Cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam - 4


Hệ số Tobin‟s Q



Đối với các doanh nghiệp niêm yết, hệ số Tobin’s Q rất thông dụng như là công cụ đánh giá tốt về hiệu quả tài chính doanh nghiệp; trong đó hệ số Tobin’s Q được tính là giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu cộng với giá trị sổ sách các khoản nợ phải trả so với giá trị sổ sách của tổng tài sản.

Trong các hệ số trên, các hệ số ROA và ROE là những chỉ báo hiệu quả cho kết quả sản xuất kinh doanh và phản ánh khả năng lợi nhuận mà doanh nghiệp đã đạt được trong các kỳ kế toán đã qua. Hai chỉ tiêu này là cách nhìn về quá khứ hoặc đánh giá khả năng lợi nhuận ngắn hạn của doanh nghiệp. Trong khi đó, hệ số Tobin’s Q có thể cho biết hiệu quả tương lai của doanh nghiệp bởi chúng phản ánh được đánh giá của thị trường cả về tiềm năng lợi nhuận của doanh nghiệp trong tương lai (phản ánh vào giá thị trường của cổ phiếu).

Như vậy, hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp có thể được đánh giá thông qua các hệ số trên kết hợp lại. Mặc dù có thể có các cách tính khác nhau,chủ yếu do cách xác định lợi nhuận trong tính toán hệ số, sự kết hợp của hai tỷ số này có thể đưa ra cho nhà quản lý, lãnh đạo doanh nghiệp, cổ đông và thị trường những đánh giá bao quát về hiệu quả hoạt động trong quá khứ cũng như tiềm năng lợi nhuận và tăng trưởng tương lai của doanh nghiệp.

2.1.3. Tác động của cấu trúc sở hữu tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

2.1.3.1. Nghiên cứu cơ sở

Nền tảng lý thuyết nghiên cứu về vấn đề hoạt động của doanh nghiệp đặt trong mối quan hệ giữa sở hữu và quản trị công ty được Berle và Means [43] công bố lần đầu tiên vào năm 1932. Suốt nửa thế kỷ sau đó rất nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực tài chính, đặc biệt là các nghiên cứu tại Anh và Hoa Kỳ, đã tập trung đánh giá mối liên hệ giữa cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Có thể bạn quan tâm!

Xem toàn bộ 160 trang: Cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Lý thuyết về quản trị công ty trong công ty cổ phần cho rằng sự tách rời giữa quyền sở hữu và điều hành công ty có thể cho phép các nhà quản trị công ty theo đuổi mục tiêu riêng hơn là tập trung tối đa hóa lợi ích cho cổ đông. Vì vậy, mâu thuẫn có thể sẽ nảy sinh từ sự khác biệt giữa mục tiêu của cổ đông và mục tiêu của nhà quản lý doanh nghiệp. Bản chất và mức độ của mâu thuẫn này sẽ phụ thuộc vào mức độ phân


Cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam - 4

tách giữa sở hữu và quản trị cũng như sự khác biệt trong mục tiêu của cổ đông và nhà quản lý. Cuối cùng, hiệu quả hoạt động doanh nghiệp sẽ chịu tác động từ sự phân tách giữa quyền sở hữu và quản lý.

Mặc dù Berle và Means (1932) [43] đã xây dựng nên lý thuyết về mối liên hệ giữa sở hữu và quản lý công ty, nhưng chưa đưa ra các kiểm chứng về các tác động cụ thể của sở hữu đến hành vi của doanh nghiệp. Những nghiên cứu sau này của Baumol (1959) [39] và Williamson (1964) [120] đối với vấn đề chủ sở hữu và người đại diện đã giúp làm rõ hơn vấn đề này. Cụ thể, Williamson (1964) [120] cho rằng sự chủ động trong việc ra các quyết định của quản lý doanh nghiệp bắt nguồn từ sự phân tách sự sở hữu và điều hành sẽ cho phép các nhà quản lý theo đuổi lợi ích riêng của mình khi điều hành doanh nghiệp. Vì vậy các nhà quản lý điều hành doanh nghiệp sẽ đem lại lợi nhuận khiêm tốn hơn so với chủ sở hữu doanh nghiệp điều hành doanh nghiệp do họ thiếu đi động lực tối đa hóa lợi nhuận. Vì vậy, các nhà quản lý điều hành doanh nghiệp có thể sẽ có tốc độ phát triển nhanh hơn nhưng tỷ lệ lợi nhuận thấp hơn chủ sở hữu quản lý doanh nghiệp. Ngoài ra, Baumol (1959) [39] và Monson (1965) [94] đã chỉ ra rằng khi nhà quản lý điều hành hoạt động của doanh nghiệp, luôn có sự bất cân đối giữa cơ chế đãi ngộ với kết quả điều hành. Cụ thể, các nhà quản lý sẽ chịu trách nhiệm nặng nề khi kết quả hoạt động công ty không tốt trong khi đó lại không được đãi ngộ tương xứng khi công ty hoạt động tốt. Đồng thời, kết quả kinh doanh tốt trong năm đầu tiên sẽ tạo áp lực cao hơn lên các nhà quản lý đối với kết quả kinh doanh trong các năm tiếp theo. Điều này có thể dẫn đến việc các nhà quản lý doanh nghiệp có thể xuất hiện tâm lý ngại rủi ro và ít tận dụng cơ hội cho doanh nghiệp hơn. Tuy nhiên, phải đến năm 1976, nghiên cứu của Jensen và Meckiling (1976) [75] và sau đó là hàng loạt các nghiên cứu khác mới đưa ra được các quan điểm đột phá về mối liên hệ giữa sở hữu và hoạt động của doanh nghiệp khi phát triển khái niệm chi phí đại diện.

2.1.3.2. Lý thuyết người đại diện

Jensen và Meckling (1976) [75] trong tác phẩm “Lý thuyết về công ty: Hành vi nhà quản trị, chi phí người đại diện và cấu trúc sở hữu” đã giới thiệu các quan điểm của mình về lý thuyết người đại diện. Đây là một trong những tác phẩm được trích dẫn nhiều nhất trong gần 3 thập kỷ qua của giới học giả kinh tế, tài chính khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến chi phí người đại diện (agency cost). Lý thuyết này đã được nghiên cứu từ trước và có cơ sở từ tâm lý học đó là: con người vốn có khuynh hướng


cá nhân (individualistic), cơ hội (opportunistic), và tư lợi (self-interest); tuy nhiên vấn đề ở đây là làm sao để các cá nhân dung hòa lợi ích để cùng có lợi và phát triển. Nghiên cứu này của Jensen và Meckling [64] thường được trích dẫn ở các nội dung chính sau đây:

Một là, chủ thể (principal) hay chủ sở hữu vốn (shareholders) và người đại diện (agent) hay nhà quản trị (managers) luôn có sự đối nghịch về lợi ích. Người sở hữu vốn quan tâm đến giá trị công ty, giá cổ phiếu (cũng là lợi ích của chính họ). Trong khi đó, nhà quản trị về cơ bản không quan tâm nhiều đến lợi ích cổ đông mà thường chỉ quan tâm đến lợi ích của mình là chính (lương, thưởng, phụ cấp, nguồn thu khác dựa trên vị trí công tác của mình).

Hai là, việc không đồng nhất lợi ích giữa chủ sở hữu vốn và người đại diện hay nhà quản trị làm phát sinh một loạt chi phí. “Agency Cost” (tạm dịch là chi phí người đại diện, hay còn gọi là chi phí Giám đốc) bằng 0 (không) khi chủ sở hữu đồng thời là Giám đốc công ty, tức là, Giám đốc sở hữu toàn bộ vốn của công ty (principal và agent là một).

Ba là, chi phí Giám đốc càng lớn khi Giám đốc sở hữu ít hoặc không sở hữu cổ phiếu công ty.

Trên cơ sở đó, các nhà kinh tế tiếp tục nghiên cứu về mối quan hệ người đại diện, cũng như về các loại chi phí Giám đốc. Những nghiên cứu tiếp theo cho thấy một số kết quả như sau:

- Giám đốc sẵn sàng lựa chọn các dự án sinh lợi thấp cho công ty nếu lợi ích của mình được đảm bảo và khó có thể chứng minh được thiệt thòi về phía công ty.

- Cổ đông có khuynh hướng chấp nhận rủi ro (risk-preference) cao hơn nhiều so với Giám đốc vì cổ đông có thể đa dạng hóa đầu tư vào nhiều công ty, còn Giám đốc làm thuê thì thu nhập chủ yếu từ công ty. Vì vậy, Giám đốc có khuynh hướng né tránh rủi ro (risk-averse) trong việc lựa chọn chiến lược kinh doanh cho công ty, vì khi chấp nhận rủi ro, nếu sinh lợi cao thì không được hưởng như cổ đông. Ngược lại, nếu không thành công thì nguy cơ mất việc cao. Từ đó, Giám đốc sẵn sàng bỏ qua các cơ hội làm lợi cho cổ đông.

- Giám đốc sẵn sàng gây dựng tên tuổi cá nhân mình bằng cách đầu tư vào các dự án đồ sộ, sinh lợi thấp nhưng sử dụng nhiều kinh phí. Giám đốc ưa thích xây nhà


cửa, mua phương tiện đi lại nhiều tiền để chứng minh vị thế của mình và hưởng lợi trên chi phí mà cổ đông phải chịu.

- Giám đốc có khuynh hướng đầu tư ngắn hạn, quan tâm tới công việc, vị trí của mình hơn là mạo hiểm để mang lại lợi ích dài hạn cho công ty. Giám đốc có khuynh hướng đầu tư mạnh cho quảng cáo để gián tiếp quảng bá mình và nhận hoa hồng, nhưng có khuynh hướng ngược lại đối với chi phí nghiên cứu phát triển (R&D) vì chi lớn có thể làm giảm lương, thưởng, còn cái lợi về dài hạn của R&D thì Giám đốc có thể không được thụ hưởng.

- Giám đốc có khuynh hướng không thích vay nợ vì sẽ bị kiểm soát bởi các bên cho vay trong việc sử dụng vốn của mình.

- Chi phí Giám đốc liên quan trực tiếp đến mức độ phân tán hay tập trung của vốn chủ sở hữu. Vốn chủ sở hữu phân tán khiến các cổ đông có thể thiếu quyền hạn trong việc giám sát Giám đốc, dẫn đến tình trạng cổ đông này cho rằng cổ đông kia đã giám sát (free-rider).

Các nghiên cứu cho thấy Giám đốc thường ít có khuynh hướng trả cổ tức (devidend payout) vì muốn lưu giữ ngân quỹ cao để làm vùng đệm cho những chi tiêu, đồng thời làm giảm khả năng công ty phải đi vay khi đó Giám đốc sẽ bị đánh giá về hiệu quả, năng lực qua hoạt động sử dụng vốn.

Theo lý thuyết người đại diện, chi phí Giám đốc chỉ bằng không khi chủ sở hữu vốn cũng chính là Giám đốc công ty. Những loại hình công ty cổ phần là rất phổ biến trong nền kinh tế thị trường và các Giám đốc thường được thuê từ bên ngoài, nên các chi phí này là không thể tránh khỏi khi Giám đốc và cổ đông luôn không đồng nhất về lợi ích như đã đề cập.

Với mục đích làm cho lợi ích và mục đích của chủ sở hữu vốn và Giám đốc làm thuê trở nên đồng nhất, một số biện pháp mà các công ty thường áp dụng để làm giảm chi phí Giám đốc đó là:

(i) Biện pháp khuyến khích (incentive mechanisms). Trả lương phù hợp cho Giám đốc, tạo điều kiện để Giám đốc trở thành cổ đông của công ty bằng việc thưởng cổ phiếu, quyền chọn mua cổ phiếu (stock options) để việc tăng giảm giá trị công ty ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi Giám đốc, từ đó buộc họ phải hành xử theo lợi ích của các cổ đông.


(ii) Thuê thành viên HĐQT độc lập bên ngoài (ousider director) để giám sát các quyết định của Giám đốc nhằm làm giảm chi phí Giám đốc tốt hơn các thành viên bên trong.

(iii) Đề cao năng lực của Giám đốc trong sử dụng lao động vì Giám đốc là người có khả năng và quan tâm đến việc đánh giá thị trường lao động, có năng lực quan tâm nhiều hơn đến uy tín của mình, đồng thời có năng lực có khuynh hướng hành xử vì lợi ích của cổ đông do có khả năng được tăng thu nhập vì sự thành công của công ty.

(iv) Tăng cường giám sát Giám đốc thông qua các cổ đông lớn ngoài công ty (block holder) do các cổ đông lớn ngoài công ty có tác dụng giám sát công việc của Giám đốc tốt hơn nhiều cổ đông nhỏ phân tán.

(v) Gắn công nợ với việc chi trả cổ tức: Chủ nợ có tác dụng giám sát việc chi tiêu thiếu hiệu quả của Giám đốc. Chi trả cổ tức làm giảm ngân quỹ để khi công ty có cơ hội tăng trưởng, buộc phải huy động bên ngoài thay vì sử dụng lợi nhuận giữ lại. Việc này sẽ tạo điều kiện để Giám đốc được giám sát chặt chẽ hơn.

Cùng với nghiên cứu của Jensen & Meckling (1976) [64], một nghiên cứu khác về chi phí đại diện và cấu trúc sở hữu sau đó đã được thực hiện bởi Fama & Jensen (1983) [63]. Nghiên cứu này đưa ra kết luận rằng trong một công ty luôn có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và kiểm soát. Nói cách khác, người sở hữu thực sự của công ty không tham gia vào việc quản lý công ty và chi phí đại diện sẽ xuất hiện vì tình trạng bất cân xứng thông tin giữa nhà quản lý và các cổ đông. Nhà quản lý có nhiều thông tin về tình hình công ty và họ sẽ dùng quyền quản lý để trục lợi cho bản thân.

Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu thực nghiệm khác tìm hiểu về ảnh hưởng của mức độ sở hữu của các nhà đầu tư tổ chức đến chi phí đại diện. Chẳng hạn, các nghiên cứu của Brickley, Lease & Smith (1988) [46] hay Agrawal & Mandelker (1990) [32] đều cho rằng do đặc tính riêng có so với các cổ đông là cá nhân, các nhà đầu tư tổ chức hoàn toàn có đủ khả năng và động lực để đóng vai trò như những kiểm soát viên trong công ty, do đó có thể làm giảm chi phí đại diện. Mak & Li (2001) [87] cho rằng Chính phủ thường có xu hướng kém chủ động trong việc kiểm soát khoản đầu tư của mình, đồng thời do việc huy động vốn dễ dàng hơn, dẫn đến hiện tượng các công ty có vốn đầu tư Nhà nước có cơ chế kiểm soát công ty kém hơn. Nói cách khác, các công ty có vốn đầu tư Nhà nước thường sẽ làm tăng chi phí đại diện. Ang, Cole& Lin (2000) [35] đã thực hiện nghiên cứu trên những công ty chưa niêm yết tại Mỹ và kết luận rằng chi phí đại diện tăng lên đáng kể ở những công ty được quản lý bởi một


Giám đốc không phải là cổ đông của công ty. Ngoài ra, chi phí đại diện và số lượng cổ phần của nhà quản lý công ty có mối quan hệ nghịch biến nhau. Chi phí đại diện tăng lên cùng với số lượng những cổ đông không nằm trong bộ phận quản lý công ty. Tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài cũng có những ảnh hưởng nhất định đến chi phí đại diện của công ty. Xu, Zhu và Lin (2005) [124] chỉ ra rằng đối với những công ty ở Trung Quốc, tỷ lệ nhà đầu tư nước ngoài càng cao thì công ty được kiểm soát tốt hơn, dẫn đến hiệu quả công ty cao hơn và giảm bớt chi phí đại diện.

Như vậy có thể thấy rằng có sự tồn tại mối tương quan giữa chi phí đại diện với cấu trúc sở hữu trong công ty ở nhiều quốc gia khác nhau. Trong đó, nổi bật lên vai trò giải thích của tỷ lệ sở hữu cổ phần của các nhà quản lý công ty, cũng như vai trò của các nhà đầu tư nước ngoài và Chính phủ trong việc kiểm soát hoạt động của công ty.

2.2. CẤU TRÚC SỞ HỮU VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2.2.1. Cấu trúc sở hữu của các ngân hàng thương mại

Cấu trúc sở hữu của NHTM phản ánh quy mô vốn theo thành phần chủ sở hữu của ngân hàng nắm giữ. Với mỗi dạng cấu trúc sở hữu, đặc điểm, quy mô và phương thức quản trị hoạt động của ngân hàng sẽ khác nhau. Vì thế, khi nghiên cứu hoạt động của các NHTM, cần nghiên cứu cấu trúc sở hữu của chúng để thấy được rõ mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.

2.2.1.1. Các hình thức sở hữu trong ngân hàng thương mại

a. Ngân hàng thương mại Nhà nước

NHTMNN là NHTM do Nhà nước thành lập và làm chủ sở hữu. Các NHTMNN được thành lập nhằm thực hiện một số mục tiêu nhất định, chủ yếu là đóng vai trò điều tiết, định hướng hoạt động cho các NHTM khác trong việc tạo cung - cầu vốn, cũng như là một kênh trực tiếp giúp NHTW thực hiện CSTT. Các NHTMNN thường là các ngân hàng đa năng và hoạt động cả trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn tùy thuộc vào tính chất các nguồn vốn huy động, cả trong nội địa và nước ngoài.

Hiện nay, các NHTMNN ở hầu hết các nước đều đã được tư nhân hóa. Tuy vậy, nhìn nhận một cách khách quan thì ở một số nước, các NHTMNN vẫn đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống NHTM, điều tiết và là một kênh trung gian giữa NHTW và các định chế trung gian tài chính khác.


b. Ngân hàng thương mại cổ phần

NHTMCP là một loại hình ngân hàng rất phổ biến trên thế giới, được thành lập dưới hình thức các nhà đầu tư mua cổ phần của ngân hàng phát hành và trở thành cổ đông của chúng, với sự đồng thuận của các thành viên góp vốn. NHTMCP hoạt động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho cho ngân hàng và các chủ sở hữu tư nhân. Chính vì thế, các NHTMCP thường năng động và có tính nhạy cảm cao với thị trường.

c. Ngân hàng liên doanh

Ngân hàng liên doanh là một hình thức kết hợp giữa sở hữu trong nước và sở hữu nước ngoài, được thành lập trên cơ sở các hợp đồng liên doanh. Ngân hàng liên doanh được đặt trụ sở tại một nước và chịu sự điều chỉnh của luật pháp nước đặt trụ sở chính đó. Cũng như các loại hình ngân hàng khác, Ngân hàng liên doanh thường được các nước cho phép kinh doanh bằng cả nội tệ và ngoại tệ, có các quyền lợi và nghĩa vụ khác phù hợp với luật định của từng nước.

Ngân hàng liên doanh chỉ được thành lập khi có sự hợp tác giữa ngân hàng trong nước và NHNNg, không bao gồm cá nhân trong nước và cá nhân nước ngoài. Điều này là để phân biệt với loại hình NHTMCP, do các nhà đầu tư góp vốn và trực tiếp điều hành hoạt động.

d. Chi nhánh NHNNg

Về bản chất, chi nhánh NHNNg có thể là bất kì các loại hình ngân hàng nào kể trên. Nó là một bộ phận của ngân hàng một nước nhưng hoạt động tại nước khác, thành lập dưới pháp luật của một nước song hoạt động và chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước mà nó đặt chi nhánh. Việc đặt chi nhánh ngân hàng tại nước ngoài chủ yếu nhằm mục tiêu mở rộng thị trường, tạo thương hiệu và tối đa hóa lợi nhuận cho Ngân hàng và chủ sở hữu.

e. Ngân hàng 100% vốn nước ngoài

NHTM 100% vốn nước ngoài là ngân hàng được thành lập với vốn điều lệ hoàn toàn thuộc sở hữu nước ngoài, có thể bao gồm nhiều cổ đông các nước khác nhau, nhưng bắt buộc phải có một cổ đông chiếm trên 50% vốn điều lệ đóng vai trò là ngân hàng mẹ, nắm quyền kiểm soát và chi phối hoạt động của nó. NHTM 100% vốn nước ngoài được thành lập dưới hình thức công ty TNHH một thành viên hoặc từ hai thành viên trở lên và có tư cách pháp nhân.


Tóm lại, NHTM tồn tại dưới nhiều hình thức sở hữu khác nhau. Chúng khác nhau về nguồn hình thành vốn, về chủ sở hữu, nhưng cung cấp các nghiệp vụ tương tự nhau, cùng chung mục tiêu lợi nhuận trong khi các nguồn lực là có giới hạn. Điều này dẫn đến sự cạnh tranh và hiệu quả hoạt động không giống nhau giữa các NHTM.

2.2.1.2. Mức độ tập trung sở hữu trong ngân hàng thương mại

Mức độ tập trung sở hữu thể hiện sự mức độ sở hữu cổ phiếu ngân hàng được nắm trong tay một số cổ đông lớn (Pedersen & Thomsen, 1999) [112]. Đối với ngân hàng có sở hữu tập trung, quyền kiểm soát cũng tập trung ở một số cổ đông và nhóm liên quan. Họ kiểm soát và chi phối đến cách các ngân hàng hoạt động, họ có thể không sở hữu toàn bộ vốn nhưng có quyền biểu quyết đáng kể.

Trong nghiên cứu của Rokwaro (2013) [104] khái niệm mức độ tập trung sở hữu được sử dụng là tỷ lệ sở hữu của 5 cổ đông lớn nhất trong các ngân hàng của Kenya. Kết quả nghiên cứu cho thấy ngân hàng càng có mức độ tập trung sở hữu cao, tỷ lệ ROE càng thấp. Wen (2013) [119] cũng sử dụng mức độ tập trung sở hữu trong các NHTM nhà nước và các NHTM tư nhân của Trung Quốc là tỷ lệ sở hữu của các cổ đông lớn nhất. Trong nghiên cứu năm 2010 của mình, Wen [119] đã khảo sát ở 50 ngân hàng ở Trung Quốc trong 3 năm 2003, 2006 và 2008. Kết quả, tác giả đã không thấy mối liên hệ tuyến tính nào giữa mức độ tập trung sở hữu đến khả năng sinh lời của các NHTM. Tuy nhiên, sau khi xây dựng mô hình hồi qui quadratic model, ông lại tìm ra mối quan hệ tuyến tính thuận chiều giữa mức độ tập trung sở hữu đến ROA trong năm 2006 và 2008.

Theo Morck và cộng sự (2005) [95], sở hữu tập trung tạo ra các nhóm lợi ích, họ vừa có động cơ, vừa có quyền lực để thiết lập các nguyên tắc quản lý trong ngân hàng, do vậy mọi quyết định trong quản trị và hoạt động sẽ có hiệu quả nhằm phục vụ cho nhóm lợi ích này. Mặt khác, việc sở hữu tập trung dễ dẫn đến việc phát sinh ra những vấn đề mới, như xung đột lợi ích với nhóm cổ đông thiểu số, hay các vấn đề liên quan đến giám sát. Antoniadis và cộng sự (2010) [36] đã nghiên cứu tác động của cấu trúc sở hữu của đến khả năng sinh lời của các NHTM ở Hy Lạp thông qua chỉ số ROA, ROE. Kết quả nghiên cứu cho thấy có quan hệ tuyến tính đáng kể giữa mức độ tập trung sở hữu và khả năng sinh lời của các ngân hàng niêm yết. Như vậy, kết quả của nhiều nghiên cứu cho thấy có nhiều ý kiến trái chiều đánh giá về tác động của mức độ tập trung sở hữu đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng.


2.2.1.3. Hiện tượng sở hữu chéo trong ngân hàng thương mại

Trên thế giới, khái niệm về sở hữu chéo đã được các nhà nghiên cứu đưa ra trong các nghiên cứu dựa trên định nghĩa về sở hữu. Hiểu một cách đơn giản nhất sở hữu chéo là hiện tượng các doanh nghiệp nắm giữ cổ phần của nhau cho những mục tiêu cụ thể (Wang và cộng sự, 2012, [118]). Các mục tiêu này có thể là việc thực hiện chiến lược phát triển của doanh nghiệp, mặc dù nó có thể ảnh hưởng tiêu cực tới doanh nghiệp khác nhưng cũng có thể tạo ra lợi ích cho các bên liên quan; hoặc mục tiêu chống lại những quy định của pháp luật về đảm bảo đủ vốn. Alberto và Alessia (2009)

[33] định nghĩa sở hữu chéo là việc các doanh nghiệp tại Đức, bao gồm cả công nghiệp và tài chính, nắm giữ cổ phần dài hạn tại các doanh nghiệp khác. Tóm lại, sở hữu chéo trong doanh nghiệp là hiện tượng sở hữu cổ phần qua lại khi doanh nghiệp này nắm giữ cổ phần của doanh nghiệp khác và cổ phần của bản thân doanh nghiệp đó lại được nắm giữ bởi các doanh nghiệp còn lại.

Sở hữu chéo thường được sử dụng để củng cố mối quan hệ giữa các doanh nghiệp, và trong đó có cả loại hình doanh nghiệp đặc biệt là ngân hàng. Sở hữu chéo trong ngân hàng đã phát triển phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới, chủ yếu tại các quốc gia có hệ thống NHTM với quy mô và vai trò quan trọng hơn thị trường chứng khoán, trong đó có Đức, Nhật Bản, Italy, Ấn Độ, Trung Quốc là những quốc gia tiêu biểu. Sở hữu chéo trong hệ thống NHTM xuất phát từ sở hữu chéo trong hệ thống doanh nghiệp với đặc điểm là có NHTM tham gia vào hệ thống sở hữu cổ phần giữa các thành viên. Như vậy, sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng là việc một hay nhiều ngân hàng nắm giữ cổ phần lẫn nhau và/hoặc cổ phần của các doanh nghiệp phi ngân hàng khác.

2.2.2. Hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại

2.2.2.1. Khái niệm hiệu quả hoạt động của ngân hàng

Theo Hawary (2011) [70], hiệu quả hoạt động của một công ty nói chung và một ngân hàng nói riêng có thể được coi là sự phản ánh lại cách các công ty sử dụng nguồn lực của mình để đạt được mục tiêu, theo đó đo lường hoạt động ngân hàng là đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực để đạt được mục tiêu. Vì NHTM cũng là doanh nghiệp, nên có thể sử dụng các nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động doanh nghiệp để đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTM, bao gồm chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động kinh doanh, chỉ tiêu về hiệu quả tài chính, chỉ tiêu về hiệu quả quản trị và


nguồn nhân lực, và chỉ tiêu về hiệu quả xã hội và môi trường. Ngoài ra các nhóm chỉ tiêu có thể được phân loại theo tiêu chí định tính và định lượng.

2.2.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại

a. Nhóm chỉ tiêu định tính

Các chỉ tiêu định tính thể hiện hiệu quả hoạt động của ngân hàng có thể bao gồm quy mô, giá trị thương hiệu, uy tín của ngân hàng trên thị trường tài chính,… và thường được cụ thể hóa hơn qua chất lượng sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng cung cấp, tính chuyên nghiệp, rộng khắp của hệ thống phân phối, năng lực quản lý và điều hành ngân hàng của đội ngũ lãnh đạo, cùng với các chính sách nhân sự, marketing… Những tiêu chí này cho biết ngân hàng được biết đến như thế nào, chất lượng dịch vụ của ngân hàng ra sao và các nhà đầu tư, khách hàng sử dụng các dịch vụ của ngân hàng đó ở mức độ như thế nào. Tuy nhiên, các yếu tố này vẫn còn thiếu sự rõ ràng và khả năng so sánh được. Chính vì lý do đó, ta cần xem xét đến các yếu tố định lượng để đánh giá một cách chính xác nhất hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM.

b. Nhóm chỉ tiêu định lượng

Như đã trình bày trong nội dung đối với doanh nghiệp, về mặt định lượng, hiệu quả hoạt động của NHTM thường được phân tích thông qua chỉ tiêu tài chính bao gồm hai nhóm chỉ tiêu cơ bản là khả năng sinh lời và mức độ rủi ro tài chính để thấy được chính xác hiệu quả hoạt động phù hợp với đặc điểm kinh tế kĩ thuật của ngành kinh doanh đặc thù của các NHTM là làm trung gian tài chính cho nền kinh tế.

Trong thực tế, hai loại chỉ số thường được sử dụng để đánh giá mối quan hệ giữa quản trị và hoạt động của ngân hàng (Hristos và cộng sự, 2006). Phương pháp thứ nhất dựa trên nền tảng kế toán, bao gồm tỷ số về khả năng sinh lời như ROE (tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu) và ROA (tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản) hoặc các tỷ số về hiệu quả như NIM (thu nhập lãi biên), NPL (tỷ lệ nợ xấu).

Để đánh giá ROE, người ta đánh giá lợi nhuận ròng của ngân hàng so với vốn chủ sở hữu bình quân của ngân hàng trong cùng năm tài chính, cụ thể:

ROE =

Trong đó, lợi nhuận ròng là lợi nhuận sau thuế của ngân hàng sau khi đã trả cổ tức cho cổ phần ưu đãi. Vốn chủ sở hữu bình quân là vốn chủ sở hữu của ngân hàng được tính bình quân đầu kì và cuối kì trong năm tài chính. ROE phản ánh khả năng


ngân hàng sử dụng đồng vốn của mình để sinh lợi như thế nào. ROE càng cao thể hiện ngân hàng càng sử dụng đồng vốn của mình một cách hiệu quả.

Khác với ROE, ROA được sử dụng để đánh giá lợi nhuận ròng so với tổng tài sản. ROA cung cấp cho nhà đầu tư thông tin về các khoản lãi được tạo ra từ tổng tài sản mà ngân hàng nắm giữ, bao gồm cả vốn chủ sở hữu và vốn bên ngoài. Trong kỳ, các chỉ số về tài sản có thể dao động, hơn nữa, nó mang tính chất thời điểm hơn là thời kỳ, việc tính tổng tài sản bình quân thay vì tổng tài sản được xem là hợp lí và cần thiết.

ROA =

Nếu như ROA, ROE là những chỉ tiêu xuất hiện chung cả ở doanh nghiệp và ngân hàng thì NPL là chỉ tiêu đặc chưng của ngành ngân hàng. NPL phản ánh rủi ro tín dụng mà một NHTM phải đối mặt:

Trong đó, nợ xấu được xác định bằng tổng nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5 theo quy định của NHNN tại Luật các TCTD, trong khi tổng dư nợ được sắp xếp từ nhóm 1 đến nhóm 5.

Phương pháp thứ hai dựa trên tỷ số thị trường, trong đó Tobin’s Q là tỷ số được sử dụng phổ biến nhất. Trong ngành ngân hàng, chỉ số Tobin’s Q được định nghĩa là thị giá của ngân hàng trên chi phí thay thế vốn của ngân hàng đó. Nếu hệ số Tobin’s Q cao, ngân hàng sẽ đầu tư nhiều hơn vì việc huy động thêm vốn sẽ rẻ hơn do chi phí huy động thêm vốn rẻ hơn tương đối so với thị giá vốn của ngân hàng và ngược lại, nếu hệ số Tobin’s Q của ngân hàng thấp, ngân hàng cần cân nhắc việc gia tăng đầu tư do chi phí huy động thêm vốn cao.

Bên cạnh những chỉ tiêu thường được dùng trong mô hình đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTM nói trên, các nghiên cứu cũng sử dụng các chỉ tiêu tài chính phản ánh đặc trưng hoạt động kinh doanh ngân hàng như:

Tăng trưởng tổng tài sản =


Tăng trưởng vốn chủ sở hữu =


Tăng trưởng tín dụng =


Tăng trưởng lợi nhuận =

Các chỉ tiêu về tăng trưởng chủ yếu phản ánh mức độ mở rộng hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đối với các NHTM, tín dụng là mảng mang lại tỷ trọng lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng. Do đó, việc đánh giá mức tăng trưởng tín dụng giữa các kì là một việc làm quan trọng và cần thiết. Tăng trưởng tín dụng được xác định bằng tỷ lệ phần trăm chênh lệch giữa tổng dư nợ cuối kì và tổng dư nợ đầu kì. Chỉ tiêu này phản ánh trong kỳ kế toán, ngân hàng mở rộng được hoạt động tín dụng của mình bao nhiêu. Từ đó, biết được liệu ngân hàng có đang mở rộng hay thu hẹp hoạt động của mình.

Nếu như các chỉ số về sự tăng trưởng đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng theo chiều rộng thì các chỉ số liên quan đến tỷ lệ phản ánh cấu trúc sinh lời cũng như mức độ an toàn mà ngân hàng đang duy trì, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn và cho vay trên huy động là hai tỷ lệ tiêu biểu trong số đó.

Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn =

Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn thể hiện ngân hàng sử dụng bao nhiêu trong số nguồn vốn kì hạn dưới 12 tháng để cấp tín dụng cho các khoản dài hơn 12 tháng. Hiển nhiên, điều này dễ dẫn đến rủi ro khi các khoản nguồn vốn ngắn hạn đáo hạn và ngân hàng phải xoay vòng để tiếp tục đầu tư cho tài trợ trung và dài hạn. Tỷ lệ này quá cao thể hiện mức rủi ro, đặc biệt là rủi ro thanh khoản mà ngân hàng đang phải đối mặt càng lớn và ngược lại.

Trong khi đó, tỷ lệ cho vay trên huy động phản ánh ngân hàng sử dụng bao nhiêu nguồn vốn mà mình có từ nguồn huy động để sử dụng cho mục đích cho vay.

Tỷ lệ cho vay trên huy động =


Với các NHTM, tỷ lệ này thường cao, bởi lẽ, cho vay là hoạt động truyền thống và phổ biến nhất của ngân hàng, đây là nguồn đem lại doanh thu và lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng. Tuy nhiên, tỷ lệ này quá cao phản ánh ngân hàng chủ yếu tập trung vào cho vay mà thiếu đi các hoạt động dịch vụ ngân hàng, đồng thời, gia tăng mức rủi ro với các khoản nợ kém an toàn; tỷ lệ quá thấp lại phản ánh ngân hàng

Download pdf, tải về file docx

Bài viết tương tự

Gửi tin nhắn

Home | Contact | About | Terms | Privacy policy
© 2022 Tailieuthamkhao.com | all rights reserved

Trang chủ Tài liệu miễn phí Thư viện số