Cải cách hệ thống ngân hàng nhật bản giai đoạn 1990 – 2005 và một số hàm ý cho Việt Nam - 12


Tính đến hết năm 2019, về cơ bản, quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng tại Việt Nam đã đạt được những kết quả như sau:

Thứ nhất, về cơ bản đã kiểm soát được tình hình của các NHTM cổ phần yếu kém. Khả năng chi trả của các ngân hàng này đã được cải thiện đáng kể, tài sản của Nhà nước và quyền lợi của người gửi tiền được bảo đảm, an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng được kiểm soát, an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững; không để xảy ra các đợt rút tiền hàng loạt ngoài tầm kiểm soát, đặc biệt ở một số NHTM cổ phần yếu kém phải cơ cấu lại. Đã xử lý 9 NHTMCP yếu kém được xác định trong năm 2013. Đến tháng 6/ 2019, số lượng NHTMCP trong nước giảm bớt 07 ngân hàng so với năm 2017 qua hoạt động sáp nhập, hợp nhất.

Cho đến nay, tất cả các phương án cơ cấu lại NHTM CP yếu kém, kể cả sáp nhập, hợp nhất đều được tiến hành trên nguyên tắc tự nguyện và NHNN chưa phải áp dụng biện pháp can thiệp bắt buộc đối với trường hợp nào theo quy định của pháp luật. Sau khi sáp nhập, hợp nhất hoặc phương án cơ cấu lại được NHNN chấp thuận, các ngân hàng đã và đang tích cực triển khai các giải pháp cơ cấu lại toàn diện về tài chính, hoạt động, quản trị và khắc phục các sai phạm dưới sự giám sát của NHNN. Đến nay, các ngân hàng yếu kém được cơ cấu lại đều có tình hình hoạt động ổn định và cải thiện hơn so với thời điểm bắt đầu thực hiện cơ cấu lại. Các tỷ lệ an toàn hoạt động, khả năng chi trả được cải thiện về cơ bản đảm bảo theo quy định của NHNN; huy động vốn từ dân cư tiếp tục tăng khá, nợ xấu đã tích cực được xử lý và thu hồi; các vi phạm về tỷ lệ sở hữu của cổ đông lớn, vi phạm về cấp tín dụng đang được khắc phục, xử lý quyết liệt; hệ thống quản trị và tổ chức bộ máy, mạng lưới đã được cơ cấu lại một bước quan trọng.

Thứ hai, các ngân hàng không thuộc diện yếu kém bắt buộc phải tái cơ cấu đã triển khai các giải pháp cơ cấu lại, xử lý nợ xấu; tập trung củng cố, chấn chỉnh những tồn tại, hạn chế và tăng cường năng lực tài chính, quản trị, hoạt động và năng lực cạnh tranh. Một số ngân hàng đang thực hiện sáp nhập, mua lại TCTD khác để tăng quy mô và khả năng cạnh tranh.

Đối với các TCTD phi ngân hàng, NHNN đã chỉ đạo xây dựng và thực hiện phương án cơ cấu lại. Một số TCTD phi ngân hàng quá yếu kém, chi phí cơ cấu lại quá lớn so với lợi ích đem lại từ việc duy trì hoạt động, NHNN đã rà soát, đánh giá và tiến hành xử lý giải thể, cho phá sản. Những TCTD phi ngân hàng hoạt động bình thường cũng đang triển khai cơ cấu lại để nâng cao mức độ an toàn, hiệu quả kinh doanh và năng lực cạnh tranh.


Đối với quỹ tín dụng nhân dân (QTDND), QTDND Trung ương đã hoàn thành việc chuyển mô hình hoạt động thành Ngân hàng Hợp tác xã nhằm thực hiện tốt mục tiêu liên kết hệ thống, hỗ trợ tài chính và điều hòa vốn trong hệ thống các QTDND, góp phần giúp các QTDND cơ sở hoạt động hiệu quả theo nguyên tắc hợp tác xã.

Thứ ba, năng lực tài chính của hệ thống ngân hàng đang từng bước được lành mạnh thông qua tăng vốn điều lệ và xử lý nợ xấu. Đến cuối tháng 12/2018, tổng tài sản của hệ thống các TCTD đạt 11,06 triệu tỷ đồng, tăng 10,62% so với năm 2017, cho vay thị trường 1 đạt 7,02 triệu tỷ đồng, tăng 14,16% so với năm 2017, huy động vốn từ thị trường 1 đạt 8,28 triệu tỷ đồng, tăng 12,3% so với cuối năm 2017. Tổng dư nợ cho vay khách hàng tăng trưởng cùng với mặt bằng lãi suất tiếp tục duy trì ổn định thực sự đã có tác dụng hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Dù gặp nhiều khó khăn nhưng các TCTD vẫn nỗ lực cải thiện năng lực tài chính và tăng vốn điều lệ để tạo điều kiện mở rộng hoạt động và nâng cao khả năng đối phó với các rủi ro trong hoạt động. Sự ổn định, an toàn của hệ thống các TCTD được giữ vững. Đến cuối tháng 12/2018, tỷ lệ an toàn vốn bình quân của hệ thống đạt 12,1% (mức tối thiểu theo quy định là 9%), tỷ lệ dự trữ thanh khoản bình quân đạt 17,4%, hầu hết các TCTD đạt các tỷ lệ, giới hạn an toàn theo quy định của pháp luật. Trong đó, một số TCTD đủ điều kiện đã được NHNN trao quyết định chấp thuận áp dụng sớm tiêu chuẩn an toàn vốn theo phương pháp tiêu chuẩn của Basel II.

Hoạt động xử lý nợ xấu trong hệ thống ngân hàng được thực hiện quyết liệt và đã đạt được những kết quả nhất định: Dưới sự chỉ đạo quyết liệt của NHNN Việt Nam, cùng với các giải pháp xử lý nợ xấu, cũng như các biện pháp kiểm soát, phòng ngừa nợ xấu mới phát sinh được triển khai đồng bộ đã góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả tín dụng, đồng thời giảm nợ xấu, đến cuối năm 2018 nợ xấu trong toàn hệ thống khoảng 1,89%.

Việc đưa ra mục tiêu tỷ lệ nợ xấu gộp (gồm nợ xấu nội bảng, nợ bán cho VAMC chưa được xử lý và nợ xấu tiềm ẩn) về mức 3% đến năm 2020 thay cho chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu thường thấy trước đây đã giúp cho công tác quản lý nợ xấu tại các cơ quan quản lý cũng như TCTD đi vào thực chất hơn; trong công tác quản lý thì Chính phủ, NHNN và các cơ quan ban, ngành có liên quan đã có nhiều văn bản chỉ đạo điều hành, đặc biệt là Nghị quyết 42 đã giúp các TCTD tháo gỡ nhiều nút thắt trong công tác xử lý nợ xấu, vì vậy công tác này đã đạt được nhiều thành quả đáng khích lệ. Đến cuối năm 2018, nợ xấu nội bảng giảm từ 2,55% năm 2015 xuống


1,89% và tỷ lệ nợ xấu gộp từ 10,08% năm 2016 xuống còn 5,85%. Nếu tính từ năm 2012 đến cuối tháng 8/2019, toàn hệ thống ngân hàng đã xử lý được 968,89 nghìn tỷ đồng nợ xấu, trong đó chỉ riêng năm 2018, toàn hệ thống đã xử lý được 163,14 nghìn tỷ đồng nợ xấu; tỷ lệ nợ xấu nội bảng, nợ bán cho VAMC chưa xử lý và nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu của hệ thống TCTD tính đến hết tháng 8/2019 ở mức 4,84%, giảm mạnh so với mức 10,08% cuối năm 2016, mức 7,36% cuối năm 2017 và mức 5,85% cuối năm 2018. Về kết quả xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42, lũy kế từ ngày 15/8/2017 đến cuối tháng 8/2019, toàn hệ thống TCTD đã xử lý được 236,8 nghìn tỷ đồng nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42, trong đó, xử lý nợ xấu nội bảng đạt 137,7 nghìn tỷ đồng. Dưới đây là tỷ lệ nợ xấu và xử lý nợ xấu giai đoạn 2015 -2018:

Bảng 4.2: Tỷ lệ nợ xấu và kết quả xử lý nợ xấu giai đoạn 2015-2018

Chỉ tiêu

Đơn vị tính

Năm 2015

Năm 2016

Năm 2017

Năm 2018

1. Tỉ lệ nợ xấu






Theo NHNN

%

2,55

2.46

2

1,89

Theo UBGSTCQG

%




2,4

2. Tỉ lệ nợ xấu gộp






Theo NHNN

%


10,08

7,36

5,85

Theo UBGSTCQG

%

8,85

11,9

9,5


3. Nợ xấu đã xử lý

Tỉ đồng


95.000

70.000


4. Nợ xấu tại

VAMC

Tỉ đồng





Mua lũy kế

Tỉ đồng

228,416

264,755

307,932

280.000

Đã được xử lý

Tỉ đồng


20,697

30,700

100.000

Có thể bạn quan tâm!

Xem toàn bộ 130 trang: Cải cách hệ thống ngân hàng nhật bản giai đoạn 1990 – 2005 và một số hàm ý cho Việt Nam

Cải cách hệ thống ngân hàng nhật bản giai đoạn 1990 – 2005 và một số hàm ý cho Việt Nam - 12

Nguồn: NHNN, VAMC, UBGSTCQG

Thứ tư, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về tiền tệ và ngân hàng, nâng cao và trò và hiệu quả quản lý nhà được, chỉ đạo, điều hành của NHNN trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng hỗ trợ cơ cấu lại các TCTD. NHNN cũng tiếp tục hoàn thiện các quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng; quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng; ủy thác, nhận ủy thác, quy định về quản lý rủi ro của các TCTD.

Thứ năm, công tác thanh tra, giám sát được tăng cường, đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng và hỗ trợ đắc lực cho việc triển khai Đề án cơ cấu lại các TCTD, đặc biệt về cơ cấu tổ chức và hoạt động. Kết quả công tác thanh tra, giám sát ngày càng được đổi mới theo hướng thanh tra, giám sát pháp nhân, kết hợp thanh tra, giám sát tuân thủ với thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro.


Năm 2018, Brand Finance đã công bố 500 thương hiệu ngân hàng giá trị nhất thế giới trong đó có 3 ngân hàng Việt Nam (VietinBank, BIDV, Vietcombank); tổ chức đánh giá tín nhiệm Moody’s Investors Service tiến hành nâng hạng một số đánh giá đối với 14 ngân hàng thương mại của Việt Nam và điều chỉnh mức xếp hạng hệ thống ngân hàng Việt Nam từ mức B1 “triển vọng tích cực” lên mức Ba3 “triển vọng ổn định”. Đây là tín hiệu cho thấy, công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng, công tác cơ cấu lại và xử lý nợ xấu hệ thống các TCTD giai đoạn 2016-2020 đang đi đúng hướng, bước đầu thu được những kết quả tích cực, được các tổ chức xếp hạng quốc tế ghi nhận.

4.2.2.3. Những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân

Mặc dù đã đạt được những thành tựu nêu trên nhưng việc triển khai thực hiện Đề án cơ cấu lại TCTD và Đề án Xử lý nợ xấu còn một số tồn tại, hạn chế như sau:

Thứ nhất, Việt Nam chưa có một thị trường mua bán nợ thực sự khi các TCTD vẫn chủ yếu bán nợ cho VAMC và Công ty Mua bán nợ Việt Nam (DATC) do Nhà nước làm chủ sở hữu. Nghị quyết số 42/2017/QH14 quy định các TCTD được bán các khoản nợ xấu và tài sản bảo đảm liên quan một cách công khai, minh bạch, theo quy định của pháp luật và giá bán phù hợp với giá thị trường, cao hơn hoặc thấp hơn dư nợ gốc của khoản nợ. Trên thực tế, việc mua bán nợ giữa các TCTD với nhau và giữa các nhà đầu tư nhất là đầu tư nước ngoài với TCTD chưa diễn ra.

Hiện điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ khá cao (tối thiểu vốn điều lệ 100 tỷ đồng đối với doanh nghiệp kinh doanh hoạt động mua bán nợ và tối thiểu 500 tỷ đồng đối với doanh nghiệp thành lập sàn giao dịch nợ, yêu cầu về quản lý nội bộ). Bên cạnh đó, nước ta còn chưa có thị trường vốn thứ cấp và phái sinh đối với các khoản nợ nên bên mua nợ rất khó khăn khi muốn chuyển nhượng các khoản nợ. Các sản phẩm phái sinh như chứng khoán bảo đảm bằng tài sản đều chưa có dẫn đến không thu hút được các nhà đầu tư mua bán các khoản nợ.

Thứ hai, rủi ro tín dụng hiện hữu khi một số tập đoàn đã có những khoản vay rất lớn từ hệ thống NHTM. Mặc dù tại thời điểm vay, tình hình tài chính và các yếu tố nội tại của các tập đoàn này đều ổn định, nhưng những diễn biến khó lường của tình hình kinh tế thế giới có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình sản xuất kinh doanh của tập đoàn có quy mô lớn, từ đó gia tăng rủi ro cho hệ thống ngân hàng. Chẳng hạn, Vingroup – được xem như là “chaebol” kiểm soát một phần lớn trong hệ thống sản xuất, phân phối tại Việt Nam trong những năm gần đây – đã và đang mở rộng quy mô hoạt động sang nhiều lĩnh vực như bất động sản, bán lẻ, ô tô, xe máy, điện thoại, hàng không, dịch vụ du lịch, giải trí, giáo dục, nông nghiệp, thời trang, y tế,


dược phẩm… Việc Vingroup kinh doanh những lĩnh vực khá mạo hiểm như sản xuất ô tô tiềm ẩn rủi ro đối với hệ thống ngân hàng và toàn bộ nền kinh tế khi tập đoàn này huy động một lượng vốn lớn từ ngân hàng thông qua hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Tính đến tháng 8/2018, tổng các khoản vay và nợ của tập đoàn Vingroup ước đạt trên 30 nghìn tỷ đồng. Tháng 10/ 2018, tổ chức xếp hạng tín nhiệm Fitch Ratings hạ triển vọng của Vingroup từ ổn định xuống tiêu cực do Vingroup vay vốn để tài trợ cho lĩnh vực sản xuất ô tô, xe máy điện VinFast, làm cho rủi ro đòn bẩy tài chính tăng lên.

Thứ ba, một trong những khó khăn lớn nhất là việc thu giữ tài sản bảo đảm; theo Nghị quyết 42 thì quyền thu giữ tài sản bảo đảm phải đi kèm với điều kiện là hồ sơ thế chấp giữa khách hàng và các TCTD phải có thỏa thuận về các điều khoản thu giữ tài sản bảo đảm, song thực tế là tính đến thời điểm Nghị quyết 42 có hiệu lực, đa số các hợp đồng thế chấp không có điều khoản này, như vậy muốn thực hiện được thì các TCTD phải tiến hành đàm phán với khách hàng vay để ký phụ lục hợp đồng điều chỉnh, tuy nhiên đối với những khoản nợ xấu đã phát sinh thì thuyết phục khách hàng trả nợ vay đã khó, thuyết phục khách hàng ký phụ lục hợp đồng còn khó khăn hơn rất nhiều.

Cũng theo Nghị quyết 42, quy định về trách nhiệm của cơ quan công an, chính quyền địa phương các cấp trong quá trình thu giữ tài sản rất chung chung nên còn gặp không ít khó khăn trong việc phối hợp xử lý nợ; Thời gian giải quyết vụ án thường kéo dài, việc thực hiện theo phán quyết của tòa án còn chậm do cách hiểu khác nhau; đối với tài sản cầm cố là tàu, đặc biệt là tàu thủy có hoạt động ở vùng biển quốc tế hay xe ôtô, TCTD không xác định được vị trí các tài sản đang cầm cố để lưu giữ thu hồi xử lý nợ, chưa có văn bản hướng dẫn phối hợp với cơ quan chức năng trong và ngoài nước trong việc giữ tài sản cầm cố đối với những trường hợp cụ thể như trên để thu hồi nợ; Thẩm định giá để bán các khoản nợ chưa thống nhất, một trong những khó khăn trong án các khoản nợ xấu là việc xác định giá trị khoản nợ theo giá thị trường để làm cơ sở mua, bán nợ còn gặp nhiều khó khăn khi việc định giá khoản nợ được các tổ chức thẩm định giá thực hiện nhưng chưa có một chuẩn mực thống nhất, có nhiều khác biệt về phương pháp thẩm định, cũng như các tiêu chí định giá còn có những khác biệt giữa các tổ chức thẩm định giá, dẫn đến việc bên bán khoản nợ không dám quyết định do lo ngại mức giá bán đưa ra mang tính chủ quan và có thể thấp hơn so với giá trị khoản nợ, còn người mua cũng gặp khó khăn việc lựa chọn giá thị trường để tham khảo cho giao dịch mua nợ. Một số trường hợp tài sản là nhà tình nghĩa, tình thương hoặc tài sản bảo lãnh là tài sản của bên thứ 3 bảo lãnh cho cá nhân, doanh nghiệp vay vốn, tài sản bảo lãnh là nhà ở xã hội, trong


đó tiền mua tài sản một phần là của chủ tài sản, phần còn lại là tiền tài trợ từ quỹ an sinh xã hội nên khi thi hành án rất lúng túng vì ảnh hưởng đến công tác an sinh xã hội; Việc chuyển nhượng hoặc ủy thác quản lý các khoản nợ đối với các khoản mua bán còn gặp nhiều khó khăn vì hiện nay chưa có thị trường nợ thứ cấp; tương tự, hiện tại chưa có nghiệp vụ phái sinh như chứng khoán hóa tài sản, chứng khoán hóa nợ thường và nợ xấu, dẫn đến thanh khoản của các khoản nợ không cao,…

Thứ tư, việc xử lý những tồn tại, yếu kém về tài chính và hoạt động ở một số TCTD, nhất là TCTD thuộc các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước chưa được triển khai quyết liệt. Sự án toàn, lành mạnh của hệ thống ngân hàng được cải thiện rõ rệt nhưng chưa đồng đều giữa các TCTD, trong đó một số TCTD chưa thực sự an toàn, vững chắc. Quy mô và năng lực cạnh tranh của nhiều TCTD chưa được cải thiện mạnh mẽ; năng lực quản trị, điều hành của nhiều TCTD còn hạn chế, phải mất nhiều thời gian để thực hiện đầy đủ các chuẩn mực, thông lệ quốc tế.

Thứ năm, vấn đề sở hữu chéo (cùng với vấn đề nợ xấu) đang là hai rào cản lớn nhất đối với quá trình tái cấu trúc hệ thống NHTM Việt Nam hiện nay. Mặc dù có đến 24/45 giải pháp trong Đề án 254 liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến xử lý sở hữu chéo trong hệ thống các TCTD nhưng đến nay sở hữu chéo vẫn có diễn biến phức tạp và tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với từng TCTD nói riêng và cả hệ thống tài chính nói chung. Hệ thống các TCTD Việt Nam hiện đang tồn tại 6 nhóm sở hữu chéo khác nhau: (i) sở hữu của các NHTM trong nước và nước ngoài tại các ngân hàng liên doanh; (ii) cổ đông chiến lược nước ngoài tại các NHTM trong nước; (iii) cổ đông tại ngân hàng là các công ty quản lý quỹ; (iv) sở hữu của các NHTMNN tại các NHTMCP; (v) sở hữu lẫn nhau giữa các NHTMCP; (vi) sở hữu NHTMCP bởi các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và tư nhân. Do đó, quá trình xử lý những tác động tiêu cực từ mạng lưới sở hữu chéo này càng phức tạp và mất nhiều thời gian.

Thứ sáu, các diễn biến phức tạp về tình hình căng thẳng thương mại và các rủi ro khác trên toàn cầu chưa được đề cập như một yếu tố quan trọng nên được xem xét trong quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng của Việt Nam. Rủi ro từ chiến tranh thương mại Hoa Kỳ - Trung Quốc cũng ảnh hưởng tới mục tiêu ổn định thị trường tiền tệ, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam khi Trung Quốc bắt đầu phá giá đồng nhân dân tệ từ ngày 8/8/2019. Bên cạnh đó, ngày 29/5/2019, Bộ Tài chính Hoa Kỳ đã công bố Báo cáo định kỳ bán niên về chính sách kinh tế vĩ mô và ngoại hối của các đối tác thương mại lớn của Hoa Kỳ đã đưa Việt Nam vào danh sách theo dõi về việc thao túng tiền tệ (theo Bộ Tài chính Hoa Kỳ định nghĩa thao túng tiền tệ là việc một quốc gia cố ý điều chỉnh tỉ giá để tác động đến cán cân thanh toán, hoặc đạt được lợi thế cạnh tranh không lành mạnh trong thương mại quốc tế). Hoa Kỳ từng


gắn mác thao túng tiền tệ đối với Nhật Bản (năm 1988), Đài Loan, Trung Quốc (năm 1988- 1992), Trung Quốc (năm 1992-1994). Khi bị cáo buộc là thao túng tiền tệ thì Hoa Kỳ sẽ có những biện pháp can thiệp qua việc đàm phán để các quốc gia khác điều chỉnh chính sách tỉ giá của họ, hoặc áp dụng các biện pháp trừng phạt như áp thuế suất cao hơn đối với quốc gia đó.

Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế:

Mặc dù còn có những ý kiến khác nhau về nguyên nhân chính của những hạn chế trong quá trình tái cấu trúc hệ thống các TCTD trong những năm vừa qua, đa số các nhà hoạch định chính sách và giới học giả đã thống nhất về những nguyên nhân chủ yếu sau:

Thứ nhất, khuôn khổ pháp lý, chính sách hỗ trợ cho quá trình tái cấu trúc các tổ chức tín dụng vẫn chưa hoàn thiện, đặc biệt còn thiếu những cơ chế quan trọng như (i) can thiệp, xử lý của Nhà nước đối với các TCTD yếu kém dẫn đến xử lý chưa kịp thời, dứt điểm pháp nhân của các tổ chức tín dụng yếu kém; (ii) khuyến khích TCTD trong xử lý nợ xấu và các tài sản đảm bảo tiền vay, các cơ chế, chính sách miến giảm thuế liên quan đến giao dịch sáp nhập, hợp nhất, mua lại các TCTD.

Thứ hai, trong quá trình tái cấu trúc, các TCTD phải vừa đảm bảo chấn chỉnh, xử lý những tồn tại, yếu kém vừa phải tiếp tục tăng trưởng, thậm chí trong chừng mực nào đó còn hỗ trợ nền kinh tế; hầu hết những rủi ro, tổn thất phát sinh trong quá trình này TCTD phải tự gánh chịu. Do đó, áp lực thực hiện mục tiêu tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ cho nền kinh tế có thể ảnh hưởng đến tiến độ và kết quả thực hiện các giải pháp tái cơ cấu đã đề ra.

Thứ ba, quá trình tái cơ cấu DNNN, đặc biệt là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước tuy đạt được kết quả ban đầu nhưng vẫn còn chậm và chưa đạt được hiệu quả như mong muốn, đặc biệt, trong việc thoái vốn đầu tư ở các TCTD và xử lý nợ xấu với các TCTD. Thậm chí, một số DNNN sở hữu TCTD không đủ năng lực tài chính để xử lý những tổn thất tài chính và tái cấu trúc TCTD, khiến quá trình xử lý các TCTD thuộc các doanh nghiệp này diễn ra chậm hơn so với kế hoạch.

Thứ tư, cơ quan xử lý nợ xấu tập trung (VAMC) hoạt động còn hạn chế do năng lực tài chính, nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng hoạt động còn hạn chế, cơ chế tài chính chưa phù hợp, đặc biệt là thiếu một thị trường mua bán nợ để triển khai mua bán nợ theo cơ chế thị trường và xử lý các khoản nợ xấu đã mua.

Thứ năm, một số bên liên quan chưa chủ động, tích cực triển khai các giải pháp tái cơ cấu và xử lý nợ xấu thuộc trách nhiệm được giao.


4.3. KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP CẢI CÁCH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM TỪ GÓC ĐỘ KINH NGHIỆM CẢI CÁCH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG NHẬT BẢN

Xét từ góc độ lý thuyết và kinh nghiệm cải cách hệ thống ngân hàng của Nhật Bản giai đoạn từ những năm 1990 đến 2005, có thể thấy quá trình cải cách hệ thống ngân hàng và xử lý nợ xấu trong hệ thống ngân hàng của Việt Nam mới ở giai đoạn đầu và chủ yếu vẫn tập trung vào các giải pháp ngắn hạn. Trong thời gian tới, Việt Nam cần đẩy nhanh hơn nữa quá trình xử lý nợ xấu hiện tại trong hệ thống ngân hàng thương mại (thông qua việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và tăng cường năng lực cho VAMC; phát triển thị trường mua bán nợ…) cũng như quan tâm hơn nữa đến xử lý các nguyên nhân mang tính hệ thống (thông qua các biện pháp tái cấu trúc ngân hàng, áp dụng tiêu chuẩn quản trị rủi ro hiện đại; kết hợp với cải cách các khu vực kinh tế khác…) để ngăn ngừa các khoản nợ xấu mới hình thành trong tương lai, bảo đảm tính bền vững của quá trình và các giải pháp tái cấu trúc.

4.3.1. Giải pháp nâng cao năng lực điều tiết nền kinh tế thông qua các công cụ chính sách

4.3.1.1. Đối với Ngân hàng Nhà nước

- Xây dựng cơ sở pháp lý để bảo đảm NHNN có thể chủ động lựa chọn sử dụng các công cụ giải pháp,… nhằm thực hiện được mục tiêu hoạt động của mình.

- Hoàn thiện bộ máy tổ chức, nâng cao chất lượng nhân sự của NHNN.

- Đổi mới cơ chế quản lý, điều hành tổ chức: Cần phải xây dựng và từng bước áp dụng một hệ thống quản lý mới nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của NHNN.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác chuyên môn và quản lý. Hoàn thiện các hệ thống thông tin quản lý, các cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin.

Hoàn thiện cơ chế phân cấp, ủy quyền thích hợp nhằm chuẩn hóa, tối ưu hóa quá trình ra quyết định, thực thi quyết định và nâng cao tính linh hoạt của NHNN.

4.3.1.2. Tạo lập khuôn khổ pháp lý cho các NHTM thực hiện cải cách

Trên cơ sở kinh nghiệm áp dụng các chính sách hỗ trợ tài chính, giảm chi phí và lộ trình tuân thủ các quy định an toàn của Nhật Bản trong quá trình cải cách hệ thống ngân hàng nước này, Việt Nam có thể cân nhắc áp dụng:

Thứ nhất, cần có các chính sách, quy định về miễn, giảm thuế, phí hợp lý liên quan đến mua bán nợ xấu và các tài sản bảo đảm tiền vay; miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp trong một số năm đối với các NHTM sau khi thực hiện mua lại, sáp nhập, hợp nhất; miễn, giảm thuế, phí nhằm khuyến khích các NHTM tham gia tích


cực vào quá trình xử lý các NHTM “yếu kém”, hỗ trợ các NHTM này giảm gánh nặng về tài chính trong quá trình tái cơ cấu và xử lý nợ xấu.

Thứ hai, có chính sách cho vay, hỗ trợ nguồn vốn với mức lãi suất hợp lý dưới hình thức tái cấp vốn đối với các NHTM tham gia tái cơ cấu các NHTM “yếu kém” từ nguồn tiền cung ứng của NHNN để bảo đảm khả năng chi trả và tạo nguồn vốn cho mở rộng hoạt động.

Thứ ba, cho phép các NHTM tham gia xử lý các NHTM “yếu kém” thực hiện có lộ trình việc trích lập dự phòng rủi ro theo quy định nhằm hỗ trợ về thời gian cho NHTM khắc phục tồn tại tài chính cũng như hỗ trợ các NHTM tái cơ cấu, sáp nhập, hợp nhất giảm bớt áp lực về thời gian xử lý tổn thất.

Thứ tư, cho phép các NHTM tham gia xử lý các NHTM “yếu kém” (thông qua sáp nhập, hợp nhất) được duy trì và có lộ trình xử lý một số vi phạm phát sinh do việc sáp nhập, hợp nhất, cơ cấu lại như sở hữu cổ phần, cấp tín dụng… vượt giới hạn, chưa đáp ứng đầy đủ các tỷ lệ an toàn hoạt động.

4.3.2. Giải pháp nâng cao khả năng ứng phó của hệ thống ngân hàng khi có khủng hoảng xảy ra

4.3.2.1. Thanh tra, giám sát các NHTM yếu kém

Kinh nghiệm của Nhật Bản cho thấy, tăng cường thanh tra, giám sát các NHTM yếu kém là điều kiện quan trọng trong phòng ngừa khủng hoảng và nguy cơ lan truyền khủng hoảng dẫn đến đổ vỡ hệ thống, áp dụng vào hoàn cảnh Việt Nam hiện nay, để tăng cường hiệu lực, hiệu quả về thanh tra giám sát, cần lưu ý:

Thứ nhất, xây dựng và công khai hệ thống chỉ tiêu thanh tra, giám sát. Hệ thống chỉ tiêu này cần được công khai, minh bạch đối với các NHTM để ngân hàng có thể tự đánh giá được hiệu quả và an toàn trong hoạt động của bản thân mình theo quan điểm của NHNN. Hệ thống chỉ tiêu này phải phù hợp thông lệ quốc tế và định hướng xây dựng dựa trên rủi ro (risk-based supervision), vì hiện nay, các cuộc thanh tra mang tính chất định kỳ và dựa trên nguyên tắc thanh tra tuân thủ đã không phản ánh được hết các nguy cơ rủi ro mà các ngân hàng thương mại có thể gặp phải và cách tiếp cận mới này giúp xác định, đo lường, kiểm soát được các loại rủi ro và mức độ rủi ro mà ngân hàng có thể gặp phải.

Thứ hai, tăng cường cơ chế phối hợp thông tin giữa Cơ quan Thanh tra, giám sát với các NHTM, Cục Công nghệ tin học ngân hàng và Trung tâm thông tin tín dụng. Thanh tra NHNN sẽ trực tiếp khai thác thông tin và nhận các thông tin báo cáo từ Hội sở chính các NHTM NN, NHTM CP, Ngân hàng nước ngoài, Ngân hàng liên doanh, Công ty tài chính, Công ty cho thuê tài chính… với sự hỗ trợ khai thác của Cục Công nghệ tin học ngân hàng và Trung tâm thông tin tín dụng (CIC). Theo đó,


các chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố chỉ tiếp nhận thông tin của các quỹ TDND cơ sở và khai thác các thông tin khác thống nhất từ CIC, nhằm đảm bảo tính chính xác, kịp thời cho công tác giám sát, đồng thời cũng đảm bảo tính thống nhất trong số liệu thống kê cho toàn ngành cũng như cho từng TCTD.

Thứ ba, hoàn thiện cơ chế giám sát từ xa và giám sát hậu tái cơ cấu. Theo đó bộ phận giám sát từ xa có đủ năng lực thực hiện tốt các chức năng: (i) tiếp nhận dữ liệu về báo cáo tài chính của ngân hàng và xác nhận tính hợp lệ của chúng; (ii) đánh giá tình hình chung của hệ thống ngân hàng và đưa ra tình huống về những thay đổi về tài chính quan sát được tại từng ngân hàng; (iii) phát hiện những ngân hàng sẽ có vấn đề trong các báo cáo cảnh báo sớm; (iv) cung cấp số liệu và tính toán tình hình các ngân hàng cho báo cáo đánh giá xếp hạng; (v) thiết kế và giám sát các hoạt động thanh tra và có biện pháp khắc phục kịp thời với từng ngân hàng sau thanh tra.

Thứ tư, về dài hạn cần có lộ trình xây dựng mô hình giám sát tài chính hợp nhất. Để hạn chế những yếu kém của hệ thống NHTM nói riêng và phát huy vai trò giám sát hiệu quả đối với việc phát triển của thị trường tài chính nói chung, Việt Nam cần xây dựng một hệ thống giải pháp gồm cả những giải pháp ngắn hạn và dài hạn để đảm bảo sự phát triển an toàn và bền vững của thị trường tài chính thông qua việc xây dựng một hệ thống giám sát tài chính quốc gia có hiệu quả.

4.3.2.2. Nâng cao vai trò của cơ quan bảo hiểm tiền gửi

Kinh nghiệm từ Nhật Bản và nhiều nước cho thấy, cần nâng cao vai trò của cơ quan bảo hiểm tiền gửi (BHTG) trong xử lý các NHTM yếu kém. Áp dụng trong trường hợp của Việt Nam, BHTG Việt Nam cần hướng tới mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng và giảm thiểu rủi ro. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, điều chỉnh hạn mức chi trả BHTG phù hợp với thông lệ quốc tế và giúp duy trì lòng tin của người gửi tiền từ đó góp phần duy trì ổn định hệ thống tài chính. Cụ thể, cần có cơ chế điều chỉnh hạn mức BHTG linh hoạt tương ứng với tình trạng hệ thống tài chính ngân hàng, nâng cao hạn mức chi trả BHTG trong giai đoạn khủng hoảng và đưa về mức bình thường khi hệ thống ổn định trở lại. Đặc biệt, cần có cơ chế bảo hiểm không giới hạn cũng cần được quan tâm trong trường hợp xảy ra khủng hoảng tài chính.

Thứ hai, đổi mới hệ thống phí BHTG theo mức độ rủi ro. Cần nhanh chóng nghiên cứu và hoàn thiện khung phí bảo hiểm tiền gửi theo mức độ rủi ro nhằm tạo động lực cho các tổ chức tín dụng hoạt động an toàn hơn, đảm bảo sự ổn định, bền vững của cả hệ thống (việc xếp hạng các TCTD phải được tiến hành định kỳ để BHTG Việt Nam có căn cứ áp dụng mức tính phí đối với các tổ chức tham gia BHTG). Trong điều kiện xảy ra khủng hoảng ngân hàng, cần có cơ chế cho phép tổ


chức BHTG nâng tỷ lệ phí BHTG ở mức phù hợp. Kinh nghiệm Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan đã cho phép tổ chức BHTG nước họ thu thêm những khoản phí đặc biệt khi xảy ra khủng hoảng hệ thống. Tuy nhiên, nếu tỷ lệ này thấp sẽ không đáp ứng được nhu cầu vốn của tổ chức BHTG, nhưng nếu tỷ lệ cao quá cũng làm suy giảm lợi nhuận, gây khó khăn hơn nữa cho hoạt động của các TCTD.

Thứ ba, cần thể chế hóa sự phối hợp giữa BHTG Việt Nam với NHNN, Bộ Tài chính, Kiểm toán Nhà nước và các cơ quan liên quan nhằm xây dựng và triển khai có hiệu quả hệ thống phí bảo hiểm theo mức độ rủi ro; đặc biệt là trong việc xây dựng quy chế, quy định xếp hạng các TCTD, trong quá trình phòng ngừa và xử lý đổ vỡ của các TCTD.

Thứ tư, cần xây dựng cơ chế chia sẻ thông tin đối với BHTG. Luật BHTG quy định tổ chức BHTG “tổng hợp, phân tích và xử lý thông tin về tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi nhằm phát hiện và kiến nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xử lý kịp thời những vi phạm quy định về an toàn hoạt động ngân hàng, rủi ro gây mất an toàn trong hệ thống ngân hàng” – thực hiện nhiệm vụ này, BHTG cần có nguồn thông tin kịp thời, chính xác, đầy đủ về các tổ chức tham gia BHTG. Vì vậy, cơ chế chia sẻ thông tin giữa BHTG, NHNN, các cơ quan liên quan, các tổ chức cung cấp thông tin trong và ngoài nước, và các tổ chức tham gia BHTG cần được hoàn thiện (đặc biệt là những thông tin nhạy cảm như các tổ chức tín dụng gặp vấn đề cần cơ cấu lại).

Thứ năm, cần xây dựng cơ chế tham gia xử lý đổ vỡ các TCTD cho BHTG. Để BHTG Việt Nam chủ động hơn trong việc quản lý, thanh lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, cần có quy định hướng dẫn về quyền hạn xử lý đổ vỡ của BHTG đối với từng nhóm TCTD. Ví dụ, đối với các TCTD đổ vỡ có quy mô nhỏ, BHTG Việt Nam có toàn quyền xử lý. Đối với các TCTD lớn hơn, BHTG cần có cơ chế tham gia tích cực vào quá trình xử lý đổ vỡ này.

Thứ sáu, xây dựng cơ chế mở rộng lĩnh vực đầu tư cho BHTG. Ngoài việc mua trái phiếu chính phủ hiện nay, khi đạt được quỹ mục tiêu thì BHTG có thể cân nhắc kênh đầu tư khác để làm tăng nguồn vốn mà vẫn đảm bảo an toàn hệ thống. Khi đã có quy chế xếp hạng tín dụng các TCTD, BHTG có thể đầu tư tại những TCTD được xếp hạng tín dụng đạt tiêu chuẩn (như vậy trong cơ cấu đầu tư, trọng số chính vẫn là trái phiếu chính phủ, còn tỷ lệ đầu tư tại các kênh có độ an toàn cao khác sẽ do BHTG Việt Nam quyết định).

Thứ bảy, xây dựng cơ chế để BHTG huy động vốn bù đắp thâm hụt quỹ BHTG trong trường hợp xảy ra khủng hoảng. Cần sớm có quy định trong điều kiện cụ thể về thời gian tối đa xét duyệt hồ sơ xin hỗ trợ tài chính của tổ chức BHTG để đáp ứng nhu cầu cấp bách về vốn của tổ chức BHTG, đặc biệt, trong những trường


hợp xảy ra đột biến rút tiền gửi gây nguy cơ khủng hoảng hệ thống ngân hàng. Có thể xem xét cấp cho tổ chức BHTG một hạn mức tín dụng dự phòng tỷ lệ với tổng số tiền gửi được bảo hiểm (hạn mức tín dụng dự phòng này cần được nghiên cứu để đảm bảo cho quỹ BHTG có thể đối phó tốt với hiện tượng rút tiền hàng loạt ở nhiều TCTD tại cùng một thời điểm). Ngoài ra, cần có cơ chế để tổ chức BHTG tự phát hành trái phiếu để bù đắp thiếu hụt quỹ BHTG trong giai đoạn khủng hoảng (nguồn để chi trả chính là phí BHTG được các tổ chức tham gia BHTG nộp vào sau đó) và cơ chế cho phép tổ chức BHTG yêu cầu các tổ chức tham gia BHTG đóng phí trước trong giai đoạn khủng hoảng hệ thống và quỹ BHTG thâm hụt (đây là giải pháp được FDIC (Hoa Kỳ) áp dụng cuối năm 2009 để bù đắp cho thâm hụt quỹ BHTG).

Thứ tám, xác định quỹ BHTG mục tiêu (là tỷ lệ nguồn vốn quỹ BHTG tính trên số dư tiền gửi được bảo hiểm cần đạt được nhằm đảm bảo tổ chức BHTG có thể thực thi trách nhiệm chi trả). Cần quy định rõ quỹ BHTG mục tiêu của Việt Nam nhằm nhằm thực hiện thông lệ quốc tế tốt nhất về bảo hiểm tiền gửi và đảm bảo quỹ BHTG đủ lớn để triển khai tốt các hoạt động nghiệp vụ. Tuy nhiên, tỷ lệ quỹ BHTG tính trên số dư tiền gửi được bảo hiểm bao nhiêu là hợp lý thì cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng để đảm bảo yêu cầu tổ chức bảo hiểm tiền gửi có đủ nguồn lực giải quyết tốt trong trường hợp xảy ra đổ vỡ ngân hàng (Quỹ BHTG mục tiêu thường được xác định trong Luật điều chỉnh hoạt động bảo hiểm tiền gửi của các quốc gia có hệ thống BHTG phát triển như Mỹ, Canada, Đài Loan, Indonesia, Philippines …; tỷ lệ quỹ BHTG tính trên số dư tiền gửi được bảo hiểm có sự biến động giữa các nước và dao động trong khoảng từ 0.25% đến 5%.).

4.3.2.3. Thiết lập hạ tầng tài chính vững chắc

Hạ tầng tài chính bao hàm: Các chuẩn mực, quy tắc, quy định về kế toán, kiểm toán, về quản trị doanh nghiệp; các hệ thống thanh toán; khuôn khổ pháp lý điều tiết và giám sát hoạt động thị trường tài chính nói riêng,... nhằm tới mục tiêu hỗ trợ cho hệ thống tài chính hoàn thành tốt vai trò trung gian tài chính của mình, bảo đảm về tốc độ và chi phí chu chuyển vốn, về khả năng truyền tải và phân tán rủi ro tài chính.Một hạ tầng tài chính vững mạnh rõ ràng là tiền đề quan trọng bảo đảm cho các định chế tài chính (quan trọng nhất là các NHTM) hoạt động tốt và các thị trường tài chính (bao gồm thị trường tiền tệ) vận hành trôi chảy. Nhờ đó, các cơ quan điều tiết và giám sát tài chính - ngân hàng mới có môi trường hoạt động cần thiết để phát huy đủ vai trò của mình. Ngược lại thiếu một hạ tầng tài chính vững chắc, các cơ quan điều tiết và giám sát tài chính - ngân hàng dù có cố gắng, nhưng có thể vẫn thất bại khi thi hành sứ mệnh của mình. Không ai khác, chính Chính phủ và các cơ quan tham mưu liên quan như doanh nghiệp nhà nước, Bộ Tài chính, ... phải đảm đương

Download pdf, tải về file docx

Bài viết tương tự

Gửi tin nhắn

Bimage 1

Danh mục

Bài viết tương tự

Bimage 2
Bimage 3

Home | Contact | About | Terms | Privacy policy
© 2022 Tailieuthamkhao.com | all rights reserved

Trang chủ Tài liệu miễn phí Thư viện số