Tỷ Lệ Thu Nhập Lãi/tổng Thu Nhập Của Vietinbank Và Một Số Nhtm Có Vốn Nhà Nước

Chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam - 11



2.2.2.3. Chất lượng tài sản

* Chất lượng cho vay

Việc phân loại nợ ở Vietinbank thực hiện theo qui định của NHNN. Giai đoạn 2008-2014 được thực hiện theo QĐ493/2005/NHNN về Quy chế phân loại nợ và trích lập dự phòng RRTD, QĐ18/2007/NHNN sửa đổi QĐ493 và một số văn bản sửa đổi liên quan đến qui định về cơ cấu lại nợ không nhưng cho phép TCTD không chuyển nhóm nợ nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp (QĐ780/2012/NHNN). Từ tháng 6/2015 đến nay, qui chế phân loại nợ của TCTD thực hiện theo TT02/2013/NHNN, theo đó các khoản nợ của Ngân hàng được chia thành 5 nhóm. Nợ xấu bao gồm các khoản nợ từ nhóm 3-5.

Đơn vị: %

400

90,76

350

300

89,24

89,02

90,07

89,05

89,92

88,5

250

80,01

82

79,21

72,62

76,17

77,65

80

200

150

71,07

83,53

72,55

69,53

69,24

72,51

76

100

50

0

81,36

89,61

83,88

85,8

83,6

83

85

N2010 N2011 N2012 N2013 N2014 N2015 N2016

Vietinbank

Vietcombank

BIDV

Agribank

Nguồn: [86], [88], [92], [94]

Biểu đồ 2.14. Tỷ lệ thu nhập lãi/tổng thu nhập của Vietinbank và một số NHTM có vốn Nhà nước

So với giai đoạn trước năm 2008, tỷ trọng thu nhập lãi thuần/tổng thu nhập giảm đáng kể, nhưng nếu so với Vietcombank và BIDV thì tỷ trọng thu nhập lãi thuần của Vietinbank còn cao. Thực trạng này cho thấy thu từ hoạt động dịch vụ và các hoạt động phi tín dụng còn thấp, điều đó sẽ kéo theo rủi ro tập trung danh mục lớn. Chỉ số tỷ suất sinh lời hoạt động cho vay và đầu tư cho thấy: giai đoạn 2008-2011 khả năng sinh lời hoạt động cho vay cao hơn so với hoạt động đầu tư, Giai đoạn từ 2009-2012, qui mô vốn đầu tư vào các công ty con tăng mạnh, trong khi nhiều công ty hoạt động không hiệu quả (công ty CK lỗ


nhiều năm), các công ty khác lợi nhuận thấp. ROE của các công ty này thấp hơn nhiều so với ngân hàng mẹ (PHỤ LỤC 02), rõ ràng việc tăng vốn vào các hoạt động đầu tư vào các công ty con giai đoạn này không hiệu quả.

Thu nhập đem lại từ hoạt động đầu tư chủ yếu là thu lãi từ đầu tư CK Nợ, giai đoạn này Ngân hàng chủ yếu đầu tư vào các CK Chính phủ có độ an toàn cao, khả năng sinh lời thấp do vậy tỷ suất lợi nhuận từ hoạt động đầu tư thấp. Từ năm 2013-2015 lại có xu hướng ngược lại, hoạt động cho vay của Ngân hàng gặp nhiều khó khăn cùng với đó lãi suất cho vay giảm, những hệ lụy để lại từ tăng trưởng tín dụng nóng giai đoạn trước đã làm cho giá trị nợ xấu tăng. Trong khi chiến lược đầu tư CK Nợ của Ngân hàng đem lại khả năng sinh lời cao, hoạt động một số công ty góp vốn đầu tư được củng cố trong đó có thể kể tới là hoạt động của ngân hàng con tại Lào có tỷ suất sinh lời/VCSH rất cao, góp phần tăng khả năng sinh lời vốn đầu tư.

NIM của Ngân hàng từ 2013-2016 giảm mạnh, trong điều kiện thu nhập lãi cho vay giảm, chi phí lãi tăng (do 1 lượng lớn nợ xấu không có sinh lời), chi phí dự phòng tăng, ROA và ROE giảm. ROA năm 2015 đạt mức thấp nhất trong giai đoạn nghiên cứu và cao nhất vào năm 2011, do tốc độ tăng LNST của Ngân hàng thấp hơn so với tốc độ tăng tài sản, đồng thời phản ánh thời gian qua Vietinbank tăng trưởng tập trung về qui mô hơn. Mặt khác, nhìn ở góc độ khác khi nghiên cứu về tỷ trọng lãi phải thu thì chỉ tiêu khả năng sinh lời của Ngân hàng cũng như nhiều NHTM Việt Nam khác cũng chưa thực chất. Nhiều khoản cho vay Ngân hàng đã hạch toán lãi dự thu, làm tăng doanh thu, tăng lợi nhuận nhưng trên thực tế Ngân hàng chưa có khả năng thu hồi. Điều này một phần phản ánh kết quả của việc cơ cấu lại nợ nhưng không chuyển nhóm; mặt khác cũng cho thấy sự “lạc quan” của Ngân hàng trong việc ghi nhận doanh thu hoặc phản ánh thỏa thuận thu hồi lãi của các khoản cho vay T-DH của Ngân hàng còn có vấn đề chưa hợp lý.



2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU SỬ DỤNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM

2.3.1. Những kết quả đạt được

2.3.1.1. Cơ sở để thực hiện chuyển dịch cơ cấu cho vay theo phương thức chủ động tại Ngân hàng đã dần được xây dựng.

* Thứ nhất, Vietinbank đã xây dựng hệ thống khuôn khổ và chính sách thực thi khá đồng bộ.

Định hướng cho việc hình thành và chuyển dịch cơ cấu cho vay đã được xác định trong chiến lược kinh doanh của Ngân hàng. Vietinbank tiến hành xây dựng các chính sách nhằm thực hiện và điều chỉnh cơ cấu hoạt động. Bao gồm:

(i) Chính sách giới hạn cho vay: Trên cơ sở khung quản trị RRTD trong hệ thống Vietinbank được ban hành theo QĐ879/HĐQT-NHCT ngày 21/12/2010 và QĐ769/2013/HĐQT-NHCT35 ngày 5/6/2013, qui định về khẩu vị RRTD trong hệ thống Vietinbank theo QĐ1867/2012/HĐQT-NHCT35. Trong đó, qui định các nguyên tắc chấp nhận RRTD và giới hạn cho vay làm cơ sở để thiết lập cơ cấu cho vay;

(ii) Chính sách phân loại nợ và trích lập DPRR: Đến nay, việc phân loại nợ của Vietinbank vừa dựa theo chỉ tiêu định lượng và các yếu tố định tính của khoản vay. Điều này không chỉ có ý nghĩa đánh giá đúng chất lượng cho vay, trích lập đúng và đủ DPRR mà còn giúp nhà Ngân hàng có những động thái phù hợp điều chỉnh DMCV. Có thể nói việc ban hành cũng như tuân thủ QĐ493, bổ sung và sửa đổi sau này là QĐ18, TT02/2013 và TT09/2014 đã chứng tỏ sự thay đổi căn bản trong nhận thức về QTRR của Ngân hàng.

(iii) Các giới hạn an toàn hoạt động: Khuôn khổ pháp lý đặc biệt là những qui chế an toàn của NHNN đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng là cơ sở nền tảng quan trọng để Vietinbank cũng như các NHTM Việt Nam xây dựng chính sách và tổ chức thực hiện. Từ Quyết định số 457/2005/NHNN, Thông tư số 10/2010/NHNN, Thông tư 19/2010/NHNN, Thông tư 36/2014/NHNN, Thông tư 06/2016 cùng với các chỉ thị từ NHNN đã tác động, điều chỉnh cơ cấu cho vay, cơ cấu đầu tư của Ngân hàng. Gần đây nhất ngày 30/12/2016, NHNN đã ban hành TT41/2016/NHNN đây là qui định đã thể hiện quyết tâm cải thiện hoạt động


Ngành ngân hàng Việt Nam theo định hướng an toàn, hiệu quả với kim chỉ nam là các qui định về an toàn vốn của Basel (Basel II và các tài liệu cập nhật) mà hiện nay đang được áp dụng rộng khắp trên thế giới, là cơ sở để Vietinbank chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn an toàn

* Thứ hai, mô hình tổ chức và quản lý của ngân hàng dần được hoàn thiện và chuẩn hóa theo mô hình ngân hàng hiện đại tạo điều kiện thực hiện chiến lược quản trị danh mục chủ động. Theo đánh giá, hiện nay Vietinbank là ngân hàng đã xây dựng được mô hình tổ chức mà các NHTM hiện đại trên thế giới đang áp dụng.

* Thứ ba, công tác QTRR, quản trị DMCV tại Ngân hàng ngày càng được tăng cường

Thực hiện Đề án tái cơ cấu hệ thống TCTD giai đoạn 2011-2015 của NHNN, đối với công tác QTRR, Vietinbank đã tiến hành tái cấu trúc toàn diện mọi mặt và hoạt động QTRR theo mô hình khối để củng cố và phát huy vai trò cả 3 vòng kiểm soát độc lập theo thông lệ quốc tế. Trong xây dựng chiến lược QTRR, HĐQT có trách nhiệm xem xét thông qua các chiến lược và chính sách QTRR, Ban điều hành có trách nhiệm thực hiện và phát triển các chiến lược, chính sách đó. Chức năng QTRR do khối QTRR thực hiện, khối này tách bạch với khối giao dịch trực tiếp, báo cáo trực tiếp lên Ban điều hành và HĐQT. Với việc thành lập một bộ máy QTRR giúp ngân hàng hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất, dần tạo nên một mô hình hoạt động kinh doanh theo thông lệ quốc tế và chuẩn mực Basel II.

Từ năm 2010-2016, Khối QLRR thực hiện tốt vai trò giám sát, kiểm soát độc lập về rủi ro đồng thời xây dựng, hoàn thiện hệ thống khung chính sách, quy định, qui trình, hạn mức làm căn cứ để bộ phận kinh doanh tuân thủ, thực hiện. Vietinbank cũng đã và đang triển khai các dự án nâng cao năng lực quản trị như: Hệ thống cảnh báo sớm RRTD (EWS) triển khai trên toàn hệ thống từ tháng 10/2014, đây là hệ thống nổi trội nhờ khả năng tích hợp nhiều nguồn thông tin của khách hàng thông qua hệ thống Kho Dữ liệu doanh nghiệp (EDW), hệ thống XHTDNB, hệ thống quản lý RRTD, các nguồn thông tin


chính thống từ bên ngoài; Hệ thống Core Banking mới vận hành từ 2/2/2017, xây dựng các hệ thống thông tin quản lý, thay thế phân tích chênh lệch GAP và xây dựng lộ trình áp dụng Basel II.

2.3.1.2. Cơ cấu sử dụng vốn theo hoạt động và nội bộ từng hoạt động có sự chuyển dịch khá phù hợp với sự phát triển của thị trường.

Xét trên tổng thể cơ cấu sử dụng vốn theo hoạt động và từng nội bộ mỗi hoạt động tại Vietinbank trong thời gian dài hạn có thể thấy mô hình kinh doanh của Vietinbank kinh doanh đa năng giúp Ngân hàng đa dạng hóa danh mục tài sản, phân tán rủi ro. Nếu so với giai đoạn trước khi cổ phần hóa thì tỷ trọng dư nợ cho vay/tổng tài sản giảm rõ rệt. Bên cạnh đó, Ngân hàng điều chỉnh cơ cấu sử dụng vốn phù hợp với diễn biến trên các cấu trúc TTTC: trong giai đoạn các NHTM khác khó khăn vốn khả dụng, Vietinbank tích cực chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn sang thị trường 2 nhằm tăng khả năng sinh lời. Bên cạnh đó, hoạt động đầu tư vốn vào các công ty con trong lĩnh vực tài chính thể hiện rất rõ chiến lược kinh doanh dịch vụ tài chính đa năng, hoạt động của các công ty con cùng với ngân hàng mẹ đã đem lại nhiều giải pháp tiện ích cho khách hàng.

* Cơ cấu ngân quỹ:

Cơ cấu ngân quỹ của Ngân hàng đã duy trì đáp ứng yêu cầu dự trữ theo qui định. Đặc biệt, với việc triển khai hệ thống FTP từ tháng 4/2011, cùng với việc áp dụng hệ thống quản lý tài khoản TGTT của khách hàng tập trung (tháng 10/2014) đã góp phần quan trọng trong tối ưu cơ cấu ngân quỹ: giảm tỷ trọng tiền mặt trong cơ cấu ngân quỹ, đồng thời phản ánh nỗ lực của Ngân hàng trong quá trình phát triển với mục tiêu trở thành ngân hàng thanh toán. Nếu bỏ qua ảnh hưởng từ các công cụ điều hành CSTT của NHNN, tỷ trọng TGTT tại các TCTD khác và tại NHNN tăng phản ánh sự mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam.

* Cơ cấu cho vay:

Chuyển dịch cơ cấu cho vay theo ngành nghề, lĩnh vực kinh tế; theo đối tượng khách hàng, thành phần kinh tế cho thấy những thay đổi rõ nét và tích cực. Vietinbank mở rộng cho vay đối với khách hàng khu vực ngoài Nhà nước, tăng


tỷ trọng dư nợ cho vay khách hàng là DNNVV, KHCN. Nếu trước năm 2013 sự chuyển dịch cơ cấu cho của Ngân hàng vẫn thể hiện sự “thụ động” vì khi đó, cơ sở xây dựng cơ cấu chủ yếu dựa trên định hướng hoạt động và các giới hạn tín dụng theo qui định của NHNN. QĐ1867/2012/NHCT cho thấy Ngân hàng đã tạo dựng được cơ sở để chuyển dịch cơ cấu cho vay có “chủ động”, trong công tác quản trị hoạt động cho vay Ngân hàng không chỉ quan tâm đến rủi ro từng giao dịch mà đã quan tâm quản trị DMCV.

* Cơ cấu đầu tư:

Hoạt động đầu tư vào công ty con, công ty liên doanh, liên kết và đầu tư chứng CK của Ngân hàng được mở rộng góp phần đa dạng hóa danh mục tài sản. Đồng thời, hỗ trợ cho việc quản lý vốn khả dụng, Vietinbank đã từng bước đa dạng hóa các loại CK kinh doanh và đầu tư. Việc tăng tỷ trọng TPDN phát hành tăng thu nhập lãi. Với mục đích đầu tư sẵn sàng bán tăng tính linh hoạt và chủ động trong đầu tư, tạo điều kiện nâng cao thu nhập từ chênh lệch giá nếu thị trường thuận lợi.

2.3.1.3. Chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn cơ bản đã tuân thủ các tỷ lệ an toàn theo qui định, chất lượng đầu tư chứng khoán Nợ đảm bảo.

Vietinbank luôn duy trì đảm bảo an toàn vốn theo qui định của NHNN. Mặc dù, hệ số CAR tại Ngân hàng nếu so với thông lệ quốc tế còn nhiều hạn chế, tuy nhiên hiện tại Vietinbank đang khởi động Dự án tính toán TSC rủi ro theo yêu cầu Basel II (RWA). Dự án RWA là một trong những nội dung trọng tâm của việc tuân thủ Trụ cột 1 của Basel II. Khi được thực hiện thành công sẽ phục vụ công tác hoạch định chiến lược phát triển để VietinBank chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn hợp lý.

Xác định tầm quan trọng trong công tác quản trị TSC, TSN, QTRR,... Ngân hàng chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn và đặt trong mối tương quan với cơ cấu nguồn vốn. Quản trị bảng cân đối tài sản đã được chú trọng với mục đích nhằm hạn chế sự bất cân xứng về kỳ hạn giữa TSC và TSN, từ đó hạn chế RRLS và RRTK. Hiện nay, không riêng Vietinbank mà các NHTM khác đều có trạng thái kỳ trung bình của TSC lớn hơn kỳ hạn trung bình của TSN, do vậy nguy cơ RRLS và RRTK luôn tiềm ẩn. Từ năm 2014 đến nay, lãi suất thị trường có xu


hướng giảm, trạng thái trên sẽ tạo thuận lợi cho Ngân hàng nhưng nếu lãi suất thị trường tăng và sự chênh lệch cấu trúc kỳ hạn lớn sẽ dẫn rủi ro cao.

Đối với hoạt động đầu tư CK Nợ, chất lượng đầu tư đảm bảo, mặc dù Ngân hàng có xu hướng chuyển dịch cơ cấu đầu tư TPDN nhưng không phát sinh nợ quá hạn, nợ xấu ngoại trừ trái phiếu của Vinashin đã sử dụng dự phòng để xử lý tổn thất trước đây.

2.3.1.4. Cơ cấu cho vay và đầu tư của Ngân hàng chuyển dịch phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội

Hoạt động sử dụng vốn của Vietinbank đã có sự điều chỉnh theo xu hướng phát triển nền kinh tế đất nước trong mỗi giai đoạn, phù hợp với cơ cấu ngành kinh tế. Vietinbank thực hiện tích cực các giải pháp chỉ đạo của Chính phủ và NHNN. Với mô hình kinh doanh tổng hợp giúp Ngân hàng tận dụng được những lợi thế, đa dạng hóa hoạt động và hình thức phân bổ vốn. Ngoài ra, để hạn chế những rủi ro phát sinh liên quan sở hữu chéo, Vietinbank tuân thủ qui chế và các giới hạn của NHNN trong từng thời kỳ.

Thời gian qua Ngân hàng đã tích cực chuyển dịch cơ cấu cho vay theo hướng tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên của Nhà nước: Hướng tới mục tiêu chuyển dịch cơ cấu đầu tư và cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng và đa dạng hóa DMCV của hệ thống ngân hàng, NHNN đã yêu cầu các ngân hàng tập trung nguồn vốn cho các lĩnh vực kinh tế quan trọng. Các lĩnh vực này bao gồm: phát triển NNoNT, hỗ trợ DNNVV, phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao,...

2.3.1.5. Ngân hàng đã sử dụng các công cụ nội bảng điều chỉnh cơ cấu sử dụng vốn khá hiệu quả.

Để điều chỉnh cơ cấu sử dụng vốn nói chung, cơ cấu cho vay và đầu tư nói riêng, Vietinbank cũng như đa phần các NHTM Việt Nam sử dụng các công cụ nội bảng là chủ yếu. Đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh CK, Ngân hàng thực hiện thông qua biện pháp mua/bán để điều chỉnh cơ cấu danh mục. Với hoạt động cho vay, để điều chỉnh giảm dư nợ đối với loại hình nào đó, Ngân hàng sử dụng biện pháp tích cực thu nợ đối với loại hình cho vay cần giảm; tăng dư nợ các loại hình cho vay khác để thay đổi tỷ trọng các loại cho vay như mong muốn.


Ngoài các biện pháp kể trên, một biện pháp điều chỉnh nội bảng khác cũng được đề cập đến tại Việt Nam là mua bán nợ. Khung pháp lý cho thị trường mua bán nợ tiếp tục được hoàn thiện và bổ sung. Với sự ra đời của VAMC năm 2013, một số lượng lớn nợ xấu của Vietinbank và các NHTM đã được bán cho VAMC trong năm 2014-2015, tạo điều kiện để Ngân hàng cơ cấu lại nợ, góp phần thúc đẩy tăng trưởng dư nợ đối với nền kinh tế.

Vietinbank là ngân hàng tiên phong trong sử dụng biện pháp chuyển nợ cho vay thành vốn góp. Cuối năm 2014, Vietinbank xin phép NHNN và Bộ Giao thông Vận tải chuyển đổi nợ xấu ở toàn bộ Vinalines có giá trị khoảng 4.980 tỷ đồng sang vốn góp. Trong đó, có 2.050 tỷ đồng là dư nợ tại công ty mẹ và 2.930 tỷ đồng là dư nợ tại các công ty con. Tuy nhiên, năm 2015 Vietinbank chỉ tiếp nhận từ Vinalines 9,07% vốn góp tại Cảng Sài gòn (SGP-UpCOM) và 2,12% vốn góp tại Cảng Hải Phòng (PHP-HNX) sau khi các cảng này thực hiện IPO, ước tính tổng số nợ xấu được hoán đổi qua 2 giao dịch này vào khoảng 371 tỷ đồng. Đến cuối năm 2016, Vietinbank được NHNN chấp thuận thoái vốn sớm vốn khỏi hai Cảng này. Để triển khai việc thoái vốn, VietinBank đã thông qua Hợp đồng tư vấn thoái vốn và Hợp đồng ủy quyền đặt lệnh giao dịch với Công ty CK Vietinbank. Hoạt động này đảm bảo lợi ích của VietinBank, góp phần to lớn vào việc cấu trúc lại các khoản nợ cho vay của Ngân hàng, giúp Ngân hàng thu hồi khoản vốn góp mà thực chất là nợ cấn trừ trước đây.

2.3.2. Một số tồn tại và nguyên nhân

2.3.2.1. Một số tồn tại

* Một là, cơ cấu sử dụng vốn tại Ngân hàng vẫn tập trung vào hoạt động truyền thống

Mặc dù, so với giai đoạn trước năm 2008, tỷ trọng dư nợ cho vay/tổng tài sản của Vietinbank có xu hướng giảm. Trong giai đoạn nghiên cứu, tỷ trọng dư nợ cho vay có xu hướng tăng trở lại. Hình thức sử dụng vốn chủ yếu của Ngân hàng vẫn tập trung vào cho vay. Tỷ trọng vốn đầu tư tài chính có có xu hướng giảm, các hình thức sử dụng khác phản ánh giá trị phải thu trong các giao dịch phái sinh còn thấp. Trong số 04 NHTM lớn có vốn Nhà nước thì hiện nay, Vietinbank là ngân


hàng có tỷ trọng dư nợ cho vay cao thứ hai (sau Agribank) ngoại trừ năm 2016 là ở vị trí thứ ba.

Bảng 2.19. Tỷ trọng dư nợ cho vay/tổng tài sản của 4 NHTM lớn

Đơn vị: %

Ngân hàng

2008

2009

2010

2011

2012

2013

2014

2015

2016

Vietinbank

61,68

66,51

63,17

63,28

65,74

64,90

66,03

68,45

69,05

Agribank

73,40

77,60

81,20

80,60

77,70

76,90

75,60

75

75,9

BIDV

63,63

68,10

63,19

64,00

64,50

62,8

65,9

67

70,9

VCB

48,91

53,62

55,65

56,80

58

58,7

60

60,8

58,5

Có thể bạn quan tâm!

Xem toàn bộ 148 trang: Chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam - 11

Nguồn: [86], [88], [92], [94] và tính toán của NCS

Đối với hoạt động đầu tư, danh mục tập trung chủ yếu vào đầu tư CK, trong đó chủ yếu là CK đầu tư sẵn sàng bán. Nếu so với các NHTM lớn trong hệ thống Vietinbank có tỷ trọng vốn đầu tư tài chính khá cao, tuy nhiên do có sự chuyển dịch vốn sang hoạt động cho vay trong những năm gần đây nên tỷ trọng vốn đầu tư tài chính giảm (cuối năm 2016 nếu loại bỏ giá trị trái phiếu VAMC thì giá trị CK đầu tư tại Vietinbank còn 13,38% trong khi VCB là 17,26%). Như vậy, giai đoạn nghiên cứu, cơ cấu sử dụng vốn theo hoạt động tại Ngân hàng có xu hướng chuyển dịch tăng tỷ trọng cho vay, hình thức sử dụng vốn tập trung vào hoạt động truyền thống.

* Hai là, rủi ro tập trung trong cơ cấu cho vay còn lớn, một số chỉ số an toàn hoạt động chưa đảm bảo.

Hiện nay, hầu hết các NHTM Việt Nam không phân biệt quy mô, trong đó có Vietinbank đều tập trung cho vay 4-5 ngành trên 21 ngành theo qui định của NHNN dẫn đến tính đa dạng cơ cấu cho cho vay bị giới hạn. Trong hệ thống XHTDNB của Vietinbank, các ngành kinh tế được phân chia thành 34 ngành. Ngân hàng tập trung cho vay chủ yếu vào các ngành: thương mại - dịch vụ, công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải. Nhìn chung, cơ cấu này phù hợp với cơ cấu ngành kinh tế, tuy nhiên nếu nhìn ở góc độ phân tán rủi ro thì thấy mức độ đa dạng danh mục còn thấp. Theo Basel, so sánh mức dư nợ của một ngành/lĩnh vực với quy mô vốn tự có của NHTM tại cùng một thời điểm cho biết mức độ tập trung DMCV. Tại Vietinbank, có nhiều thời điểm tỷ trọng dư nợ cho vay một số ngành


cao hơn so với qui mô vốn tự có, mức tập trung danh mục cao dẫn đến tiềm ẩn nguy cơ rủi ro lớn nếu ngành/nghề/lĩnh vực nào đó trong nền kinh tế gặp khó khăn.

Cơ cấu cho vay tại Vietinbank trong những năm qua đã có sự chuyển dịch khá hợp lý, phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước. Tuy nhiên, qui mô chuyển dịch cơ cấu cho vay còn ở mức thấp hơn nữa động thái chuyển dịch chủ yếu xuất phát từ các biện pháp điều chỉnh thị trường từ phía NHNN Việt Nam. Bên cạnh đó, cơ cấu cho vay tại Ngân hàng vẫn cho thấy những dấu hiệu bất ổn, tiềm ẩn nhiều rủi ro,...

- Theo ngành nghề kinh tế thì mức độ tập trung cơ cấu cho vay còn lớn: Mặc dù theo trong định hướng hoạt động của Ngân hàng cũng đã thể hiện sự nỗ lực chuyển dịch cơ cấu theo ngành, lĩnh vực, tuy nhiên cơ cấu dư nợ hiện vẫn đang tập trung vào ngành đặc thù của Ngân hàng: Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy (thương mại); công nghiệp chế biến chế tạo; xây dựng. Tỷ trọng dư nợ lĩnh vực BĐS có xu hướng tăng cao trở lại từ 2014-2016. Riêng đối với ngành vận tải kho bãi, tỷ trọng dư nợ đã giảm nhẹ trong giai đoạn nghiên cứu nhưng nếu so sánh với qui mô VCSH của Ngân hàng thì năm 2016 tỷ tệ dư nợ cho vay ngành vận tải kho bãi gần 20%. Theo báo cáo của NHNN Vietinbank vẫn là ngân hàng có số dư nợ cho vay các dự án BOT, BT lớn nhất hệ thống [91]. Điển hình một số chủ đầu tư đang có số dư nợ rất lớn tại Vietinbank (PHỤ LỤC 3 và 4), có nhiều dự án hiện đang chậm tiến độ, trong khi thời gian đầu tư dài (từ 15-20 năm), cùng với thay đổi chính sách của Nhà nước (giảm phí, điều chỉnh tăng phí giao thông) đã ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu nợ của Ngân hàng nguy cơ rủi ro cao.

- Xét theo thời hạn, dư nợ cho vay T-DH của Vietinbank tăng trong những năm gần đây trong khi NVHĐ chủ yếu là ngắn hạn. Việc đổ dồn vốn cho vay các dự án dài hạn, kinh doanh BĐS kéo theo sự bất cân xứng về thời hạn, gây nên tình trạng khó khăn thanh khoản. RRTK sẽ lớn hơn rất nhiều nếu nợ xấu các dự án vay vốn tiềm ẩn và gia tăng.

- Theo thành phần kinh tế: Báo cáo của Chính phủ cuối năm 2016 nước ta còn 583 DN 100% vốn Nhà nước, với tổng tài sản là 3 triệu tỷ đồng, có 1,5 triệu tỷ đồng nợ phải trả, nhiều doanh nghiệp lỗ nghìn tỷ. Dư nợ cho vay DNNN của Vietinbank, BIDV, VCB, Agribank chiếm 67% tổng dư nợ của cả hệ thống, trong


đó, nếu tính cả dư nợ cho vay các doanh nghiệp có vốn Nhà nước nắm giữ trên 50% thì Vietinbank là ngân hàng có số dư nợ cho vay DNNN lớn nhất Trong số đó, có nhiều Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước đang có số dư nợ Vietinbank có hiệu quả hoạt động thấp (PHỤ LỤC 05).

- Tỷ lệ nợ xấu của Vietinbank duy trì ở mức thấp, tuy nhiên nếu tính cả giá trị nợ xấu đã bán cho VAMC, tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng cao hơn nhiều con số công bố. Trái phiếu đặc biệt Vietinbank nhận về khi bán nợ không được trả lãi, trong khi đó Ngân hàng vẫn phải trả lãi cho phần vốn huy động từ khách hàng. Mặc dù giảm được chi phí dự phòng RRTD (do trái phiếu đặc biệt Ngân hàng chỉ phải trích dự phòng cụ thể 20%), nhưng chi phí lãi của Ngân hàng vẫn tăng lên, NIM giảm và làm giảm khả năng sinh lời của vốn kinh doanh. Chính vì vậy, nếu chưa xử lý được dứt điểm số nợ xấu đã bán cho VAMC thì việc xử lý nợ xấu của Ngân hàng vẫn không thực chất.

Bên cạnh đó, liên quan đến hệ số CAR theo tiêu chuẩn Việt Nam qua thì Ngân hàng đã đáp ứng được yêu cầu nhưng thời gian tới sẽ khó khăn khi thực hiện TT41/2016/NHNN dự kiến áp dụng tại Ngân hàng từ năm 2018, hệ số CAR được tính đầy đủ theo chuẩn Basel II, trong điều kiện tỷ lệ sở hữu nước ngoài tại Vietinbank đã gần sát giới hạn 30%. Như vậy, cửa sổ tăng vốn từ kênh thu hút nhà đầu tư nước ngoài còn lại rất hẹp. Khi chi phí tăng, hiệu quả kinh doanh thấp thì khả năng tăng quy mô vốn từ giữ lợi nhuận sẽ khó khăn. Mặt khác, tỷ lệ LDR còn cao, nhiều thời điểm vượt 100% tiềm ẩn rủi ro rất lớn

* Ba là, hoạt động đầu tư và một số công ty con, đầu tư góp vốn liên kết chưa thực sự hiệu quả

Qua đánh giá thực trạng hiệu quả các công ty con, công ty liên doanh của Ngân hàng, tỷ suất sinh lời từ hoạt động đầu tư cho thấy: trong giai đoạn nghiên cứu, có ngân hàng con tại Lào và NH liên doanh Indovina, có tỷ suất sinh lời cao, công ty vàng bạc khi mới hoạt động tỷ suất sinh lời cao nhưng 3 năm trở lại đây do thị trường trầm lắng lợi nhuận suy giảm; các công ty con hoạt động trong lĩnh vực CTTC, Quản lý quỹ, mua bán nợ,… tỷ suất sinh lời/VCSH (ROE) thấp hơn nhiều so với ngân hàng mẹ. Đối với các công ty liên kết do những năm qua nền kinh tế gặp nhiều khó khăn nên tỷ suất sinh lời thấp. Do vậy, hoạt động đem lại tỷ suất sinh lời cao hơn đó là đầu tư CK Nợ do doanh nghiệp phát hành. Về bản


chất đó chính là hình thức cấp tín dụng cho doanh nghiệp, trong điều kiện QTRR đối với hoạt động này chưa được tăng cường nhất là khi hoạt động của các doanh nghiệp chưa thực sự hồi phục, đòi hỏi Ngân hàng cần rà soát, đánh giá lại để tái cơ cấu sử dụng vốn có hiệu quả hơn.

* Bốn là, cơ sở để chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn chủ động vẫn còn một số tồn tại

Chính sách cho vay tại Vietinbank chưa có sự phân tích rõ ràng và công bố công khai về cơ cấu DMCV. Việc công bố DMCV hầu như mới chỉ dừng ở mức thống kê khoản mục cho vay theo ngành hoặc theo thời hạn. Cơ cấu cho vay tại Ngân hàng tập trung vào một số khoản mục chủ yếu khi phân chia theo ngành nghề và lĩnh vực. Dư nợ cho vay đối với lĩnh vực nhạy cảm đang có xu hướng tăng cao trở lại, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro lớn. Tại Ngân hàng chưa có những cảnh báo sớm về rủi ro tập trung có thể xảy ra. Quản trị danh mục đầu tư chưa được đầu tư quan tâm thỏa đáng, chưa xây dựng được một khung quản trị danh mục đầu tư có hiệu quả,...

* Năm là, việc sử dụng các công cụ ngoại bảng để điều chỉnh cơ cấu cho vay, đầu tư còn hạn chế.

Việc điều chỉnh cơ cấu cho vay tại Vietinbank cũng như các NHTM Việt Nam thời gian qua chủ yếu bắt nguồn từ lý do tuân thủ các qui định của NHNN và chủ yếu sử dụng phương pháp nội bảng: đôn đốc thu hồi nợ, mua/bán CK, thoái vốn,… Ngân hàng cũng đã điều chỉnh dư nợ bằng biện pháp mua bán nợ. Tuy vậy, qui mô hạn chế do ở Việt Nam vẫn chưa có thị trường mua bán nợ xấu thực sự. Vietinbank cũng là đơn vị tích cực trong việc sử dụng biện pháp hoán đổi nợ thành vốn góp tại các công ty con của Vinalines như đã phân tích tại phần thực trạng, năm 2016 NHNN Việt Nam đã ban hành Dự thảo cho phép các TCTD được hoán đổi nợ xấu (chỉ với trường hợp nợ nhóm 5) thành vốn góp nhưng thực tế còn nhiều rào cản, qui mô còn khiêm tốn.

* Sáu là, tỷ trọng lãi phải thu của ngân hàng có xu hướng tăng cao cho thấy những khó khăn trong công tác thu hồi nợ và những tồn tại trong công tác phân loại nợ cũng như thỏa thuận điều khoản khi ký kết hợp đồng tín dụng

Hiện nay, liên quan đến kế toán cho vay và kế toán một số khoản đầu tư vào CK Nợ, các NHTM thực hiện hạch toán trên cơ sở nguyên tắc dồn tích. Theo

Download pdf, tải về file docx

Bài viết tương tự

Gửi tin nhắn

Danh mục

Bimage 1

Bài viết tương tự

Xem nhiều

Bimage 2

Bài viết mới

Bimage 3

Home | Contact | About | Terms | Privacy policy
© 2022 Tailieuthamkhao.com | all rights reserved

Trang chủ Tài liệu miễn phí Thư viện số