Cải cách hệ thống ngân hàng nhật bản giai đoạn 1990 – 2005 và một số hàm ý cho Việt Nam - 15


137. Strauss-Kahn, Dominique, (2009), Need to fix banking sector for stimulus to work, IMF.

138. Tazaki, Shizuo (1993) “City banks are still drowning in an ocean of bad debt”, Tokyo Business Today; Tokyo 61.4 (Apr 1993): 46.

139. Takagi, Chair, Industrial Revitalization Commission, Japan (2003), “Inauguration and First stage of the Industrial Revitalization Corporation of Japan”, Forum for Asian Insolvency Reform.

140. Waxman, Margery, (1998), A legal framework for systemic bank restructuring, Banking The Legal Department. The World Bank, June 1998.

141. World Bank (2006), “Bank loan classification and provisioning practices in selected developed and emerging countries”, Report.

Webiste:

142. BOJ www.bis.or

143. http://vi.wikipedia.org/wiki.

144. https://vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_doanh

145. Marketbusinessnews.com/financial-glossary/commercial-bank

146. www.bidv.com.vn

147. www.sbv.gov.vn

148. www.agro.gove.vn (GATS)

149. www.jpmorgan.com

150. http://www.moodys.com. Moody's Investors Service. 2011.

151. https://Bloomberg_Markets


PHỤ LỤC

Bảng Phụ lục 1.

Niên đại các sự kiện liên quan đến ngành ngân hàng Nhật Bản, giai đoạn

1990 -2003


Năm

Tháng

Sự kiện


1991


Tháng 6

Một tiểu ban của Hội đồng nghiên cứu hệ thống tài chính cho Bộ trưởng Bộ tài chính đã công bố báo cáo cuối cùng về phi điều chỉnh và toàn cầu hóa hệ thống tài chính Nhật Bản, bao gồm các khuyến nghị cho phép các ngân hàng và các công ty chứng khoán được tham gia kinh doanh lẫn nhau thông qua

các công ty con.


Tháng 7

Ngân hàng Nhật Bản (BOJ) bắt đầu nới lỏng tiền tệ bằng cách

giảm lãi suất chiết khấu chính thức từ 6,0% (đặt vào tháng 8 năm 1990), mức cao nhất kể từ năm 1981, xuống còn 5,5%

Tháng 11

Lãi suất được tự do hóa đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 3 triệu

yên trở lên.


Tháng 12

Chính phủ quyết định nâng mức trần đối với các khoản vay ngân hàng liên quan đến bất động sản (được áp dụng vào tháng

4 năm 1990) kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1992.


1992


Tháng 6

Quốc hội đã thông qua các luật liên quan đến cải cách hệ thống tài chính, hạ thấp các rào cản ngăn cách giữa các ngân hàng và

các công ty bảo hiểm.


Tháng 8

Bộ Tài chính (MOF) đã công bố các hướng dẫn mới - Các hướng dẫn hiện tại về quản lý hành chính đối với ngành ngân hàng - để giúp làm dịu sự lo lắng về vấn đề nợ xấu của ngân

hàng.


Tháng 10

BTC đã ước tính tổng nợ xấu chưa xử lý của 21 ngân hàng lớn

nhất (ngân hàng thành phố, ngân hàng tín dụng dài hạn và ngân hàng ủy thác) là 12,3 nghìn tỷ yên tính đến tháng 9.

1993

Tháng 1

Công ty mua tín dụng hợp tác (CCPC), được thành lập bởi các

ngân hàng thương mại để mua các khoản nợ xấu của họ với

Có thể bạn quan tâm!

Xem toàn bộ 130 trang: Cải cách hệ thống ngân hàng nhật bản giai đoạn 1990 – 2005 và một số hàm ý cho Việt Nam

Cải cách hệ thống ngân hàng nhật bản giai đoạn 1990 – 2005 và một số hàm ý cho Việt Nam - 15




giá chiết khấu, bắt đầu đi vào hoạt động.

Tháng 2

BTC yêu cầu các tổ chức tài chính tư nhân mở rộng cho vay

đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ với lãi suất thấp hơn.

Tháng 6

Lãi suất tiền gửi có kỳ hạn được tự do hóa hoàn toàn.


1994


Tháng 4

Quyết định tự do hóa các khoản tiền gửi không có kỳ hạn bao gồm cả các khoản tiết kiệm bưu điện sẽ có hiệu lực vào tháng

Mười.


Tháng 12

BOJ, các tổ chức tài chính tư nhân và Chính quyền thành phố Tokyo đã công bố thỏa thuận thành lập một ngân hàng mới, Tokyo Kyodo Bank (vào tháng 3 năm 1995), để tiếp quản tài sản và nợ của Hiệp hội tín dụng Tokyo Kyowa và Hiệp hội tín

dụng Anzen.


1995


Tháng 3

Ngân hàng Tokyo Kyodo được thành lập, sau này trở thành Ngân hàng Thu hồi và Xử lý nợ để đảm nhận hoạt động của các hợp tác xã tín dụng thất bại và, từ tháng 9 năm 1996, cả

các tổ chức tài chính thất bại khác.


Tháng 6

BTC đã công bố gói năm năm giải quyết vấn đề về bảng cân đối tài sản của các ngân hàng thương mại - Tập đoàn Bảo hiểm tiền gửi (DIC) sẽ đảm bảo tất cả các khoản tiền gửi trong các ngân hàng gặp khó khăn sẽ được trả đúng hạn và trong vòng năm năm, một khuôn khổ cho sự ổn định tài chính đòi hỏi phải tự chịu trách nhiệm lớn hơn đối với người gửi tiền được thành

lập. Một ủy ban ổn định hệ thống tài chính được thành lập.


Tháng 7

Chính quyền thành phố Tokyo đã ra lệnh Hợp tác xã tín dụng

Cosmo phải đình chỉ hoạt động liên quan đến các khoản vay và tiền gửi mới.


Tháng 8

- Chính quyền tỉnh Osaka đã ra lệnh Hợp tác xã tín dụng Kizu đình chỉ hoạt động.

- BOJ đã công bố kế hoạch thanh lý Ngân hàng Hyogo và

thành lập một ngân hàng mới, Ngân hàng Midori.

Tháng 9

Ủy ban Ổn định hệ thống tài chính của Hội đồng nghiên cứu




hệ thống tài chính, ủy ban tư vấn của BTC, đã công bố một báo cáo tạm thời về các biện pháp tạo thuận lợi cho việc xử lý

nợ xấu sớm của các tổ chức tài chính.


Tháng 12

- Nội các đã phê chuẩn các biện pháp để giải quyết vấn đề Jusen bằng cách bơm vào 685 tỷ yên.

- Hội đồng nghiên cứu hệ thống tài chính đã đệ trình báo cáo về “Các biện pháp để duy trì sự ổn định trong hệ thống tài chính” của Bộ trưởng tài chính.

- BTC đã công bố “Các biện pháp để cải thiện kiểm tra và

giám sát ngân hàng”.


1996


Tháng 3

- MOF và BOJ đã công bố kế hoạch xử lý Ngân hàng Taiheiyo.

- Lãi suất bảo hiểm tiền gửi cơ bản tăng lên 0,048%.


Tháng 6

- Quốc hội đã thông qua sáu luật tài chính, để thành lập Tổng công ty quản lý cho vay nhà ở (HLAC), tăng cường chức năng của Tổng công ty bảo hiểm tiền gửi (DIC) và đưa ra hành động khắc phục kịp thời để đảm bảo quản lý tốt các tổ chức tài chính.

- Lãi suất bảo hiểm tiền gửi bổ sung, đối với quỹ đặc biệt mới

thành lập, được đặt thành 0,036% theo sắc lệnh của Nội các.

Tháng 7

DIC đã thành lập ra HLAC để giải quyết vấn đề Jusen.


Tháng 11

- Thủ tướng Chính phủ đã công bố kế hoạch 5 năm phi điều chỉnh hệ thống tài chính, cái gọi là Vụ nổ “tài chính Big Bang”.

- BTC đã ra lệnh cho Ngân hàng Hanwa đình chỉ hoạt động.


1997


Tháng 3

- Hokkaido Takushoku và Hokkaido Banks đã công bố kế hoạch sáp nhập của họ.

- Ngân hàng tín dụng Nippon trình bày một kế hoạch tái cấu

trúc đáng kể.

Tháng 6

- Quốc hội đã thông qua những thay đổi trong Luật Ngân hàng

Nhật Bản để tăng cường tính độc lập và tính minh bạch của




quá trình ra quyết định chính sách.

- Quốc hội đã thông qua những thay đổi trong Luật Chống độc quyền để dỡ bỏ lệnh cấm đối với các công ty cổ phần thuần túy.

- Quốc hội thông qua luật thành lập Cơ quan giám sát tài

chính.

Tháng 10

Ngân hàng Kyoto Kyoei tuyên bố kế hoạch thanh lý.


Tháng 11

- Công ty chứng khoán Sanyo xin tòa án cho áp dụng các thủ tục tái cấu trúc hợp pháp.

- Ngân hàng Hokkaido Takushoku tuyên bố không thể tiếp tục hoạt động kinh doanh và chuyển các hoạt động tại Hokkaido sang Ngân hàng Hokuyo.

- Công ty chứng khoán Yamaichi tuyên bố đóng cửa hoạt động kinh doanh.

- Ngân hàng thành phố Tokuyo tuyên bố đóng cửa và chuyển

hoạt động sang các ngân hàng khu vực khác.


Tháng 12

- Quốc hội thông qua hai luật liên quan đến các công ty mẹ trong lĩnh vực tài chính.

- Quốc hội đã thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi sửa đổi, trao

cho DIC quyền bù đắp tổn thất cho vay của các ngân hàng sáp nhập.


1998


Tháng 2

Quốc hội đã thông qua hai luật liên quan đến tài chính, cho phép chính phủ sử dụng 30 nghìn tỷ yên tiền công để bảo lãnh

cho các ngân hàng và bảo vệ người gửi tiền.


Tháng 3

Hai mươi mốt ngân hàng áp dụng cho việc bơm vốn công, hầu

như tất cả đều được Ủy ban Quản lý Khủng hoảng Tài chính chấp thuận hoàn toàn.

Tháng 4

Luật Ngân hàng Nhật Bản mới và Luật Kiểm soát Ngoại hối

mới có hiệu lực.

Tháng 5

Hanshin Bank tuyên bố sáp nhập với Midori Bank kể từ tháng

4 năm 1999.




Tháng 6

- Quốc hội đã thông qua bốn dự luật để thực hiện cải cách tài chính Big Bang.

- Cơ quan giám sát tài chính đã tạo ra, tiếp quản các chức năng giám sát và kiểm tra hệ thống tài chính từ BTC.

- Ngân hàng tín dụng dài hạn Nhật Bản tuyên bố sáp nhập với

Sumitomo Trust Bank kể từ tháng 4 năm 1999. (Đến tháng 9, rõ ràng việc sáp nhập sẽ không diễn ra.)

Tháng 8

Ngân hàng tín dụng dài hạn công bố các biện pháp tái cấu trúc

đáng kể.


Tháng 9

- Công ty cho thuê Nhật Bản (Nippon Leasing Corporation), một chi nhánh của Ngân hàng tín dụng dài hạn, đã áp dụng cho Luật Tái tổ chức doanh nghiệp với các khoản nợ cao kỷ lục trong thời kỳ hậu chiến.

- Ngân hàng Tokai và Ngân hàng Asahi tuyên bố hợp tác kinh

doanh.


Tháng 10

- Ngân hàng tín dụng dài hạn của Nhật Bản tự nguyện được tiếp quản bởi các quản trị viên công cộng vì quốc hữu hóa tạm thời.

- Quốc hội đã thông qua tám dự luật để hồi sinh hệ thống ngân hàng, tạo ra một Ủy ban Tái thiết tài chính để giám sát quá trình này và chịu trách nhiệm điều chỉnh và lập kế hoạch tài chính từ BTC từ tháng 1 năm 2000 và cho phép chính phủ bơm vốn vào ngân hàng theo yêu cầu dù chúng vẫn còn khả năng trả nợ.

- Quốc hội đã áp dụng ngân sách bổ sung lần thứ hai năm TC1998 , qua đó cung cấp khoản bảo lãnh cho vay của chính phủ tổng cộng lên tới 43 nghìn tỷ yên, thay thế cho ngân sách trước đó trị giá 13 nghìn tỷ yên vẫn còn, để bảo lãnh cho các khoản cho vay của BOJ đối với DIC để thực hiện tái cấp vốn

ngân hàng.

Tháng 11

Fuji và Daiichi Kangyo Banks đã tuyên bố hợp tác trong lĩnh




vực ngân hàng ủy thác bằng cách thành lập một ngân hàng ủy

thác mới để tiếp quản các hoạt động của Yasuda Trust Bank.


Tháng 12

- Một gói các luật cho cải cách “Big Bang tài chính” có hiệu lực.

- Chính phủ quyết định đưa Ngân hàng Tín dụng Nippon vào diện bị quốc hữu hóa tạm thời.

- Ủy ban Tái thiết Tài chính (FRC) được thành lập như một cơ quan mẹ của Cơ quan Giám sát Tài chính, tiếp quản sự giám sát ngành tài chính cho đến cuối năm 2000. HakuoYanagisawa

được bổ nhiệm làm Uỷ viên FRC đầu tiên


1999


Tháng 1

- FRC đã công bố các chính sách điều hành cơ bản của nó.

- Ngân hàng Mitsui Trust và Ngân hàng Chuo Trust tuyên bố sáp nhập kể từ tháng 4 năm 2000.

Tháng 3

FRC quyết định bơm khoảng 7,5 nghìn tỷ yên vốn mới vào 15

ngân hàng lớn.


Tháng 4

- Công ty Thu hồi và Xử lý Nợ (RCC) được thành lập, thuộc quyền sở hữu của DIC, thông qua việc sáp nhập Ngân hàng Thu hồi vẳ lý nợ với HLAC.

- Cơ quan giám sát tài chính đã công bố báo cáo cuối cùng của nhóm công tác về sổ tay kiểm tra tài chính mới.

- FRC quyết định đặt hoạt động và tài sản của Ngân hàng

Kokumin dưới sự quản lý tổ chức lại tài chính.


Tháng 5

- Ngân hàng Osaka và Ngân hàng Kinki tuyên bố ý định hợp nhất kể từ tháng 4 năm 2000.

- Ngân hàng Kofuku đã nộp đơn cho Cơ quan giám sát tài chính để tự nguyện đóng cửa kinh doanh sau khi Ccơ quan này áp dụng các điều khoản hành động khắc phục kịp thời lần đầu

tiên.


Tháng 6

- Tòa án Tokyo chính thức tuyên bố Công ty chứng khoán Yamaichi bị phá sản.

- FRC đã đưa ra một hướng dẫn cơ bản về việc bơm vốn vào




các ngân hàng khu vực, nhằm đạt tỷ lệ an toàn vốn ít nhất là 8%.

- FRC quyết định đặt hoạt động và tài sản của Ngân hàng Tokyo Sowa dưới sự quản lý tổ chức lại tài chính.

- Cơ quan giám sát tài chính quyết định áp dụng điều khoản

hành động khắc phục kịp thời cho Ngân hàng Namihaya.


Tháng 8

• Quốc hộithông qua Luật đặc biệt phục hồi công nghiệp.

• FRC quyết định đặt hoạt động và tài sản của Ngân hàng Namihaya dưới sự quản lý tài chính.

• Ngân hàng Công nghiệp Nhật Bản, Ngân hàng Daiichi Kangyo và Ngân hàng Fuji đã công bố thành lập một công ty cổ phần vào mùa thu năm 2000 và tổ chức lại các hoạt động

kinh doanh của họ từ mùa xuân năm 2002.


Tháng 9

• FRC quyết định bán Ngân hàng tín dụng dài hạn, vẫn thuộc quyền quản lý công, cho một nhóm các tổ chức tài chính quốc tế do Ripplewood Holdings đứng đầu. Việc bán kết thúc vào

tháng 3 năm 2000.


Tháng 10

• Michio Ochi được bổ nhiệm làm Uỷ viên FRC.

• Ngân hàng Tokai và Ngân hàng Asahi tuyên bố ý định tăng tốc sáp nhập và thành lập công ty mẹ vào tháng 10/2001.

• Ngân hàng Sumitomo và Ngân hàng Sakura tuyên bố ý định

sáp nhập vào tháng 4/2002.


2000

Tháng 2

• Teiichi Tanigaki được bổ nhiệm làm Uỷ viên FRC.


Tháng 3

• Các Ngân hàng Sanwa, Tokai và Asahi đã công bố kế hoạch sáp nhập thông qua việc thành lập công ty cổ phần (Ngân hàng

Asahi sau đó quyết định không tham gia nhóm này).


Tháng 4

• Luật phá sản mới, Luật Phục hồi Dân sự, nhằm mục đích hợp lý hóa các thủ tục và khuyến khích tái cấu trúc doanh nghiệp, có hiệu lực.

• Các Ngân hàng Tokyo Mitsubishi, Nippon Trust và

Mitsubishi Trust đã công bố thành lập một công ty cổ phần




vào tháng 4 năm 2001 và việc sáp nhập hai ngân hàng sau và Ngân hàng Tokyo Trust diễn ra vào tháng 10 năm 2001.

• Các Ngân hàng Sakura và Sumitomo tuyên bố đẩy nhanh việc sáp nhập, để thành lập Tập đoàn Ngân hàng Sumitomo

Mitsui trước một năm đến tháng 4 năm 2001.


Tháng 5

• Quốc hội đã thông qua các dự luật tạm hoãn việc dỡ bỏ bảo hiểm tiền gửi toàn diện trong một năm, để tạo điều kiện cho việc xử lý các tổ chức tài chính thất bại.

• Quốc hội đã thông qua Bộ luật thương mại sửa đổi để cho

phép việc tiến hành chia tách công ty có thể thực hiện được.

Tháng 6

• Ngân hàng Shinsei, nguyên là Ngân hàng Tín dụng dài hạn,

bắt đầu hoạt động.


Tháng 7

• Cơ quan Dịch vụ Tài chính (FSA) ra mắt, tích hợp các chức năng của Cơ quan Giám sát Tài chính và Phòng Kế hoạch Hệ thống Tài chính của BTC. Kimitaka Kuze được bổ nhiệm làm Uỷ viên FRC và sớm được thay thế bởi Hideyuki Aizawa.

• Ngân hàng Toyo Trust tuyên bố gia nhập một công ty cổ phần sẽ được thành lập bởi Sanwa và Tokai Banks vào tháng 4

năm 2001.


Tháng 9

• FRC đã bán Ngân hàng Tín dụng Nippon được quốc hữu hóa cho một tập đoàn bao gồm ba công ty Nhật Bản, Soft Bank, Orix và Tokyo Marine and Fire Insurance. Ngân hàng mới sau đó có tên Aozora Bank.

• Ngân hàng Công nghiệp Nhật Bản, Daiichi-Kangyo và Fuji

Banks cùng thành lập một công ty cổ phần, Mizuho Holdings.

Tháng 12

• Hakuo Yanagisawa được bổ nhiệm làm Uỷ viên FRC.


2001


Tháng 1

• Với việc bãi bỏ FRC kết hợp với việc tổ chức lại các bộ của chính phủ trung ương, FSA đã trở thành một cơ quan nằm ngoài Văn phòng Nội các, tiếp thu chức năng ứng phó khủng hoảng của FRC. Hakuo Yanagisawa được bổ nhiệm làm Bộ

trưởng Dịch vụ Tài chính.




• Hội đồng Chính sách tài khóa và kinh tế (CEFP), bao gồm các học giả, đại diện doanh nghiệp và các Bộ trưởng có liên

quan, được thành lập trực thuộc Nội các để hỗ trợ Thủ tướng.

Tháng 3

• Asahi và Daiwa Banks tuyên bố sáp nhập.


Tháng 4

• Kế toán đánh dấu thị trường đầy đủ được áp dụng cho năm 2001 và sau đó.

• Chính phủ đã quyết định Gói kinh tế khẩn cấp, đặt mục tiêu cho các ngân hàng lớn xóa nợ xấu hiện có trong hai năm tới và các khoản nợ xấu mới trong ba năm và cũng đề xuất giới hạn số lượng cổ phiếu mà các ngân hàng nắm giữ trong vốn của họ, với một đề xuất để tạo ra một cơ quan mua cổ phần mới để hấp thụ các cổ phiếu đó.

• Ngân hàng Tokyo Mitsubishi, Mitsubishi Trust và Nippon Trust Banks sáp nhập để thành lập một công ty cổ phần, Tập đoàn tài chính Mitsubishi Tokyo (MTFG).

• Các ngân hàng Sakura và Sumitomo sáp nhập để thành lập Tập đoàn ngân hàng Sumitomo Mitsui.

• Sanwa, Tokai và Toyo Trust Banks đã thành lập một công ty

cổ phần, UFJ Holdings.

Tháng 6

• CEFP đề xuất Đề cương chính sách cơ bản cho quản lý kinh

tế vĩ mô và cải cách cơ cấu.


Tháng 7

• FSA báo cáo rằng khối lượng các khoản nợ xấu sẽ không thay đổi trong ba năm tới do suy thoái kinh tế dự kiến, và sẽ mất thêm bốn năm để giảm một nửa số tiền hiện có sau khi

phục hồi.


Tháng 9

• Hiệp hội Ngân hàng (Zenginkyo) và Liên đoàn Công nghiệp (Keidanren) đã đồng ý với một bộ quy tắc ứng xử để xóa nợ

dựa trên các quy tắc của Luân Đôn (bởi INSOL).

Tháng 10

• Ngân hàng Mitsubishi và Nippon Trust sáp nhập để tạo thành

Ngân hàng ủy thác của Mitsubishi.

Tháng 12

• Daiwa, Kinki Osaka và Nara Banks đã thành lập một công ty




cổ phần, Daiwa Bank Holdings.


2002


Tháng 1

• Ngân hàng Sanwa và Tokai sáp nhập để thành lập Ngân hàng

UFJ và Ngân hàng Toyo Trust trở thành Ngân hàng ủy thác UFJ.


Tháng 2

• Chính phủ đã áp dụng gói chống giảm phát, bao gồm các biện pháp đẩy nhanh xử lý nợ xấu và ổn định hệ thống tài chính.

• Ngân hàng Mitsui Trust Bank thành lập một công ty cổ phần,

Mitsui Trust Holdings.

Tháng 3

• Daiwa Bank Holdings tiếp thu Ngân hàng Asahi.


Tháng 4

• FSA tái áp dụng bảo hiểm tiền gửi hạn chế đối với tiền gửi có kỳ hạn bằng cách chỉ bảo vệ tối đa 10 triệu yên cho mỗi người gửi ở mỗi ngân hàng, trong khi vẫn bảo vệ hoàn toàn tiền gửi không kỳ hạn.

• FSA đã công bố kết quả kiểm tra đặc biệt đối với những người vay lớn tại các ngân hàng lớn.

• Ngân hàng Công nghiệp Nhật Bản, Daiichi Kangyo và Fuji Banks được tổ chức lại thành Ngân hàng Mizuho và Ngân

hàng Mizuho Corporate.


Tháng 9

• BOJ tuyên bố mua cổ phần do các ngân hàng thương mại nắm giữ theo giá thị trường để giúp họ giảm tỷ lệ nắm giữ cổ phần xuống mức tương đương với vốn cấp 1 của họ.

• Heizo Takenaka được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Dịch vụ Tài

chính.


Tháng 10

• FSA công khai Chương trình Phục hồi tài chính, một chiến lược ba hướng đầy tham vọng để giải quyết các vấn đề của ngành ngân hàng, bao gồm giảm việc các ngân hàng nắm giữ cổ phần, phân loại và trích lập dự phòng rủi ro các khoản vay chặt chẽ hơn, và đẩy nhanh xử lý nợ xấu.

• FSA tuyên bố hoãn việc áp dụng giới hạn trần bảo lãnh tiền

gửi cho đến tháng 4 năm 2005.




• Daiwa Bank Holdings đổi tên thành Resona Holdings.

Tháng 12

• Tập đoàn ngân hàng Sumitomo Mitsui thành lập một công ty

cổ phần, Tập đoàn tài chính Sumitomo Mitsui (SMFG).


2003


Tháng 1

• Mizuho Holdings đổi tên thành Tập đoàn tài chính Mizuho (MHFG), với Ngân hàng Mizuho, Ngân hàng doanh nghiệp Mizuho và Mizuho Trust và Ngân hàng dưới sự kiểm soát của

mình.


Tháng 3

• Ngân hàng Saitama Resona tách khỏi Ngân hàng Asahi và Ngân hàng Daiwa và Asahi sáp nhập, tạo thành Ngân hàng Resona.

• BOJ đã công bố kế hoạch mua từ các ngân hàng thương mại

được hỗ trợ bằng chứng khoán và giấy tờ thương mại. Kế hoạch đã có hiệu lực vào tháng Bảy.


Tháng 4

• Hệ thống tiết kiệm bưu điện chuyển đổi thành một công ty độc lập, Công ty Bưu điện Nhật Bản.

• Tập đoàn Hồi sinh Công nghiệp Nhật Bản (IRCJ) được thành lập để thúc đẩy tái cơ cấu doanh nghiệp hiệu quả hơn và đẩy nhanh việc xử lý nợ xấu.

• FSA đã công bố kết quả của cuộc kiểm tra đặc biệt thứ hai đối với những người vay gặp khó khăn của các ngân hàng lớn, cho thấy khoảng cách giữa đánh giá của FSA và tự đánh giá của các ngân hàng đã thu hẹp kể từ lần kiểm tra đặc biệt đầu tiên.

• Luật Tái cấu trúc doanh nghiệp sửa đổi.

Tháng 5

• Resona Holdings yêu cầu chính phủ bơm tiền công.

• IRCJ bắt đầu hoạt động.

Nguồn: Khảo sát kinh tế của OECD, Nhật Bản, 1991-2003, được bổ sung bởi thông tin từ Cơ quan dịch vụ tài chính (FSA), Ngân hàng Nhật Bản (BOJ) và Bộ Tài

chính (MOF).

Download pdf, tải về file docx

Bài viết tương tự

Gửi tin nhắn

Bimage 1

Danh mục

Bài viết tương tự

Bimage 2
Bimage 3

Home | Contact | About | Terms | Privacy policy
© 2022 Tailieuthamkhao.com | all rights reserved

Trang chủ Tài liệu miễn phí Thư viện số