Cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam - 11


Ngân hàng

2008

2009

2010

2011

2012

2013

2014

2015

2016


ACB

Sở hữu nước ngoài

30

29.87

30

30

29.94

29.96

29.96

29.96

29.96

ROA

2.68

2.08

1.66

1.73

0.5

0.48

0.55

0.52

0.61

ROE

36.52

31.76

28.91

36.02

8.5

6.58

7.64

5.79

9.87


Techcombank

Sở hữu nước ngoài

15

24.86

24.86

24.86

19.48

19.41

19.41

19.41

19.41

ROA

2.28

0.18

1.86

1.83

0.42

0.4

0.63

0.86

1.5

ROE

25.87

23.21

24.80

28.87

5.58

4.47

7.4

9.73

17.7


VIB

Sở hữu nước ngoài

15

15

15

20

20

20

20

20

20

ROA

0.46

0.81

1.05

0.67

0.8

0.12

0.64

0.79

0.59

ROE

7.55

15.6

16.58

8.66

6.21

12.2

13.03

7.66

1.21


Eximbank

Sở hữu nước ngoài

25

30

30

30

28.6

27.16

25.5

26.21

15

ROA

1.74

1.99

1.85

1.93

1.2

0.37

0.84

0.03

0.23

ROE

7.43

8.65

13.51

20.39

13.32

5.01

7.42

0.3

2.2

Có thể bạn quan tâm!

Xem toàn bộ 160 trang: Cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam - 11

Nguồn: Báo cáo tài chính, báo cáo thường niên các ngân hàng

Bảng trên cho thấy, một số ngân hàng có tỷ lệ sở hữu nước ngoài thay đổi qua các năm, kéo theo các chỉ số sinh lời cũng thay đổi theo chiều hướng tương ứng và sau khi đạt được sự ổn định sau khi thay đổi tỷ lệ sở hữu này, các chỉ số sinh lời lại tăng lên. Chỉ số an toàn vốn cũng cũng có cùng quy luật biến động này. Điều này phần nào phản ánh ảnh hưởng tích cực của sở hữu nước ngoài đến hoạt động của các NHTM tại Việt Nam.

3.3.3.4. Mức độ rủi ro tài chính

a. Hệ số an toàn vốn tối thiểu

Bảng 3.25 tổng hợp hệ số CAR của một số NHTM từ 2008-Q3/2016, các ngân hàng có hệ số CAR biến động nhưng đều đạt trên 8% theo yêu cầu của NHNN. Trong số các ngân hàng phân tích thì Techcombank là ngân hàng có hệ số CAR ít biến động nhất và duy trì ở mức >11%, thể hiện sự ổn định trong độ an toàn vốn của ngân hàng, dù rằng cách tính CAR của Việt Nam còn nhiều khác biệt so với khuyến nghị của Ủy ban Basel. Đặc biệt, Eximbank là ngân hàng có hệ số CAR rất cao năm 2008, 2009 (45,89% và 26,87%) trong khi năm 2007 chỉ xấp xỉ khoảng 8%. Một sự thay đổi lớn ngay sau khi có sự tham gia của nhà đầu tư chiến lược nước ngoài năm 2007.

Tính chung các nhóm ngân hàng thì đến hết 2016, CAR của hệ thống các tổ chức tín dụng ở mức 12.84%. Trong đó, CAR của nhóm các NHTMNN ở mức 9,92%, thấp hơn CAR của nhóm các NHTMCP là 11.80% và thấp hơn nhiều so với CAR của nhóm ngân hàng liên doanh, nước ngoài là 33.20%, theo số liệu của NHNN.


Bảng 3.25: Hệ số CAR và nợ xấu của NHTM có sở hữu nước ngoài


Ngân hàng

2008

2009

2010

2011

2012

2013

2014

2015

2016


Vietcombank

Sở hữu nước ngoài

2.04

2.04

2.93

18.64

19.44

19.67

20.84

20.91

15

CAR (%)

8.9

8.11

9

11.14

14.63

13.13

11.61

11.04

10.29

NPL (%)

4.61

2.47

2.82

2.03

2.40

2.73

2.31

1.84

1.48


Vietinbank

Sở hữu nước ngoài

0

0.42

1.39

12.5

12.05

28.61

28.74

29.53

27.73

CAR (%)

21.02

8.06

8.02

10.57

10.33

13.17

10.40

10.58

10.58

NPL (%)

1.58

0.61

0.66

0.75

1.35

0.82

0.90

0.73

1.02


ACB

Sở hữu nước ngoài

30

29.87

30

30

29.94

29.96

29.96

29.96

29.96

CAR (%)

18.25

12.53

14.06

9.24

13.5

14.66

14.1

12.8

13.19

NPL (%)

0.89

0.41

0.35

1.57

2.46

3.00

2.17

1.32

0.88


Techcombank

Sở hữu nước ngoài

15

24.86

24.86

24.86

19.48

19.41

19.41

19.41

19.41

CAR (%)

14.30

13.99

13.11

11.43

12.60

14.03

15.65

14.74

11.78

NPL (%)

2.32

2.49

2.29

2.82

2.69

3.65

2.38

1.67

1.81


VIB

Sở hữu nước ngoài

15

15

15

20

20

20

20

20

20

CAR (%)

8.79

8.67

10.06

11.9

19.43

12.5

11.4

18.04

14.46

NPL (%)

1.84

1.28

1.59

2.69

2.75

2.82

2.51

2.07

2.57


Eximbank

Sở hữu nước ngoài

25

30

30

30

28.6

27.16

25.5

26.21

15

CAR (%)

45.89

26.87

17.79

12.94

16.38

14.47

15

16.52

17.12

NPL (%)

4.71

1.82

1.42

1.61

1.32

1.98

2.46

1.85

2.95

Nguồn: Báo cáo tài chính, báo cáo thường niên các ngân hàng

b. Tỷ lệ nợ xấu

Hầu hết các ngân hàng đều có tỷ lệ nợ xấu dưới 3% theo ngưỡng quy định của NHNN về xử lí nợ xấu thông quá VAMC. Trong số các ngân hàng được phân tích, Eximbank có nợ xấu >3% năm 2008 (4,71%), tăng cao so với chỉ 0,9% năm 2007 hay Vietcombank năm 2008 (4,61%). Tuy nhiên trong thời gian gần đây thì tỷ lệ nợ xấu vào nợ quá hạn của các ngân hàng này đều đã giảm mạnh, được duy trì ở mức thấp. Điều này có thể bắt nguồn từ hiệu ứng tích cực của sở hữu nước ngoài trong việc quản lý rủi ro tín dụng tại các ngân hàng này.

Về cơ bản, những tác động của sở hữu nước ngoài đến hoạt động của các NHTM là có nhưng chưa thực sự rõ nét, một phần vì tỷ lệ sở hữu còn thấp do giới hạn sở hữu, một phần vì thời gian tham gia của các nhà đầu tư còn ngắn nên chưa tạo ra những sự thay đổi mang tính lâu dài. Và một nguyên nhân khác, là do bối cảnh thị trường những năm gần đây của hệ thống ngân hàng với những bất cập cần xử lí và quá trình tái cấu trúc vẫn đang trong quá trình thực hiện. Những đánh giá này sẽ được kiểm


định chi tiết thông qua việc đo lường tác động của sở hữu nước ngoài tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong chương số 4 của luận án.

3.4. CƠ CHẾ TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ CÔNG TY

Trong phần này của nghiên cứu sẽ so sánh bốn yếu tố cơ bản liên quan đến quản trị công ty: (1) Cổ đông, Đại HĐCĐ thường niên; (2) HĐQT; (3) Ban kiểm soát và (4) Công bố thông tin, minh bạch và kiểm toán tại một NHTMNN sau khi được CPH và một NHTMCP để thấy được cơ chế tác động của cấu trúc sở hữu đến phương thức quản trị công ty và cuối cùng là tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Để đảm bảo tính bảo mật cho ngân hàng thì tên hai ngân hàng sử dụng trong phân tích sẽ không được đưa ra trong nghiên cứu.

Các căn cứ để phân tích được dựa trên bảng tính chỉ số quản trị công ty (CGI) của các ngân hàng gồm 35 câu hỏi được trình bày cụ thể trong phần phụ lục 1. Bảng tính điểm này được thực hiện dựa trên số liệu thứ cấp thu thập được từ báo cáo thường niên, báo cáo tài chính, báo cáo tình hình quản trị công ty của các ngân hàng thương mại cũng như kết quả của việc phỏng vấn trực tiếp một số cán bộ lãnh đạo ngân hàng thương mại và cán bộ quản lý của Cơ quan thanh tra giám sát Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Có 26 ngân hàng được khảo sát để tính điểm quản trị công ty trong thời gian 8 năm từ 2008 đến 2015. Kết quả của việc tính toán CGI cũng được dùng như là một biến giải thích trong mô hình hồi quy đánh giá tác động tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng tại chương 4 của luận án.

Phương pháp tính chỉ số quản trị công ty CGI

Luận án đề xuất phương pháp xây dựng bộ chỉ số quản trị công ty trong NHTM tại Việt Nam, dựa theo nghiên cứu của Trần Thị Thanh Tú và các cộng sự được trình bày chi tiết trong phần Phụ lục. Các bước để thực hiện tính toán chỉ số quản trị công ty (CGI) được thực hiện như sau:

Thứ nhất, các quy định, chuẩn mực được tham khảo để xây dựng bảng hỏi là Luật các TCTD, Luật Chứng khoán, Luật Đầu tư, Các nguyên tắc quản trị công ty của OECD, các nguyên tắc tăng cường quản trị công ty trong ngành ngân hàng của Ủy ban Basel,…

Thứ hai, các cấu phần của của bộ chỉ số bao gồm: (i) Cổ đông và đại hội đồng cổ đông thường niên; (ii) HĐQT; (iii) Ban kiểm soát; (iv) Công bố thông tin, minh


bạch và kiểm toán (kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập).

Thứ ba, thu thập thông tin để trả lời bộ câu hỏi: dựa theo các thông tin được công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng. Phương pháp này giúp mẫu kết quả thu được là ngẫu nhiên, tỷ lệ thu thập cao thay vì gửi bản câu hỏi đến các NHTM chờ phản hồi. Đồng thời, tính chính xác cũng sẽ cao hơn. Tuy nhiên, việc này cũng sẽ khiến việc nghiên cứu trở nên vất vả hơn rất nhiều.

Thứ tư, cho điểm từng câu hỏi. Bảng câu hỏi sử dụng hai dạng câu hỏi: Đúng/ Sai và câu hỏi nhiều phương án lựa chọn. Việc này cho phép tận dụng được ưu điểm của cả hai dạng câu hỏi. Việc cho điểm cũng sẽ dựa trên quan điểm: càng thể hiện công tác quản trị tốt, điểm càng cao.

Thứ năm, cách tính toán bộ chỉ số. Sau khi các câu trả lời đã được cho những điểm tương ứng, điểm của tất cả các câu trả lời sẽ được cộng lại để thu được tổng điểm cho bộ chỉ số. Sở dĩ cộng tổng điểm mà không tính bình quân gia quyền có trọng số là vì bản thân điểm tối đa của mỗi câu hỏi khảo sát trong bộ câu hỏi đã xem xét đến mức độ quan trọng, tầm ảnh hưởng của chúng đến chất lượng quản trị công ty trong các NHTM. Điểm tối đa cho bộ câu hỏi là 70 điểm.


Trong phần 3.3 của chương 3, những phân tích đã cho thấy hiệu quả hoạt động của các NHTM có sở hữu nhà nước chi phối thường thấp hơn các NHTM cổ phần. Cơ sở lý thuyết lý giải cho điều này đã được trình bày trong chương 2 của luận án, đó là bới vì cấu trúc sở hữu quyết định việc quản trị công ty. Và tới lượt mình quản trị công ty lại quyết định hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Trên tinh thần đó, NCS đã tính toán ra chỉ số quản trị công ty để xác định chất lượng quản trị công ty tại hai ngân hàng bao gồm 1 ngân hàng thương mại cổ phần và một ngân hàng thương mại nhà nước. Theo những số liệu tính toán ở bảng về điểm số quản trị công ty cho thấy NHTMCP có điểm trung bình cao hơn so với NHTMNN (54.75 so với 50.875). Trong đó, điểm số quản trị công ty của NHTMCP vượt trội hơn đáng kể trong các nội dung về Cổ đông và đại hội cổ đông thường niên, công bố và minh bạch thông tin và hội đồng quản trị. Phần tiếp theo sẽ phân tích cụ thể hoạt động quản trị công ty trong hai ngân hàng để thấy rõ hơn các sự chênh lệch này.


Bảng 3.26: Kết quả điểm quản trị công ty của NHTMNN và NHTMCP


Cấu phần

Câu hỏi

NHTMNN

Điểm NHTMNN

NHTMCP

Điểm NHTMCP

Cổ đông, Đại hội đồng cổ đông thường niên

Câu 1

0.25


12.125

1


15.875

Câu 2

0

0

Câu 3

6

5.875

Câu 4

1

1

Câu 5

1

1

Câu 6

1

1

Câu 7

0.5

1

Câu 8

1.375

3

Câu 9

0.5

1

Câu 10

0.5

1

Hội đồng quản trị

Câu 11

0


19.875

0


20

Câu 12

2

2

Câu 13

0

0

Câu 14

3

3

Câu 15

1

1

Câu 16

1

1

Câu 17

1

1

Câu 18

3

2

Câu 19

2

3

Câu 20

2

2

Câu 21

0.5

1

Câu 22

4.375

4

Ban kiểm soát

Câu 23

1


6.375

1


5.75

Câu 24

1

1

Câu 25

1

1

Câu 26

0.5

0

Câu 27

1

1

Câu 28

1

1

Câu 29

0.875

0.75

Công bố thông tin, minh bạch và kiểm toán

Câu 30

1


12.5

1


13.125

Câu 31

6

6

Câu 32

1

1

Câu 33

0.5

0.375

Câu 34

2

2.75

Câu 35

2

2

Tổng

50.875


54.75

Nguồn: Tính toán của tác giả

3.4.1. Ngân hàng thương mại Nhà nước sau khi cổ phần hóa

Giới thiệu chung về ngân hàng thương mại Nhà nước

NHTMNN này được thành lập vào cuối những năm 1950 và là một trong bảy NHTMNN hiện nay. Đây cũng là một trong những ngân hàng có quy mô vốn lớn nhất,


với khoảng 1000 chi nhánh và các phòng giao dịch trên cả nước. NHTMNN này được CPH trong giai đoạn 2011-2014. Theo báo cáo thường niên năm gần nhất, Nhà nước là cổ đông chính nắm giữ 90% vốn tự có của ngân hàng. Cơ cấu tổ chức của ngân hàng gồm 1 HĐQT, 1 Giám đốc điều hành (CEO) và 1 Ban Kiểm soát.

Cổ đông, Đại hội đồng cổ đông thường niên

Trước thời điểm cổ phần hóa năm 2011, ngân hàng có 100% vốn nhà nước..Ngân hàng chưa có kế hoạch niêm yết tại nước ngoài, một phần do mới thực hiện xong việc niêm yết tại thị trường trong nước và một phần do chưa có cổ đông chiến lược nước ngoài và mới chỉ có cổ đông cá nhân nước ngoài.

Với tư cách là một NHTM lớn, ngân hàng có một quy chế đầy đủ, rõ ràng về:

(i) Trình tự, thủ tục triệu tập, biểu quyết ĐHĐCĐ; (ii) Trình tự, thủ tục đề cử, ứng cử, miễn nhiệm thành viên HĐQT; (iii) Trình tự, thủ tục tổ chức họp HĐQT; (iv) Trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ quản lý cao cấp; (v) Quy trình phối hợp hoạt động giữa các cơ quan quản trị và (vi) Quy trình về đánh giá hoạt động khen thưởng, kỷ luật đối với các cơ quan quản trị. Bên cạnh đó, ngân hàng có quy trình tương đối chuẩn mực về các vấn đề liên quan đến ĐHĐCĐ, chẳng hạn như điều lệ ngân hàng, triệu tập ĐHĐCĐ thường niên, công bố thông tin cho các cổ đông,… Tuy nhiên, những vấn đề liên quan đến thủ tục đại hội cổ đông của NHTM nhà nước có điểm số thấp hơn là do ngân hàng này mơi cổ phần hóa và niêm yết, nên các thủ tục này còn có thể ít kinh nghiệm hơn so sánh với NHTMCP.

Hội đồng quản trị

Trước cổ phần hóa, ngân hàng không có thành viên độc lập trong HĐQT. Sau cổ phần hóa, tỷ lệ này còn chưa cao, chỉ ở mức 10%, ít hơn so với yêu cầu tối thiểu của NHNN (1/3). Trong đó, chủ tịch HĐQT là thành viên không độc lập. Những phân tích trên chỉ ra rằng khả năng tạo những quyết định kinh doanh độc lập của HĐQT là yếu và nhìn chung sự độc lập của HĐQT là rất yếu. Đây là một đăc điểm điển hình của doanh nghiệp sở hữu Nhà nước. Khi ngân hàng trở thành 1 NHTMCP, sự thiếu độc lập của HĐQT hiển nhiên là kết quả của câu trúc sở hữu Nhà nước và cần rất nhiều năm để thay đổi. Tuy nhiên, ngân hàng có công bố rõ ràng trình độ, quy trình/khóa đào tạo và kinh nghiệm của thành viên HĐQT trên cả các phương tiện thông tin đại chúng và tại đại HĐCĐ để các cổ đông nắm được.


Một khía cạnh trong nguyên tắc của HĐQT là lựa chọn, trả lương, giám sát và thay thế các nhà quản trị chủ chốt, giám sát việc lên kế hoạch thành công khi cần thiết, trong đó, HĐQT chịu trách nhiệm đề cử, thay thế và đưa ra mức lương cho CEO, phó CEO và các kế toán trưởng. Thực tế này tuân theo quy tắc quốc tế nhưng lại khác với những quy định của NHNN, vốn yêu cầu hội đồng cổ đông sẽ thông qua kế hoạch lương cho CEO. Tuy nhiên, ngân hàng chỉ thực hiện công bố tổng mức thù lao của cấp lãnh đạo mà không có thông tin của từng vị trí. Hơn nữa, chính sách cán bộ kế cận của ngân hàng còn chưa hiệu quả. Điều này được thể hiện ở việc chủ tịch HĐQT của ngân hàng hết nhiệm kì theo đúng kế hoạch nhưng lại không có người thay thế thích hợp vào thời điểm hết nhiệm kì. Các thành viên, độc lập và không độc lập trong HĐQT hầu hết đều trên 50 tuổi, hầu hết đều là những quản lý lâu năm của ngân hàng và đã quen với phong cách quản lý Nhà nước thụ động và không hiệu quả. Điều này dẫn đến những thay đổi lớn gần như không xảy ra trong tương lai là có thể thấy trước.

Dưới cấu trúc quản trị hiện tại, HĐQT cũng chịu trách nhiệm lựa chọn, hoàn thành các hợp đồng và đưa ra mức lương thưởng cho các nhà quản lý và phó Giám đốc của các ban ở trụ sở chính. Tuy nhiên, quy chuẩn Basel đề nghị rằng các Giám đốc điều hành (CEO) nên giám sát và quản lý công việc của những nhà quản lý này. Hay nói cách khác là các nhà quản lý Phòng, Ban nên do CEO đề cử. Tuy nhiên, bởi vì các CEO không thể tự họ lựa chọn người hỗ trợ mình nên sẽ không công bằng cho các CEO khi phải chịu trách nhiệm về bất cứ lỗi lầm nào trong kinh doanh nếu những lỗi đó là do các nhà quản lý của Phòng, Ban gây nên. Hậu quả là trách nhiệm giải trình của các CEO không được xác định rõ ràng dưới cấu trúc quản trị hiện tại.

HĐQT được bổ nhiệm bởi đại hội cổ đông theo một quy trình cụ thể. Trong đó, cổ đông lớn nhất của ngân hàng là Nhà nước, nắm giữ trên 90% cổ phần phổ thông và có quyền quyết định việc bổ nhiệm này.

Quản trị rủi ro là nhân tố chủ chốt đối với việc quản trị doanh nghiệp tốt. Trong khi quy định của NHNN yêu cầu ít nhất ngân hàng phải có 2 Ban, đó là Ban quản lý rủi ro và Ban nhân sự, thì ngân hàng có 5 Ủy ban, bao gồm: Chiến lược và tổ chức, Quản lí rủi ro, Nhân sự, Công nghệ thông tin và Ủy ban khác. HĐQT sẽ phê duyệt các chính sách quản lý rủi ro và giám sát việc thực thi các phương pháp tối thiểu hóa rủi ro. Ngân hàng cũng có các Ban giải quyết các rủi ro riêng biệt, đó là ban quản lý rủi ro tín dụng, Ban quản lí tín dụng, Ban quản lí rủi ro thị trường và tác nghiệp, Trung tâm


xử lí nợ. Đây được xem là một cơ cấu tương đối chuẩn mực mà ngân hàng đã làm được. Tuy nhiên, trạng thái thanh khoản, mức rủi ro hoạt động và thị trường vẫn khó có thể đo lường chính xác vì ngân hàng thiếu các công cụ và các chuyên gia trong việc quản lý rủi ro ở một môi trường phức tạp. Mô hình đo lường rủi ro tài chính, ví dụ như giá trị chịu rủi ro, khả năng bị vỡ nợ hay báo cáo sai lệch kỳ hạn thanh toán thường không đầy đủ. Những hạn chế này có thể ảnh hưởng tiêu cực lên cách mà HĐQT chỉ đạo quản lý rủi ro.

Ban kiểm soát

Ngân hàng có Ban kiểm soát trực thuộc Đại HĐCĐ, Ban kiểm tra và giám sát trực thuộc HĐQT. Tuy nhiên, nhiệm vụ của những thực thể này là không rõ ràng trên quan điểm của điều lệ ngân hàng. Ban Kiểm soát được bổ nhiệm bởi HĐCĐ và thuộc vào HĐCĐ. Nhiệm vụ của ban là giám sát công tác quản lý và quản trị của ngân hàng một cách độc lập và chịu trách nhiệm với các cổ đông. Nhiệm vụ của Ban Kiểm soát bao gồm: (1) điều khiển và giám sát việc tuân thủ của HĐQT và CEO; (2) thông báo cho HĐQT khi phát hiện 1 Giám đốc nào đó vi phạm luật lệ và yêu cầu có những hành động đúng đắn; (3) quản lý và giám sát hệ thống kiểm toán nội bộ. Kết quả là, Ban Kiểm soát, với nhiệm vụ cơ bản là giám sát HĐQT, bây giờ cũng chịu trách nhiệm về một số chức năng điều hành nội bộ.

Trong khi Ban Kiểm soát chỉ đạo và quản lý hệ thống kiểm toán nội bộ, HĐQT có nghĩa vụ quyết định cấu trúc của hệ thống kiểm toán nội bộ, đề cử và thay thế các nhân viên chủ chốt, đưa ra mức lương thưởng và chính sách kiểm toán nội bộ và điều hành của ngân hàng. Với sự sắp xếp này, vai trò của Ban Kiểm soát là không rõ ràng.

Thêm vào đó, Ban Kiểm soát có thể sẽ ít độc lập vì Trưởng Ban Kiểm soát thường đã từng là 1 Giám đốc chi nhánh, vốn là cấp dưới của CEO đương nhiệm. Các thông tin về số cuộc họp của ban kiểm soát, mức thù lao thường không được công bố rõ ràng. Ưu điểm của BKS của NHTMNN này trong so sánh với NHTMCP đó là BKS có công bố số buổi hợp thường niên và ngân hàng có hoạt động đào tạo cho BKS.

Công bố thông tin, minh bạch và kiểm toán

Các báo cáo tài chính của ngân hàng được công bố trên website của ngân hàng theo quy định của NHNN cũng như các cơ quan chức năng, được cập nhật bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh theo chuẩn mực kế toán Việt Nam. CEO chịu trách nhiệm chuẩn bị các báo cáo tài chính hàng năm, báo cáo tài chính hợp nhất, báo cáo quản trị


và quản lý. HĐQT giám sát quá trình chuẩn bị các báo cáo và duyệt báo cáo tài chính và các báo cáo hàng năm của ngân hàng. HĐQT cũng chuẩn bị báo cáo tài chính và hoạt động của ngân hàng và báo cáo đánh giá quản trị. Ban Kiểm soát chịu trách nhiệm đánh giá những báo cáo này để công bố vào các buổi họp hội đồng cổ đông thường niên. Việc sắp xếp các báo cáo tài chính là không rõ ràng và rất khó để mô tả trách nhiệm của CEO, HĐQT và Ban Kiểm soát. Các báo cáo tài chính của ngân hàng được kiểm toán bởi một trong bốn Big4 của ngành kiểm toán. Điểm yếu kém của NHTMNN trong so sánh đối với NHTMCP trong việc công bố và minh bạch thông tin là nằm ở hình thức quan hệ với cổ đông.

3.4.2. Ngân hàng thương mại cổ phần

Giới thiệu chung về ngân hàng thương mại cổ phần

Ngân hàng nghiên cứu là một trong những NHTMCP đầu tiên ở Việt Nam được thành lập vào đầu những năm 1990, khi nền kinh tế chuyển sang giai đoạn phát triển theo kinh tế thị trường. Ngân hàng này đứng trong top 10 ngân hàng lớn nhất Việt Nam về quy mô vốn và có hơn 300 chi nhánh, phòng giao dịch trên cả nước. NHTMCP này có nhiều cổ đông lớn và một cổ đông tổ chức là một ngân hàng quốc tế. Ngân hàng có HĐQT, Ban điều hành được dẫn dắt bởi một Giám đốc điều hành và Ban Kiểm soát. Ban Kiểm soát không trực thuộc Ban Giám đốc mà trực thuộc hội đồng cổ đông.

Cổ đông, Đại hội đồng cổ đông thường niên

Là một trong những NHTM có cổ đông là nhà đầu tư chiến lược nước ngoài từ rất sớm, hiện nay, tỷ lệ này là khoảng gần 20%. Tuy nhiên, ngân hàng chưa có kế hoạch niêm yết cổ phiếu trên thị trường quốc tế vì một số lí do khách quan và chủ quan. Quy chế hoạt động của đại hội đồng cổ đông, quy chế quản trị ngân hàng được quy định đầy đủ, rõ ràng và công bố cho đại HĐCĐ biết trong các phiên họp ĐHĐCĐ. Đây là điểm mạnh của NHTMCP khi so sánh với NHTMNN.

Hội đồng quản trị

Tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập trong ban quản trị của ngân hàng là thấp, dưới 15% trong khi quy định của NHNN là 1/3, trong đó, chủ tịch HĐQT là thành viên điều hành. Các thông tin về trình độ, kinh nghiệm của các thành viên HĐQT được công bố trong báo cáo thường niên của ngân hàng, trên website của ngân hàng và trong cuộc họp đại HĐCĐ thường niên.


Tuy nhiên, trong khi có những quy định về thủ tục triệu tập và thực hiện các cuộc họp, thì những cuộc họp thường xuyên lại không được đề cập trong điều lệ hoặc hướng dẫn về hoạt động của HĐQT. Theo quan điểm pháp lý, điều này cho thấy rằng HĐQT có thể bị giới hạn trong việc tiếp cận thông tin. Ngân hàng cũng có một hệ thống thông tin quản lý tại chỗ. Tuy nhiên, hệ thống cần phải được cải thiện để cung cấp cho HĐQT với nhiều thông tin, bao gồm cả lợi nhuận phân theo loại khách hàng, các sản phẩm và nhân viên để cải thiện quy trình ra quyết định.

Một trong những nguyên tắc của HĐQT là gắn kết việc điều hành và thù lao của HĐQT với lợi ích dài hạn của công ty và các cổ đông. Ngân hàng thường chỉ công bố mức thù lao và kế hoạch thù lao chung của HĐQT mà không công bố cụ thể cho từng vị trí. Các tiêu chuẩn đối với việc quản lý thù lao cũng rất khó khảo sát. Tuy nhiên, gần đây ngân hàng đã tăng cường sự đề cử và chính sách đãi ngộ, để thu hút những nhân viên chất lượng cao ở lại. Khi ngân hàng phải gánh chịu tổn thất, đãi ngộ cho HĐQT và Giám đốc điều hành không thể tăng lên và cũng không có tiền thưởng. Biện pháp này giúp gắn kết tiền lương và lợi ích của HĐQT với lợi ích dài hạn của ngân hàng và các cổ đông. Ngân hàng cũng có Ủy ban nhân sự và lương thưởng, giúp HĐQT trong quyết định mức đãi ngộ.

Trong bản hướng dẫn về cơ cấu tổ chức và hoạt động của HĐQT, tiêu chí và điều kiện để đề cử vị trí Ủy viên được quy định rõ ràng. Các tiêu chuẩn và các yêu cầu khác cho các Ủy viên là thống nhất và phù hợp với quy định của NHNN.

Một trong những nhiệm vụ của HĐQT là chịu trách nhiệm về việc phê duyệt chiến lược, ngân sách hàng năm, cũng như kế hoạch kinh doanh. Kế hoạch kinh doanh của ngân hàng phải rõ ràng và toàn diện, bao gồm các vấn đề tài chính và nhiều khía cạnh hoạt động khác. Chúng bao gồm các kế hoạch phát triển mạng lưới, chính sách, sản phẩm, khách hàng mục tiêu, nguồn nhân lực, công nghệ thông tin, chất lượng dịch vụ và quan hệ công chúng của ngân hàng. HĐQT được yêu cầu để giám sát việc thực hiện những kế hoạch đã được phê duyệt và đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng. HĐQT cũng có trách nhiệm phê duyệt chính sách quản trị rủi ro và giám sát việc thực hiện các hoạt động. Sau đó, báo cáo các hoạt động này, cũng như kết quả phối hợp công tác của HĐQT, BKS, BGĐ và cổ đông tại đại hội đồng cổ đông thường niên.


Ban kiểm soát

Ngân hàng có ba lớp từ trên xuống dưới để theo dõi và giám sát hoạt động, gồm Ban Kiểm soát, Ủy ban kiểm toán và rủi ro và kiểm toán nội bộ:

- Ban Kiểm soát được bổ nhiệm bởi cổ đông, có trách nhiệm thay mặt cho các cổ đông giám sát các hoạt động của HĐQT. Trong khi các tiêu chuẩn cho các thành viên Ban Kiểm soát được thiết lập rõ ràng và có những tiêu chí về tính độc lập, thì hướng dẫn về hoạt động của Ban Kiểm soát lại không được thiết lập một số lượng tối thiểu về các thành viên độc lập. Trong thực tế, người đứng đầu của Ban Kiểm soát thường không độc lập, khi ông đã là kế toán hoặc Giám đốc chi nhánh của các NHTMCP trong nhiều năm. Ngoài ra, trình độ chuyên môn và kinh nghiệm của Ban Kiểm soát không mạnh như của Ban Giám đốc. Tất cả những nhân tố này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sự độc lập của Ban Kiểm soát.

- Ủy ban kiểm toán và rủi ro hỗ trợ HĐQT trong việc đảm bảo tính liêm chính của kế toán và hệ thống báo cáo. Ủy ban cũng tư vấn cho HĐQT và giúp HĐQT nâng cao khả năng giám sát rủi ro.

- Hệ thống kiểm soát và kiểm toán nội bộ dưới sự quản lý của Giám đốc điều hành, người giám sát hoạt động của các phòng ban và các chi nhánh. Tuy nhiên, HĐQT chịu trách nhiệm về việc ban hành hướng dẫn về cấu trúc và hoạt động của hệ thống kiểm toán nội bộ. Nó cũng có nhiệm vụ đề cử, thay thế và thiết lập mức thù lao cho kiểm toán nội bộ và nhân viên kiểm soát. Điều này có thể cải thiện sự độc lập và hiệu quả của kiểm toán nội bộ và các chức năng kiểm soát.

- Ba lớp kiểm soát và giám sát giúp tăng cường sự kiểm soát hiệu quả. Tuy nhiên, ngân hàng cần được đảm bảo rằng chế độ báo cáo của các đơn vị được xác định rõ ràng, vì nếu không thì sự chồng chéo có thể cản trở hoạt động của ngân hàng.

Quản trị rủi ro đã được cải thiện và hướng đến tiêu chuẩn quốc tế từ năm 2008:

- Trong năm 2008, một mô-đun quản trị rủi ro đã được thành lập, điều này giúp kiểm soát và đo lường tỷ lệ an toàn vốn theo nguyên tắc Basel 2. Quản trị rủi ro tín dụng đã được cải thiện thông qua việc đưa vào một hệ thống đánh giá nội bộ và phê duyệt cho vay tập trung. Những cải tiến trong quản lý rủi ro đã tạo điều kiện cho việc thiết kế các sản phẩm mới dựa trên quản lý rủi ro khách hàng.


- Cổ đông tổ chức nước ngoài, với chuyên môn và kinh nghiệm quốc tế của mình, đã hỗ trợ công nghệ, đào tạo, quản trị, quản lý rủi ro và phát triển sản phẩm. Kết quả là đã có một sự tiến độ đáng kể trong quản lý rủi ro tại ngân hàng.

- Các rủi ro khác cũng được quản lý trong ngân hàng, chẳng hạn như rủi ro chính sách và rủi ro hoạt động.

Tuy nhiên, bởi vì tồn tại mối quan hệ chặt chẽ giữa HĐQT và Trưởng Ban Kiểm soát, rất có thể HĐQT có thể không phải lúc nào cũng đảm bảo được tính liêm chính của các báo cáo tài chính như cổ đông mong đợi.

Ban Kiểm soát có trách nhiệm báo cáo về hoạt động của ngân hàng cho HĐQT một cách thường xuyên.

Hàng kì, các thành viên ban kiểm soát được hỗ trợ các chương trình đào tạo, được trả lương theo hai cơ chế: thù lao chính và thưởng theo hiệu quả công việc.

Công bố thông tin, minh bạch và kiểm toán

Các báo cáo tài chính của ngân hàng được công bố trên website của ngân hàng theo quy định của NHNN cũng như các cơ quan chức năng, được cập nhật bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh theo chuẩn mực kế toán Việt Nam. Bộ phận kế toán chịu trách nhiệm chuẩn bị các báo cáo tài chính hàng năm, dựa trên sự phê duyệt của CEO và sự kiểm tra của kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập. Trong sự so sánh với NHTMNN, thì NHTMCP này có sự tương tác thường xuyên và dưới nhiều hình thức hơn với cổ động. Các báo cáo tài chính của ngân hàng được kiểm toán bởi một trong bốn Big4 trong ngành kiểm toán.

Tóm lại, thông qua phân tích hoạt động trong quản trị công ty tại một NHTMNN sau khi được CPH và một NHTMCP, chúng ta có thể thấy được vai trò tốt hơn trong hoạt động quản trị ngân hàng của NHTMCP. Điều này góp phần giải thích cho ảnh hưởng của loại hình sở hữu đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng theo hình thức sở hữu nhà nước và tư nhân.

3.5. ĐÁNH GIÁ VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI CẤU TRÚC SỞ HỮU

3.5.1. Những điểm tích cực

Sở hữu nhà nước tại các NHTM có nhà nước nắm cổ phần chi phối là công cụ quan trọng để Nhà nước tác động đến hoạt động của các ngân hàng này từ đó định hướng cho sự vận động của thị trường tiền tệ nhằm thực hiện các mục tiêu chính

Download pdf, tải về file docx

Bài viết tương tự

Gửi tin nhắn

Home | Contact | About | Terms | Privacy policy
© 2022 Tailieuthamkhao.com | all rights reserved

Trang chủ Tài liệu miễn phí Thư viện số