nhanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, tiếp tục là nòng cốt trong cung cấp dịch vụ ngân hàng và nắm giữ thị phần lớn, chi phối. Tại các ngân hàng này, NHNN đều đã cử người đại diện vốn Nhà nước theo một hình thức khá giống nhau; đó là chia nhỏ phần vốn Nhà nước tại một NHTM mà Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối cho một vài người đại diện để tránh quyền lực tập trung vào một người và để họ có thể giám sát lẫn nhau.

Bảng 3.27: Ví dụ về người đại diện phần vốn Nhà nước do NHNN chỉ định


NHTM do Nhà nước sở hữu trên 50% VĐL

Tỷ lệ % Nhà nước sở hữu

Người đại diện phần vốn Nhà nước và tỷ lệ đại diện

1.Vietcombank

77,11%

+ Chủ tịch HĐQT Nghiêm Xuân Thành: 40%

+ Tổng giám đốc Phạm Quang Dũng: 30%

+ Ủy viên HĐQT kiêm nhiệm Phạm Huyền Anh: 30%

2.Vietinbank (sau khi ông Phạm Huy Hùng, nguyên Chủ tịch HĐQT, nghỉ hưu)

64,46%

+ Chủ tịch HĐQT Nguyễn Văn Thắng: 40%

+ Tổng giám đốc Lê Đức Thọ:30%

+ Thành viên HĐQT kiêm Phó vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế NHNN Cát Quang Dương: 30%

3.BIDV (trước khi ông Ngô Bá Lai, nguyên Thành viên HĐQT, nghỉ hưu)

95,76%

+ Quyền chủ tịch HĐQT Trần Anh Tuấn: 40%

+ Tổng giám đốc Phan Đức Tú: 30%

+ Thành viên HĐQT Đặng Xuân Sính: 30%

Có thể bạn quan tâm!

Xem toàn bộ 160 trang: Cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam - 12

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Một điểm đáng chú ý là một hay hai thành viên HĐQT của các NHTM này đều đồng thời nắm giữ các chức vụ quan trọng trong bộ máy NHNN. Đây là những gương mặt vừa đại diện cho cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực ngành ngân hàng vừa đại diện cho quyền lợi Nhà nước tại ngân hàng mình được cử làm nhiệm vụ. Ở thời điểm mà các thông tin, chỉ đạo của NHNN về chính sách tiền tệ, tỷ giá có ý nghĩa quyết định đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng thì sự có mặt của một ủy viên HĐQT đồng thời là lãnh đạo cấp vụ thuộc NHNN là rất có lợi cho ngân hàng. Thậm chí nhiều quyết định về chính sách tiền tệ được những người đại diện kiêm nhiệm, với tư cách là cán bộ lãnh đạo ở NHNN đề xuất lên Thống đốc để phê duyệt. Vì lẽ đó, NHNN và người đại diện của mình đã góp phần không nhỏ trong quá trình phát triển của các ngân hàng có vốn Nhà nước chiếm tỷ trọng lớn.

Tuy nhiên, sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng này và NHTM khác có thể bị nghi ngờ ở một góc độ nào đó do sự kiêm nhiệm. Hơn nữa, sự


hiện diện của người đại diện kiêm nhiệm cũng tạo ra sự khó thống nhất trong chính nội bộ các người đại diện và trong HĐQT ngân hàng bởi việc đưa ra quyết định của HĐQT ngân hàng hay thậm chí của người đại diện chuyên trách như Tổng giám đốc, nhiều khi vấp phải sự phản đối của đại diện kiêm nhiệm do họ nhìn các quyết định kinh doanh dưới góc độ “cơ quan quản lý ngân hàng”. Đã từng có trường hợp thành viên độc lập của HĐQT của một NHTMNN là người kiêm nhiệm nhiệm vụ quản lý Nhà nước tại các Vụ hoặc Cục của NHNN như Cơ quan Thanh tra giám sát, Vụ tín dụng, Vụ Chính sách tiền tệ, Sở giao dịch, Vụ Quản lý ngoại hối… Điều này đã ảnh hưởng tới sự phân tách tương đối giữa việc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước với thực hiện vai trò người đại diện vốn Chủ sở hữu Nhà nước tại NHTMCP mà Nhà nước nắm giữ trên 50% cổ phần, và sự tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào quá trình hoạt động kinh doanh của các ngân hàng này.

Thứ tư, quyền sở hữu vốn của Nhà nước 100% hoặc trên 50% tại một số NHTMNN nhưng khuôn khổ pháp lý chưa xây dựng được cơ chế quản trị thích hợp để tạo nên động lực mạnh mẽ, lâu dài cho tổ chức vận hành cũng như tạo nên hệ thống Kiểm soát và kiểm toán nội bộ mạnh. Việc xây dựng cơ chế cho quản trị NHTMCP sau CPH từ NHTMNN 100% vốn Nhà nước hầu như chưa có nội dung mới và chưa tạo được động lực, nhân tố thực sự để nâng cao chất lượng quản trị tại những ngân hàng này.

3.5.2.2. Đối với sở hữu tư nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Sở hữu tư nhân gia tăng cùng với sự lớn mạnh của các ngân hàng thương mại cổ phần đã đem đến một số tác động tích cực cho hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam như đã được phân tích ở trên. Tuy nhiên sở hữu tư nhân gắn liền với một số các hạn chế sau: (i) hiện tượng sở hữu chéo và (ii) chất lượng quản trị công ty chưa được chú ý đúng mức.

Trong thời gian qua, sở hữu chồng chéo trong khối các NHTMCP đã tạo ra chuỗi sở hữu phức tạp, khó kiểm soát, dẫn đến hoạt động của các ngân hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Các rủi ro này bao gồm:

Thứ nhất, sở hữu chéo khiến nguồn lực và khả năng chống đỡ rủi ro của ngân hàng không được đánh giá đúng mức. Sở hữu chéo đã cho phép nhiều ngân hàng với quy mô vốn điều lệ nhỏ lách được quy định của Nghị định 141/2006/NĐ-CP về mức vốn pháp định của các TCTD, theo đó vốn điều lệ thực góp của các ngân hàng phải đạt


1.000 tỷ đồng vào năm 2008 và 3.000 tỷ đồng vào năm 2010. Thông qua sở hữu chéo, cổ đông của ngân hàng A có thể vay tiền ngân hàng B thông qua một công ty đầu tư tài chính của mình để góp vốn vào ngân hàng A và ngược lại hoặc là ngân hàng A đầu tư vào ngân hàng B, ngân hàng B đầu tư vào ngân hàng C và ngân hàng C lại quay lại đầu tư vào ngân hàng A. Chính điều này đã tạo ra luồng vốn tưởng là góp thật vào hệ thống nhưng thực chất lại là vốn vay lẫn nhau giữa các ngân hàng.

Thứ hai, sở hữu chéo có thể làm gia tăng việc cho vay thiếu kiểm soát. Đối với các doanh nghiệp (hay ngân hàng) là cổ đông lớn của ngân hàng, sở hữu chéo cho phép một doanh nghiệp (hay ngân hàng) có tỷ lệ cổ phần lớn trong các NHTM có thể gây áp lực (một cách hợp pháp như qua bỏ phiếu trong hội đồng quản trị với vị thế cổ đông chiến lược) để ngân hàng này cấp vốn đầu tư vào những dự án không đủ tiêu chuẩn của doanh nghiệp hay ngân hàng của mình. Nói cách khác, khi một TCTD lớn chiếm cổ phần chi phối ngân hàng khác và biến ngân hàng này thành “sân sau” của mình, họ có thể buộc ngân hàng bị chi phối cấp tín dụng cho những dự án rủi ro hoặc cho doanh nghiệp có quan hệ thân thiết. Mặc dù theo quy định thì các ngân hàng không được cho các cổ đông của mình vay vốn, nhưng các ngân hàng có thể lách quy định này bằng cách cho các công ty con của các doanh nghiệp vay vốn.

Thứ ba, các quy định về giới hạn tín dụng, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro của NHNN có thể bị làm sai lệch tinh thần bởi sở hữu chéo. Khi khách hàng doanh nghiệp không trả được nợ cho ngân hàng, thay vì xếp khoản vay thành nợ xấu và trích dự phòng rủi ro theo quy định, ngân hàng A giấu nợ xấu của mình bằng cách không khai báo nợ xấu mà nhờ ngân hàng B (ngân hàng A có sở hữu) cho vay để đảo nợ. Đây cũng là một trong những lý do khiến NHNN khó nắm được chính xác số nợ xấu của toàn bộ hệ thống ngân hàng.

Thứ tư, sở hữu chéo, đầu tư chéo làm gia tăng nguy cơ rủi ro chéo giữa các khu vực thị trường ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm trên thị trường tài chính quốc gia. Chẳng hạn, việc các TCTD bơm vốn cho công ty con hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, bảo hiểm và ngược lại công ty con thực hiện các giao dịch phục vụ lợi ích của TCTD tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao và khả năng lan truyền rủi ro giữa các khu vực thị trường tài chính.

3.5.2.3. Đối với sở hữu nước ngoài tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Vai trò tích cực của sở hữu nước ngoài chưa được phát huy do giới hạn tỷ lệ sở hữu tại các NHTM Việt Nam. Theo nghiên cứu kinh nghiệm trên thế giới, sở hữu


nước ngoài sẽ phát huy được các tác động tích cực như chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản trị khi được đảm bảo hai yếu tố: thời gian hiện diện của cổ đông nước ngoài và quy mô của tỷ lệ sở hữu. Về thời gian hiện diện của các cổ đông nước ngoài ở các ngân hàng Viêt Nam có thể nói là chưa dài so với các nước khác trong khu vực. Trong khi đó, các nhà đầu tư nước ngoài bị giới hạn sở hữu cổ phần không được vượt quá 30% tổng số cổ phần của ngân hàng Việt Nam. Bằng chứng là, trong những năm vừa qua, nhiều ngân hàng trong nước vẫn không tìm được nhà đầu tư nước ngoài nào để bán cổ phần và việc tăng vốn của các ngân hàng cũng rất khó khăn.

Ngoài ra, nhà đầu tư nước ngoài mới không để ý đến ngân hàng nội vì những ông chủ ngân hàng trong nước vẫn cảm thấy e ngại với việc bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài với tỷ lệ cao mà chỉ muốn bán ở mức thấp vì họ lo ngại nhà đầu tư nước ngoài vào thì sẽ bị mất quyền làm chủ của mình. Tuy nhiên, các ngân hàng cần vốn nhưng không muốn bán tỷ lệ cao cho nhà đầu tư nước ngoài thì rất khó thu hút được nguồn lực và các ngân hàng chỉ có thể huy động nguồn lực trong nước. Nếu nguồn lực trong nước mà không có thì ngân hàng thương mại Việt Nam sẽ khó có thể tăng được vốn, điều này sẽ làm giảm năng lực cạnh tranh của ngân hàng và tụt hậu bởi xu hướng hiện nay là sáp nhập và lớn mạnh bằng cách tối đa hóa các nguồn lực có thể huy động. Chính vì vậy, Việt Nam nên tăng giới hạn sở hữu nước ngoài để mang lại khả năng kiểm soát vốn có hiệu quả. Ngoài ra, việc tăng mức sở hữu có thể là một bước tiến trong quản lý ngân hàng và sẽ giúp tăng cường hoạt động và sự hiện diện của ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.


KẾT LUẬN CHƯƠNG 3


Chương 3 của luận án cung cấp những nội dung về thực trạng cấu trúc sở hữu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam và mối quan hệ với hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại. Thực trạng về cấu trúc sở hữu được phân tích từ hệ thống quy định pháp lý về sở hữu trong hệ thống ngân hàng, các tỷ lệ về loại hình sở hữu nhà nước, tư nhân và nước ngoài và hiệu quả hoạt động của từng nhóm đối tượng. Cơ chế tác động của sở hữu đến hiêu quả hoạt động cũng được NCS cố gắng giải thích thông qua vai trò của hoạt động quản trị công ty. Tóm lại, những nội dung kết luận từ chương 3 góp phần hình thành nên những giả thuyết sẽ được kiểm tra trong chương 4 của luận án thông qua mô hình định lượng.


CHƯƠNG 4

MÔ HÌNH KIỂM ĐỊNH TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU TỚI HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM


4.1. CƠ SỞ DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT ĐỊNH LƯỢNG

4.1.1. Quy mô mẫu và nguồn số liệu

Mẫu được sử dụng trong nghiên cứu là dữ liệu bảng không cân (Unbalanced Panel Data) của 26 NHTM Việt Nam, giai đoạn từ 2008 – 2015, bao gồm 198 quan sát. Nghiên cứu phân tích 26 NHTM là vì: (1) sự sẵn có về mặt số liệu liên quan đến các biến sử dụng trong mô hình; (2) các ngân hàng được đưa vào mô hình là những ngân hàng có thể đại diện cho toàn bộ hệ thống về mặt tài sản, vốn chủ sở hữu, quy mô thị trường, lĩnh vực hoạt động, và tất nhiên, bao gồm cả vấn đề quản trị công ty.

Trong mẫu này, có 4 ngân hàng có cổ phần Nhà nước chi phối, bao gồm NHTMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), NHTMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV), NHTMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank) và NHTM Nông nghiệp và phát triển nông thôn (Agribank). Các ngân hàng còn lại, tỷ lệ sở hữu Nhà nước có xuất hiện tại môt số ngân hàng nhưng không chiếm tỷ lệ chi phối. Cách phân loại về tỷ lệ sở hữu này được thực hiện mô phỏng theo phương pháp của Berger và các cộng sự [42] đã thực hiện năm 2007 đối với hệ thống ngân hàng Trung Quốc. Theo đó, các ngân hàng có tỷ lệ sở hữu Nhà nước chi phối khi mà sở hữu Nhà nước (của cả cổ đông Nhà nước và DNNN nắm giữ) ở trên 50% tỷ lệ sở hữu của ngân hàng.

Có tất cả 44 quan sát của ngân hàng có tỷ lệ sở hữu Nhà nước chi phối (từ 50% trở lên) và 154 quan sát của NHTMCP tư nhân. Ngoài ra, nghiên cứu cũng đánh giá tác động của sở hữu nước ngoài cũng như mức độ tập trung sở hữu đến các NHTM. Mức độ tập trung sở hữu được xem xét dựa trên tổng cổ phần của nhóm 5 cổ đông lớn nhất trong ngân hàng, theo giả thuyết, mức độ tập trung vốn chủ sở hữu có ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các Ngân hàng Việt Nam (Nguyễn Hồng Sơn và cộng sự, 2013 [14]).

Trong nghiên cứu này, giai đoạn khảo sát kéo dài 8 năm từ năm 2008 đến 2015, bao gồm các thời điểm quan trọng trong thay đổi cấu trúc sở hữu của hệ thống NHTM Việt Nam như việc thực hiện cổ phần hóa các NHTM nhà nước, tái cấu trúc các


TCTD, mở cửa hệ thống ngân hàng Việt Nam với sự xuất hiện của sở hữu nước ngoài theo lộ trình hội nhập tài chính quốc tế. Việc này sẽ cho phép nghiên cứu đánh giá được ảnh hưởng của sự chuyển đổi mô hình kinh doanh, tác động của cấu trúc sở hữu, đặc biệt là sở hữu nước ngoài đến hệ thống tài chính nói chung, hệ thống ngân hàng nói riêng.

Sau khi mẫu khảo sát đã được lựa chọn, các dữ liệu cần thiết sẽ được thu thập từ nguồn cung cấp số liệu Bankscope. Đây là một nguồn cơ sở dữ liệu có uy tín trên thế giới, lưu trữ dữ liệu của hơn 10000 TCTD trên toàn cầu. Những dữ liệu ngân hàng thu thập được từ nguồn Bankscope bao gồm báo cáo kết quả kinh doanh, các chỉ tiêu trên bảng cân đối và các chỉ số tài chính. Tuy nhiên, một số thông tin đặc biệt là các thông tin về tỷ lệ sở hữu, quản trị công ty của các NHTM Việt Nam không được tổng hợp đủ trên Bankscope, vì vậy nghiên cứu sinh tìm kiếm những thông tin này dựa trên các Báo cáo thường niên và Báo cáo tài chính đã kiểm toán của các ngân hàng. Nguồn dữ liệu này sẽ bổ sung cho những thông tin còn thiếu từ nguồn Bankscope.

Ngoài ra, việc một số ngân hàng trong mẫu khảo sát sử dụng tiêu chuẩn kế toán Việt Nam (VAS) trong khi một số ngân hàng khác sử dụng phương thức báo cáo theo chuẩn kế toán thế giới (IAS) cũng sẽ không ảnh hưởng nhiều đến kết quả nghiên cứu do sự không thống nhất giữa hai tiêu chuẩn kế toán sẽ không dẫn đến sự sai khác về bản chất kết quả của các chỉ tiêu tài chính.

4.1.2. Các biến số và phương pháp định lượng

Nhằm cung cấp một cái nhìn khái quát về hiệu quả hoạt động của các ngân hàng dưới ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu, nghiên cứu sẽ sử dụng các chỉ số hiệu quả ROAA, ROAE, NPL của các ngân hàng làm biến phụ thuộc trong mô hình. Trong đó, cấu trúc sở hữu được xem xét dưới hai hình thức: mức độ tập trung sở hữu và thành phần sở hữu. Những kết quả thống kê mô tả của các biến khảo sát (được trình bày ở dưới) được tính toán và so sánh sẽ giúp chúng ta xác định được một cách cơ bản nhất mối quan hệ tác động này.

Trong phần phân tích định lượng, phương pháp phân tích dữ liệu bảng sẽ được sử dụng do nguồn dữ liệu khảo sát bao gồm cả số liệu theo thời gian và giữa các ngân hàng. Hiện nay có 3 cách tiếp cận dữ liệu bảng phổ biến là Pooled OLS, FEM và REM. Pooled OLS là cách tiếp cận dữ liệu bảng bằng cách xếp chồng tất cả các quan sát với nhau, bỏ qua bình diện không gian và thời gian và chỉ ước lượng bằng mô hình


OLS bình thường, do đó các hệ số hồi quy là và được giả định là như nhau cho tất cả các quan sát. Trong khi đó, FEM giúp phân tách ảnh hưởng của các đặc điểm riêng biệt ra khỏi các biến độc lập để ước lượng những ảnh hưởng thực của biến độc lập lên biến phụ thuộc. Điều này có nghĩa là khi xét đến các hiệu ứng của không gian và thời gian, các tung độ gốc sẽ thay đổi khác nhau đối với từng chi nhánh. Tuy nhiên, do chuỗi dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu có thời gian ngắn nên sử dụng cách tiếp cận này cũng khiến ước lượng của mô hình có thể bị chệch. Luận án không sử dụng REM vì cách tiếp cận này giả định rằng đặc điểm riêng giữa các chi nhánh được giả sử là ngẫu nhiên. Bên cạnh đó, mô hình REM có thể thiếu biến, nên có thể cho ra kết quả ước lượng không chính xác.

Trong trường hợp mô hình tối ưu nhất trong bộ ba Pooled OLS, FEM và REM vẫn có một số hạn chế như tự tương quan hay phương sai sai số thay đổi dẫn tới sự không ổn định, phương pháp phân tích dữ liệu mảng động Generalized Method of Moment (GMM) sẽ được vận dụng để kiểm nghiệm mối quan hệ trên. Ưu điểm lớn nhất của phương pháp GMM so với phương pháp ước lượng OLS thông thường, ước lượng tác động cố định FEM và ước lượng tác động ngẫu nhiên REM, đó là nó đã giải quyết được vấn đề về biến nội sinh bỏ sót biến và sai số đo lường trong quá trình hồi quy.

Dựa trên một số nghiên cứu đã được thực hiện về chủ đề nghiên cứu này trên phạm vi quốc tế trong đó đặc biệt là nghiên cứu của Lin và Zhang (2007) [72] trong việc lựa chọn biến khảo sát và Unite & Sullivan [92] trong việc xây dựng mô hình hồi quy, mô hình khảo sát của nghiên cứu sinh có dạng như sau:

Efficiency = β1 + β2*COit + β3*STATEit + β4*FORit + β5*CGIit+ β6*CARit+ β7*LGit+ β8*GDPit + β9*M2it + Ei (i = ngân hàng, t = năm)

Trong đó:

- Efficiency: Là nhóm gồm 3 biến phụ thuộc (ROA, ROE và NPL) đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng i tại năm t (%)

- CO: Mức độ tập trung sở hữu trong ngân hàng, thể hiện bằng tỷ lệ sở hữu của 5 cổ đông lớn nhất trong ngân hàng i tại năm t (%) (không phân biệt cổ đông trong nước hay nước ngoài)

- STATE: Tỷ lệ sở hữu nhà nước của ngân hàng i tại năm t (%)

- FOR: Tỷ lệ sở hữu nước ngoài của ngân hàng i tại năm t (%), bao gồm cả sở hữu cá nhân và tổ chức


- CGI: Chỉ số quản trị công ty của ngân hàng i tại năm t (%)

- CAR: Hệ số an toàn vốn hợp nhất của ngân hàng i tại ngày 31 tháng 12 năm t (%)

- LG: Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng của ngân hàng i tại năm t (%)

- GDP: Tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm (%)

- M2: Tỷ lệ tăng trưởng cung tiền hàng năm (%).

- Ei: Sai số

Mô hình nghiên cứu sẽ được sử dụng để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu sau:

Giả thuyết 1: Mức độ tập trung sở hữu có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam.

Giả thuyết 2: Sở hữu nhà nước có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam. Sở hữu nhà nước càng lớn, ngân hàng càng hoạt động kém hiệu quả.

Giả thuyết 3: Sở hữu nước ngoài có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam. Tỷ lệ sở hữu bởi nhà đầu tư nước ngoài càng lớn, ngân hàng càng hoạt động hiệu quả.

Giả thuyết 4: Quản trị công ty, thể hiện qua chỉ số quản trị công ty thu thập được, có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động. Chỉ số này càng lớn, ngân hàng càng quản trị tốt, và vì vậy, hiệu quả hoạt động càng cao.

Thứ nhất, các biến phụ thuộc. ROAA và ROAE là hai biến được sử dụng nhiều trong nghiên cứu để đánh giá khả năng sinh lời trong hoạt động của doanh nghiệp nói chung, ngân hàng nói riêng. Theo Rhoades (1998), ROAA thường phản ánh không chính xác tính sinh lời của ngân hàng do sự khuếch đại của nợ phải trả, do đó, ROAE được sử dụng kết hợp trong mô hình. Thêm vào đó, chỉ số ROAA có thể bị hạn chế khi mà TCTD có thu nhập ngoại bảng tương đối lớn nhưng không được ghi nhận tài sản, tuy nhiên vấn đề này có thể được khắc phục khi sử dụng bổ sung chỉ tiêu ROAE. Về cơ bản, ROAA, ROAE càng tăng thể hiện ngân hàng hoạt động càng hiệu quả.

ROAA và ROAE sử dụng trong nghiên cứu là số liệu hợp nhất được các NHTM công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng hàng năm.

Để phản ánh chất lượng tài sản của ngân hàng, tỷ lệ nợ xấu (NPL) đã được sử dụng trong mô hình hồi quy trên cơ sở đã có rất nhiều nghiên cứu tại các quốc gia chuyển đổi trên thế giới chỉ ra rằng, cấu trúc sở hữu của ngân hàng có ảnh hưởng đến nợ xấu. NPL được tính toán bằng việc lấy tổng dư nợ xấu chia cho tổng dư nợ.

Download pdf, tải về file docx

Bài viết tương tự

Gửi tin nhắn

Home | Contact | About | Terms | Privacy policy
© 2022 Tailieuthamkhao.com | all rights reserved

Trang chủ Tài liệu miễn phí Thư viện số