Quan Điểm Về Chuyển Dịch Cơ Cấu Sử Dụng Vốn Tại Vietinbank

Chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam - 13


tăng khả năng quản trị, điều hành của hệ thống, đáp ứng được nhu cầu phát triển trong giai đoạn tới. Với việc thực hiện đồng bộ các giải pháp kế hoạch về kinh doanh cũng như quản trị điều hành, dự kiến giai đoạn tới VietinBank tiếp tục là một trong những ngân hàng hàng đầu, là trụ cột của Ngành Ngân hàng Việt Nam [92] [93].

3.1.2. Quan điểm về chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn tại Vietinbank

3.1.2.1. Chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn hướng tới mục tiêu tối đa hóa khả năng sinh lời, đồng thời phải đảm bảo an toàn hoạt động.

NHTM là doanh nghiệp kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận. Do vậy, mọi hoạt động, mọi chính sách, biện pháp và công cụ thực hiện hay điều chỉnh đều phải hướng tới mục tiêu này. Theo quan điểm này, Ngân hàng cần thiết lập và điều chỉnh nhằm đạt được một cơ cấu sử dụng vốn với lợi nhuận kỳ vọng cao nhất (mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận). Chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn sẽ theo hướng tăng tỷ trọng tài sản Có sinh lời cao.

Tuy nhiên, trên thực tế Ngân hàng sẽ phải giải quyết bài toán đó là rủi ro tiềm ẩn lớn. Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh trong lĩnh vực nhiều rủi ro, đồng thời rủi ro xảy ra sẽ để lại nhiều hệ lụy. Khi chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn để hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nhưng không phải bằng mọi giá, Ngân hàng phải cân đối hài hòa yêu cầu an toàn. Do đó, khi chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn Ngân hàng cần hướng tới mục tiêu rủi ro danh mục ở mức thấp nhất (tối thiểu hóa rủi ro) nghĩa là Ngân hàng cần xây dựng và chuyển dịch một cơ cấu sử dụng vốn với mức lợi nhuận xác định (có thể chưa phải là mức cao nhất). Theo quan điểm này, cần phải đa dạng hóa DMCV và đầu tư nhằm giảm rủi ro tập trung cơ cấu, đồng thời phân bổ vốn và các giao dịch/danh mục an toàn với mức lợi nhuận chấp nhận. Do vậy Ngân hàng vẫn luôn phải giải quyết hài hòa tương quan mối quan hệ thu nhập/rủi ro trong quá trình chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn nói chung, cơ cấu cho vay và đầu tư nói riêng.

Xu hướng hiện nay các ngân hàng thường chủ động chấp nhận rủi ro được bù đắp bởi lợi nhuận phù hợp. Muốn vậy cần thiết lập những giới hạn rủi ro có thể chấp nhận được, chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn phải nằm trong các giới hạn đó.


Đó là cơ sở để NHTM xây dựng, điều chỉnh cơ cấu sử dụng vốn theo mục tiêu đã định, đây là nội dung quan trọng trong quản trị danh mục tài sản chủ động.

3.1.2.2. Chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn phải phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội và tuân thủ theo các quy định của Nhà nước

Định hướng phát triển kinh tế xã hội trong mỗi giai đoạn của quốc gia là nhân tố quan trọng, đồng thời là cơ sở để Ngân hàng xây dựng và triển khai chiến lựơc, kế hoạch kinh doanh của mình. Từ định hướng phát triển kinh tế xã hội, Chính phủ và các cơ quan quản lý Nhà nước sẽ xây dựng và thực thi chính sách, từ đó tác động đến các cấu trúc thị trường, đến các ngành, các lĩnh vực hoạt động của mọi chủ thể trong nền kinh tế. Do đó, để điều chỉnh các hoạt động, ban hành cơ chế chính sách phù hợp nhằm chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn theo hướng hợp lý đòi hỏi NHTM nghiên cứu, bám sát định hướng phát triển nền kinh tế đất nước trong mỗi giai đoạn.

Những năm gần đây, các tiêu chuẩn giám sát an toàn trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam ngày được hoàn thiện. Cùng với đó có rất nhiều chính sách Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh thị trường đã góp phần quan trọng trong việc lành mạnh hóa hoạt động, xây dựng và phát triển bền vững hệ thống NHTM. Để đảm bảo mục tiêu hoạt động của Ngân hàng, việc tuân thủ các quy định an toàn là yêu cầu cần thiết và cần tiếp tục được quán triệt là nguyên tắc hoạt động của Ngân hàng, tiến tới hài hòa theo chuẩn mực, thông lệ quốc tế.

3.1.2.3. Chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn cần thỏa mãn nhu cầu và các điều kiện từ phía khách hàng

NHTM là trung gian cung cấp dịch vụ tài chính cho khách hàng. Hoạt động của Ngân hàng chỉ hiệu quả khi thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Trong điều kiện cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng càng trở nên gay gắt như hiện nay thì việc đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu khách hàng là điều kiện để Ngân hàng giữ vững và mở rộng thị phần. Cơ cấu sử dụng vốn của Ngân hàng được hình thành từ các giao dịch riêng lẻ của từng khách hàng/ đối tác. Chính vì vậy, để quá trình chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn hiệu quả đòi hỏi khâu thiết kế sản phẩm cần được chú trọng. Cùng với đó Ngân hàng phải thực hiện các tốt các

Có thể bạn quan tâm!

Xem toàn bộ 148 trang: Chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam


chính sách Marketing, sử dụng có hiệu quả các công cụ cạnh tranh khi cung cấp sản phẩm ra thị trường.Tuy nhiên, do đặc thù hoạt động, Ngân hàng không thể đáp ứng tất cả các điều kiện từ phía khách hàng đặt ra. Đặc biệt đối với hoạt động cho vay, đầu tư của Ngân hàng cần phải tuân thủ các nguyên tắc và điều kiện nhất định. Vì vậy, yêu cầu kiểm soát toàn bộ quy trình cho vay, đầu tư chặt chẽ là yêu cầu quan trọng nhằm hạn chế rủi ro, nâng cao chất lượng tài sản.

Chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam - 13

Những quan điểm liên quan đến chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn tại Ngân hàng đó cũng là những điều kiện cơ bản trong công tác quản trị danh mục tài sản của NHTM. Mỗi quan điểm đứng trên những góc nhìn và khía cạnh khác nhau, tuy nhiên tập trung lại đều là những yêu cầu mang tính nguyên tắc đảm bảo quá trình chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn tại Ngân hàng có hiệu quả. Đó cũng là nền tảng để đề xuất định hướng và xây dựng các giải pháp thúc đẩy, đồng thời nâng cao hiệu quả chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn tại Ngân hàng.

3.1.3. Định hướng chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn tại Vietinbank

Trong giai đoạn trung hạn đến năm 2020 và dài hạn là đến năm 2025, chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn tại Vietinbank thực hiện theo các định hướng sau:

- Thứ nhất, chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn theo hướng hoạt động đa năng

Để tối ưu hóa khả năng sinh lời vốn kinh doanh, hướng chuyển dịch tăng tỷ trọng TSC sinh lời được Ngân hàng luôn chú trọng, đa dạng hóa các hình thức đầu tư và kinh doanh vốn. Trong điều kiện ổn định tiền tệ ở Việt Nam đã được thiết lập và duy trì trong những năm gần đây sẽ là cơ sở quan trọng để Ngân hàng tối ưu hóa tương quan lợi nhuận/rủi ro của cơ cấu sử dụng vốn. Ngân hàng không ngừng đổi mới để phát triển với phương châm hướng đến khách hàng trên mọi phương diện hoạt động kinh doanh và quản lý; định hướng phát triển ra khu vực và châu Á. Ngoài cơ cấu lại hoạt động sử dụng vốn, Vietinbank tái cơ cấu tất cả các hoạt động khác theo hướng đổi mới, nâng cao chất lượng sản phẩm, giữ vững và mở rộng thị phần. Từ đó nâng cao thu nhập các hoạt động dịch vụ khác, đồng thời là cơ sở để Ngân hàng mở rộng bán chéo sản phẩm cho khách hàng.

- Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn theo hướng tích cực, truyền dẫn có hiệu quả các công cụ điều hành từ NHNN.


Biện pháp điều chỉnh từ NHNN cũng được coi là định hướng phát triển thị trường, định hướng phát triển các ngành và các khu vực kinh tế. Đồng thời, thông qua các công cụ điều tiết vĩ mô của NHNN nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ, Vietinbank theo dõi phân tích các động thái điều hành để từ đó xây dựng và điều chỉnh chính sách thực hiện. Bên cạnh đó, kiểm soát chặt chẽ chất lượng tài sản, tích cực thực hiện các giải pháp xử lý nợ xấu; Tích cực tham gia chủ trương cơ cấu lại hệ thống các TCTD của NHNN.

- Thứ ba, đi đôi với tái cơ cấu hoạt động sử dụng vốn cần gắn với thực hiện thành công mục tiêu trung hạn xây dựng VietinBank trở thành NHTM có qui mô tổng tài sản lớn nhất hệ thống, có tầm cỡ trong khu vực.

Hiện nay, Vietinbank là ngân hàng có qui mô NVCSH lớn nhất, qui mô tài sản đứng thứ hai trong toàn hệ thống NHTM Việt Nam. Để đạt được mục tiêu trung hạn trở thành ngân hàng có tầm cỡ khu vực đòi hỏi Ngân hàng cần thực hiện nhiều biện pháp, trong đó tăng cường năng lực tài chính là yêu cầu cấp thiết. Với hoạt động kinh doanh, định hướng mục tiêu của Ngân hàng là chiếm lĩnh thị phần số 1 phân khúc KHDN, Thương hiệu số 1 NHBL, đẩy mạnh hoạt động thanh toán - trở thành ngân hàng thanh toán của Việt Nam. Theo đó, cơ cấu cho vay của Ngân hàng cần có sự chuyển dịch tích cực hơn nữa, đồng thời đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng đem lại nhiều tiện ích cho khách hàng dựa trên nền tảng hiện đại hóa công nghệ ngân hàng và đa dạng kênh phân phối

- Thứ tư, hoàn thiện công tác quản trị các hoạt động sử dụng vốn

Trong điều kiện mới, Ngân hàng tiếp tục hoàn thiện công tác quản trị DMCV/đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Bên cạnh việc thực hiện tốt quản trị các giao dịch thì Ngân hàng càn tăng cường quản trị quản trị danh mục tài sản theo phương thức chủ động. Hoạt động sử dụng vốn của Ngân hàng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, vì vậy cần chú trọng đến công tác QTRR. Để đạt mục tiêu đó, yêu cầu được đặt ra là không ngừng tăng cường và nâng cao chất lượng QTRR.

- Thứ năm, chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn gắn liền với quá trình tái cấu trúc toàn bộ mọi mặt của Ngân hàng

Chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn chính là nội dung quan trọng trong quá


trình tái cơ cấu hoạt động của Ngân hàng. Quá trình này chỉ thực hiện có hiệu quả khi gắn liền với các nội dung liên quan đến tái cơ cấu tài chính, tái cơ cấu quản trị, tái cơ cấu các mặt hoạt động khác,... Nâng cao hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng không chỉ xuất phát từ các hoạt động sử dụng vốn trực tiếp, đòi hỏi Ngân hàng phải phát triển và nâng cao hiệu quả của các hoạt động khác, nó không chỉ hỗ trợ mà tạo là nền tảng để Ngân hàng trở thành “bách hóa” tài chính đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.

3.2. GIẢI PHÁP CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU SỬ DỤNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM

Trên cơ sở nền tảng lý luận và thực tiễn, có thể thấy rằng chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn tại Ngân hàng phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố nội sinh và ngoại sinh. Các giải pháp nhằm chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn tại Vietinbank theo hướng hợp lý không chỉ xuất phát từ tác động trực tiếp vào cơ cấu sử dụng vốn mà đòi hỏi có rất nhiều các giải pháp hỗ trợ nhằm thiết lập, thực hiện và điều chỉnh cơ cấu sử dụng vốn mục tiêu. Do vậy, giải pháp đề xuất được chia thành các nhóm giải pháp chủ yếu và giải pháp hỗ trợ.

3.2.1. Các giải pháp chủ yếu

3.2.1.1. Hoàn thiện các yếu tố là cơ sở cho quá trình chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn theo phương thức chủ động.

* Hoàn thiện chiến lược kinh doanh làm nền tảng định hướng chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn

Trong điều kiện kinh doanh có nhiều biến động, việc điều chỉnh và hoàn thiện chiến lược kinh doanh là nền tảng để Vietinbank điều chỉnh cơ cấu sử dụng vốn của mình cho phù hợp. Hiện tại, phương pháp hoạch định chiến lược được Vietinbank áp dụng là phương pháp ma trận theo mô hình SWOT. Mô hình này được thiết lập trên cơ sở kết hợp các điểm mạnh (Strenght), điểm yếu (Weakness), cơ hội (Opportunity), thách thức (Threaten). Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến công tác hoạch định chiến lược của Ngân hàng còn một số tồn tại. Chiến lược kinh doanh mới thích ứng môi trường kinh doanh ngắn hạn, các điều kiện phục vụ cho công tác hoạch định


chiến lược chưa đầy đủ. Dẫn đến tình trạng có giai đoạn nhiều hoạt động Ngân hàng tăng trưởng quá nóng, xu hướng mở rộng lĩnh vực kinh doanh một cách ồ ạt, tốc độ tăng trưởng NVHĐ, cho vay, đầu tư quá cao đã khiến Ngân hàng phải đối mặt với rủi ro gia tăng.


Phân tích môi trường kinh doanh bên ngoài

Chỉ ra cơ hội và nguy cơ

Xác định mục tiêu chiến lược

Duyệt lại mục tiêu, thiết lập chiến lược

Tổ chức thực hiện chiến lược

Kiểm tra đánh giá

Phân tích môi trường bên trong

Chỉ ra điểm mạnh, điểm yếu

Nguồn: Tổng hợp của NCS

Hình 3.1. Mô hình chiến lược kinh doanh SWOT

Việc áp dụng mô hình SWOT để xây dựng chiến lược kinh doanh tại Ngân hàng là phù hợp. Tuy nhiên, để chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn hợp lý thì việc hoàn thiện các điều kiện và nội dung hoạch định chiến lược là vô cùng quan trọng. Chiến lược xây dựng phải đảm bảo yêu cầu thích ứng, phù hợp về dài hạn. Từ mục tiêu chiến lược Ngân hàng phải cụ thể hóa bằng những chiến lược cho từng hoạt động, từng lĩnh vực và phải mang tính hệ thống phù hợp với mỗi giai đoạn phát triển. Vietinbank cần tiếp tục được đa dạng hóa các hình thức sử dụng và đầu tư vốn nhằm đáp ứng và phù hợp với thị trường. Với thế mạnh về qui mô, thị phần, mạng lưới, thương hiệu,...bên cạnh năng lực quản trị đang được củng cố, Vietinbank đã được các tổ chức xếp hạng tín nhiệm cao trong hệ thống (PHỤ LỤC 07), cùng với nhiều cơ hội trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Lợi thế và các cơ hội đó chỉ được phát huy nếu mục tiêu, chính sách xây dựng được nghiên cứu một cách đầy đủ và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để hạn chế, vượt qua thách thức.


Giai đoạn tới, Ngân hàng phải thích ứng với thách thức để thay đổi và nâng cao năng lực cạnh tranh, dựa trên cơ sở nguồn lực nội tại để điều chỉnh mục tiêu của mình từ đó xây dựng chính sách thực hiện. Năm 2017 với Vietinbank là năm cuối thực hiện chiến lược trung hạn giai đoạn 2015-2017 với mục tiêu “trở thành ngân hàng có qui mô tổng tài sản lớn nhất, hiệu quả hoạt động hàng đầu ngành Ngân hàng Việt Nam” [92]. Có thể mục tiêu là trở thành ngân hàng có qui mô lớn nhất Việt Nam chưa thực hiện được trong năm 2017 (hiện tại BIDV là ngân hàng có qui mô tài sản lớn nhất) nhưng những điều kiện và nền tảng để trở thành ngân hàng hoạt động có hiệu quả đã được Ngân hàng ưu tiên. Trên cơ sở đánh giá đúng yếu tố nội tại, phân tích đầy đủ tác động từ những yếu tố khách quan, Ngân hàng cần hoàn thiện các chính sách, tổ chức, giám sát các hoạt động. Cùng với đó, tái cơ cấu mọi mặt hoạt động để trở thành NHTM đa năng có đủ sức cạnh tranh với các NHTM trong và ngoài nước.

* Hoàn thiện các nội dung để thực hiện chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn theo phương thức chủ động.

Từ năm 2013 mô hình quản trị cơ cấu DMCV chủ động đã từng bước được triển khai tại Vietinbank thể hiện thông qua việc Ngân hàng đã ban hành được các giới hạn cho vay (QĐ1867/2012/NHCT). Với phương thức này, việc định hướng hoạt động cho vay, các giới hạn cho vay được xác định trong CSTD của Ngân hàng. Mỗi khoản vay, ngoài việc đáp ứng các yêu cầu chung còn phải đáp ứng các yêu cầu giới hạn cho vay định trước đối với từng địa bàn, từng ngành, từng lĩnh vực, từng nhóm khách hàng, từng sản phẩm,... Quản trị DMCV theo phương thức chủ động - đó là hướng đi và cũng là yêu cầu cần thiết trong quá trình phát triển của một ngân hàng hiện đại. Tuy nhiên, những nền tảng thực hiện theo phương thức này mới bắt đầu triển khai, điều kiện để thực hiện qui trình quản trị vẫn còn nhiều hạn chế. Quản trị danh mục đầu tư, đặc biệt là đầu tư tài chính còn chưa được quan tâm thỏa đáng. Để khắc phục những tồn tại này, việc xây dựng các nội dung chiến lược trong chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn là vô cùng cần thiết. Theo đó, một số vấn đề quan trọng Ngân hàng cần tiếp tục hoàn thiện đó là:

- Thứ nhất, xác định mục tiêu chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn trong mối


quan hệ chặt chẽ giữa thu nhập/rủi ro bên cạnh các mục tiêu về mục tiêu tăng trưởng thị phần và thương hiệu Ngân hàng. Mục tiêu đó có thể được thay đổi hàng năm, căn cứ vào mục tiêu và chiến lược kinh doanh của Ngân hàng. Khẩu vị rủi ro không phải là cố định mà cần đánh giá lại hàng năm để đảm bảo phù hợp với tình hình biến động của các yếu tố bên ngoài cũng như tình hình nội tại của Ngân hàng. Kinh nghiệm từ nhiều NHTM trên thế giới là cần xây dựng và thiết lập mục tiêu kinh doanh, giới hạn rủi ro cho từng năm gắn với mục tiêu trung T-DH.

Để có cơ sở ra quyết định và điều chỉnh cơ cấu cho vay/đầu tư, Ngân hàng nên sử dụng chỉ tiêu thu nhập sau điều chỉnh rủi ro RAROC sau khi các yếu tố cấu thành trong công thức tính toán được xác định. Do đó, để có thể sử dụng chỉ tiêu RAROC Ngân hàng cần thực hiện phân bổ vốn đến mỗi mảng kinh doanh (bán buôn, bán lẻ, các khối kinh doanh, đơn vị kinh doanh,…) để có được kết quả về thu nhập hay lợi nhuận chính xác hơn, đó là căn cứ định lượng quan trọng để hình thành và chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn.

- Thứ hai, thiết lập cơ cấu sử dụng vốn mục tiêu theo hoạt động và nội bộ từng hoạt hoạt động

Hiện nay, ở hoạt động ngân quỹ Ngân hàng xác định và duy trì các chỉ số thanh khoản cho phù hợp với qui định của NHNN và chiến lược quản trị RRTK của mình. Trong khi, một yêu cầu để chuyển dịch có chủ động để không bị chạy theo xu hướng phát triển nóng của từng lĩnh vực, từng hoạt động để có thể giải quyết hài hòa tương quan thu nhập/rủi ro của danh mục tài sản. Để Ngân hàng có thể phát triển bền vững trong các mảng hoạt động đòi hỏi cần phải cụ thể hóa cơ cấu sử dụng vốn bằng việc xây dựng các phương án cơ cấu tài sản, cơ cấu cho vay và cơ cấu đầu tư khác nhau. Trong đó mỗi phương án cơ cấu với tỷ trọng từng loại tài sản được phân chia theo những tiêu thức nhất định cần được thiết kế đa dạng, từ đó xác định được mức lợi nhuận và tổn thất dự kiến dự kiến của mỗi phương án cơ cấu danh mục. Từ đó sẽ lựa chọn một phương án tối ưu nhất, đồng thời đảm bảo tính linh hoạt trong quá trình thực hiện.

Khi định hướng xây dựng cơ cấu tài sản, cơ cấu cho vay và đầu tư, Ngân hàng phải lường trước những thay đổi có tính chu kỳ của nền kinh tế tác động tới cơ cấu cũng như chất lượng tài sản. Vì vậy, nhất thiết phải xây dựng các phương


án khác nhau phù hợp với các kịch bản nhất định. Khi kịch bản thay đổi, tất yếu Ngân hàng phải lựa chọn một phương án cơ cấu khác cho phù hợp. Việc thiết lập cơ cấu sử dụng vốn mục tiêu cần thực hiện theo các bước sau:

(i) Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới việc xây dựng kết cấu tài sản như: yếu tố bên ngoài gồm chính sách tài khóa, CSTT, chu kỳ nền kinh tế,… và các yếu tố bên trong như: CSTD, chính sách đầu tư, giới hạn rủi ro có thể chấp nhận, lợi thế cạnh tranh và nguồn lực sẵn có của Ngân hàng. Từ đó thiết lập cơ cấu sử dụng vốn theo hoạt động, cơ cấu cho vay/đầu tư trên cơ sở điều chỉnh chất lượng tài sản theo mức rủi ro dự kiến.

(ii) Sử dụng mô hình phân tích định lượng, đánh giá để đưa ra kết quả về cơ cấu sử dụng vốn, cơ cấu cho vay/đầu tư mục tiêu.

(iii) Đánh giá phân tích các yếu tố bất định không có ảnh hưởng đến cơ cấu cho vay/đầu tư, lựa chọn lại một lần nữa mô hình chính xác nhất ảnh hưởng tới danh mục tài sản, từ đó Ngân hàng có thể xây dựng nhiều kịch bản mô phỏng khác nhau để tạo ra các danh mục tài sản tương ứng.

(iv) Trên cơ sở các kịch bản mô phỏng về danh mục tài sản sẽ đưa ra một lựa chọn phù hợp với mục tiêu và đặc trưng hoạt động của Ngân hàng.

- Thứ ba, thực hiện cơ cấu sử dụng vốn:

Việc hoàn thiện các chính sách nhằm thực thi có hiệu quả chiến lược quản lý cơ cấu cho vay, cơ cấu đầu tư, chẳng hạn: chính sách đa dạng hóa các loại hình cho vay, loại hình đầu tư; chính sách phân loại nợ và trích lập DPRR, các chính sách qui định về các giới hạn cho vay, giới hạn đầu tư,…Hiện nay, trong giới hạn cơ cấu cho vay của Vietinbank vẫn chưa đề cập đến giới hạn cho vay theo ngành nghề, lĩnh vực kinh tế. Nhất là xuất phát điểm từ một ngân hàng chuyên ngành, đặc trưng cơ cấu dư nợ cho vay tập trung theo theo ngành tại Ngân hàng còn lớn. Do vậy, Ngân hàng cần bổ sung hoàn thiện về các giới hạn này là cơ sở để xây dựng, thực hiện và điều chỉnh cơ cấu cho vay. Chính sách thực hiện cơ cấu cho vay, đầu tư phải đảm bảo tính nhất quán, phù hợp với các chính sách nội bộ nhằm đạt được các mục tiêu chung. Ngoài ra, phải đảm bảo tuân thủ các qui định của NHNN và phù hợp với điều kiện riêng biệt của Vietinbank.


Với hoạt động đầu tư đặc biệt là đầu tư tài chính, Ngân hàng cần chú trọng quan tâm nhiều hơn nữa, xây dựng chiến lược đầu tư chủ động. Với cơ cấu danh mục đầu tư CK của Ngân hàng hiện nay tập trung nhiều vào CK Nợ của TCTD và của doanh nghiệp, do vậy công tác QTRR đặc biệt là RRTD cần tăng cường. Việc hoàn thiện hệ thống XHTDNB của Ngân hàng không chỉ phục vụ trong công tác cho vay mà còn là căn cứ để Ngân hàng ra quyết định đầu tư.

- Thứ tư, giám sát cơ cấu DMCV/đầu tư nhằm hoàn thiện và điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế.

Trong quá trình thực hiện cơ cấu sử dụng vốn, hoạt động giám sát đóng vai trò quan trọng. Bên cạnh việc giám sát riêng lẻ từng khoản vay/giao dịch đầu tư, từng khách hàng vay/từng đối tác được chú trọng và quan tâm nhiều ở bộ phận tác nghiệp thì Ngân hàng cần kiểm soát tổng thể thành phần và chất lượng DMCV/đầu tư. Giai đoạn này đòi hỏi Ngân hàng phải sử dụng các công cụ đo lường rủi ro danh mục (VAR, RAROC,...). Đồng thời, cơ cấu DMCV/đầu tư phải được rà soát và có các báo cáo định kỳ về xu hướng rủi ro, các nguy cơ rủi ro chính, các lĩnh vực rủi ro cao từ đó áp dụng các biện pháp để giảm thiểu rủi ro.

Theo dõi biến động kết quả của hệ thống XHTDNB qua các báo cáo; Trên cơ sở thông tin từ chi nhánh đưa ra, đánh giá trong toàn hệ thống về cơ cấu, rủi ro DMCV; Cảnh báo khi dư nợ cho vay và rủi ro DMCV/đầu tư sắp gần tới hạn mức thiết lập; Cảnh báo và đề xuất các biện pháp điều chỉnh cơ cấu danh mục bởi thực tế trong quá trình thực hiện sẽ có nhiều yếu tố chủ quan và khách quan tác động nhằm đạt được mục tiêu.

3.2.1.2. Tích cực chuyển đổi mô hình kinh doanh giảm sự lệ thuộc vào hoạt động cho vay, phát triển hoạt động đầu tư tài chính và hoạt động phi tín dụng

Tăng tỷ trọng vốn đầu tư vào các hoạt động phi tín dụng là hướng đi tất yếu của NHTM. Tại Vietinbank, mặc dù cơ cấu sử dụng vốn theo hoạt động trong thời gian qua có sự thay đổi đáng kể, tỷ trọng vốn đầu tư tài chính đã tăng lên. Tăng trưởng dư nợ cho vay quá nóng tại Vietinbank và các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008-2012 để lại nhiều hệ lụy nặng nề - là bài học kinh nghiệm quy giá đối với Ngân hàng trong công tác kiểm soát tăng trưởng dư nợ gắn với nâng cao chất lượng cho vay.


Ngân hàng cần chuyển đổi mạnh mẽ mô hình kinh doanh theo hướng từ “độc canh tín dụng” sang mô hình đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Đa dạng hóa hoạt động kinh doanh hướng tới mục đích nhằm giảm thiểu những rủi ro phi hệ thống (Non-systematic Risks), qua đó tăng khả năng chịu đựng rủi ro của Ngân hàng. Việc nguồn thu của Vietinbank hiện nay phụ thuộc quá nhiều vào hoạt động cho vay, Ngân hàng không tận dụng được những ích lợi về giảm thiểu rủi ro mà đa dạng hóa kinh doanh đem lại. Bài học thực tiễn từ hoạt động đầu tư của các NHTM trên thế giới trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 cho thấy: Ngân hàng nên kiểm soát hoạt động đầu tư góp vốn ngoài ngành, tăng tỷ trọng vốn đầu tư tài chính kết hợp với đẩy mạnh phát triển hoạt động phi tín dụng - trong đó phát triển các dịch vụ tăng thu dịch vụ và thu ngoài lãi khác. Muốn vậy đòi hỏi Ngân hàng cần tăng vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng, máy móc trang thiết bị công nghệ Ngân hàng từ đó phát triển các sản phẩm dịch vụ dựa trên cơ sở nền tảng công nghệ hiện đại, phát triển các kênh phân phối mới. Như vậy, trong hoạt động sử dụng vốn thì vốn đầu tư mua sắm TSCĐ sẽ phải tăng lên, khoản mục này không đem lại khả năng sinh lời trực tiếp nhưng sinh lời gián tiếp thông qua thu phí dịch vụ, thông qua việc thu hút khách hàng mở tài khoản tiền gửi mà Ngân hàng chỉ phải trả với lãi suất thấp.

Với xu hướng phát triển của TTTC Việt Nam, đặc biệt là thị trường trái phiếu thì Ngân hàng nên tăng tỷ trọng vốn đầu tư trái phiếu do các tổ chức phát hành có độ tín nhiệm cao. Cùng với đó, tăng cường quản trị cấu trúc TSC-TSN trong điều kiện chênh lệch kỳ hạn giữa TSC - TSN theo hướng nghiêng về kỳ hạn Nợ phải trả ngắn hơn kỳ hạn cho vay, đầu tư. Vietinbank cần thay đổi cơ cấu này khi lãi suất có xu hướng tăng, kết hợp với cải thiện cơ cấu NVHĐ. Mặt khác, cần kết hợp với phương thức hoàn trả các khoản cho vay/ đầu tư (gồm gốc và lãi) một cách phù hợp nhằm giải quyết sự mất cân đối cơ cấu NVHĐ và cơ cấu sử dụng vốn.

3.2.1.3. Tăng cường và nâng cao hiệu quả chuyển dịch cơ cấu cho vay

(1) Cơ cấu lại hoạt động cho vay phù hợp với xu hướng phát triển và phát huy những lợi thế của Ngân hàng

Ngân hàng cần tích cực cơ cấu lại hoạt động cho vay theo hướng giảm mức


độ tập trung danh mục, chuyển dịch cơ cấu cho vay theo ngành, lĩnh vực, theo đối tượng khách hàng, theo loại tiền,... phù hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế xã hội, của nhu cầu thị trường. Đồng thời phát huy thế mạnh của mình nhằm đạt được mục tiêu an toàn và hiệu quả. Những giải pháp cụ thể là:

* Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cho vay theo ngành kinh tế, giảm vốn cho vay đối với các ngành đã bão hòa, giảm rủi ro tập trung cơ cấu cho vay theo ngành.

Bên cạnh phát huy thế mạnh ở những lĩnh vực truyền thống, giữ và mở rộng các khách hàng có độ tín nhiệm cao, khả năng tài chính lành mạnh. Để giữ vững và tăng trưởng thị phần thì Ngân hàng cần tăng cường mở rộng cho vay đối với các lĩnh vực khác. Kiểm soát chặt chẽ việc gia tăng tín dụng vào những lĩnh vực rủi ro cao như BĐS, CK, các dự án BOT và BT, tăng tỷ trọng dư nợ đối với khu vực sản xuất, kinh doanh đặc biệt là các lĩnh vực ưu tiên phát triển, góp phần hỗ trợ tích cực Đề án tái cơ cấu nền kinh tế, trong đó có tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Hiện tại dư nợ cho vay NNoNT tại Vietinbank chủ yếu mới tập trung vào khâu thu mua lúa gạo tích trữ, hoặc chế biến nông lâm, thủy sản. Với xu hướng hiện nay, Ngân hàng nên nghiên cứu mở rộng và phát triển cho vay theo chuỗi sản xuất, chế biến, cung cấp sản phẩm nông lâm nghiệp, thủy sản. Thực hiện CSTD hỗ trợ phát triển NNoNT Chính phủ và NHNN, cho vay hỗ trợ khu vực DNNVV, doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, phát triển công nghiệp phụ trợ. Chú trọng khâu phân tích đánh giá về yếu tố kỹ thuật khi thẩm định cho vay khách hàng.

* Chuyển dịch cơ cấu cho vay theo thành phần kinh tế và đối tượng khách hàng, tăng tỷ trọng dư nợ khách hàng thuộc thành phần kinh tế ngoài Nhà nước.

Với sự thay đổi đáng kể về nhu cầu sản xuất, tiêu dùng xã hội, thời gian tới, Ngân hàng cần phát triển nhiều hơn nữa đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp có vốn FDI và khu vực kinh tế ngoài Nhà nước. Tích cực tìm kiếm các đối tượng khách hàng thuộc các thành phần kinh tế có tiềm năng phát triển, mở rộng cho vay đối với DNNVV và KHCN. Cụ thể:

Download pdf, tải về file docx

Bài viết tương tự

Gửi tin nhắn

Danh mục

Bimage 1

Bài viết tương tự

Xem nhiều

Bimage 2

Bài viết mới

Bimage 3

Home | Contact | About | Terms | Privacy policy
© 2022 Tailieuthamkhao.com | all rights reserved

Trang chủ Tài liệu miễn phí Thư viện số