Cơ Hội, Thách Thức Trong Việc Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Của Ngân Hàng Nhà Nước Đối Với Hoạt Động Của Các Nhtm Ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả quản lý của ngân hàng nhà nước đối với hoạt động của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam - 12


sát an toàn toàn bộ hoạt động tài chính, bao gồm ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm. Mục tiêu và trách nhiệm chính của Cơ quan Giám sát an toàn hoạt động ngân hàng của NHNN là góp phần bảo đảm sự an toàn, ổn định của hệ thống các TCTD và chấp hành nghiêm minh pháp luật về tiền tệ, hoạt động ngân hàng, bảo vệ lợi ích của công chúng.

Hoàn thiện các điều kiện tiên quyết cho một hệ thống giám sát có hiệu quả :

Ưu tiên đổi mới mô hình tổ chức, hoạt động của Thanh tra NHNN hiện nay theo hướng nâng cao tính độc lập, thống nhất về hoạt động nghiệp vụ và chỉ đạo, điều hành của Cơ quan Giám sát an toàn hoạt động ngân hàng dưới sự quản lý của Thống đốc NHNN.

Hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về giám sát ngân hàng và hạ tầng cơ sở kỹ thuật phục vụ hoạt động giám sát ngân hàng. Xây dựng Luật Giám sát an toàn hoạt động ngân hàng (khi cần thiết). Bảo đảm để Cơ quan Giám sát an toàn hoạt động ngân hàng có đủ quyền lực cần thiết trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giám sát an toàn hệ thống và việc chấp hành đúng các quy định pháp luật trong hoạt động của các TCTD.

Hiện đại hoá và sử dụng có hiệu quả công nghệ thông tin trong công tác thanh tra, giám sát ngân hàng.

Đổi mới hoạt động cấp giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng, đơn giản hoá thủ tục cấp phép. Tạo điều kiện thuận lợi cho các TCTD thành lập và phát triển theo hướng bình đẳng trong tiếp cận thị trường và kinh doanh dịch vụ tiền tệ, ngân hàng trên cơ sở nâng cao kỷ luật thị trường, các yêu cầu về tiêu chuẩn thành lập các TCTD, quy định an toàn trong hoạt động ngân hàng để bảo đảm những TCTD thành lập mới phải có năng lực cạnh tranh, quy mô hoạt động, trình độ công nghệ, chất lượng và mức độ an toàn cao.


Đổi mới và nâng cao hiệu quả phương pháp giám sát ngân hàng :


Có thể bạn quan tâm!

Xem toàn bộ 147 trang: Nâng cao hiệu quả quản lý của ngân hàng nhà nước đối với hoạt động của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam

Nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiệp vụ giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ, trong đó giám sát từ xa được coi là nghiệp vụ quan trọng, có chức năng cảnh báo sớm rủi ro trong hoạt động ngân hàng; sử dụng kết quả và hoạt động kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập làm công cụ hỗ trợ cho quá trình giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ.

Hoàn thiện các quy định an toàn, các biện pháp thận trọng trong hoạt động ngân hàng; các quy định, chính sách quản lý các loại hình TCTD và hoạt động ngân hàng; đồng thời đổi mới nội dung, phương pháp, quy trình thanh tra, giám sát phù hợp sự phát triển của công nghệ thông tin, công nghệ ngân hàng và trên cơ sở áp dụng các nguyên tắc cơ bản về giám sát ngân hàng có hiệu quả của Ủy ban giám sát ngân hàng Basel và các nguyên tắc chuẩn mực quốc tế về giám sát ngân hàng theo Hiệp ước vốn Basel II.

Nâng cao hiệu quả quản lý của ngân hàng nhà nước đối với hoạt động của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam - 12

- Định hướng đổi mới quản lý và phát triển nhân lực


Tập trung xây dựng và phát triển nguồn nhân lực có đầy đủ năng lực và phẩm chất nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình phát triển NHNN trở thành NHTW hiện đại trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế.

Cùng với việc đổi mới cơ chế quản lý tại NHNN, triển khai việc cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức NHNN theo hướng nâng cao chất lượng và trình độ cán bộ, công chức; sắp xếp và hợp lý hoá lực lượng lao động ở cả NHNN Trung ương và chi nhánh NHNN cho phù hợp với mô hình tổ chức mới, cơ chế quản lý mới cũng như yêu cầu phát triển của NHNN.

Hoàn thiện hệ thống quy trình, chính sách quản lý lao động đi đôi với xây dựng môi trường làm việc thân thiện, lành mạnh và cơ chế khuyến khích bằng vật chất và cơ hội nghề nghiệp nhằm bảo đảm thu hút lực lượng cán bộ,


công chức giỏi theo hướng thu nhập bình quân của cán bộ, công chức NHNN không thấp hơn thu nhập bình quân của các NHTMNN.

Thực hiện quản lý cán bộ, công chức theo khối lượng và chất lượng công việc chuyên môn được giao. Thực hiện cơ chế đãi ngộ cán bộ, công chức theo năng lực thực tế, vị trí công tác và mức độ hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao. Cơ chế đãi ngộ, khen thưởng cùng với các biện pháp khuyến khích phi vật chất khác phải được đổi mới căn bản để thực sự trở thành động lực thúc đẩy các đơn vị và cá nhân nâng cao trình độ, phát huy lòng nhiệt tình, hăng hái thi đua, cống hiến năng lực và trí tuệ, nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc và gắn bó lâu dài với NHNN. Từng bước thực hiện cơ chế thi tuyển chức danh đối với một số vị trí quản lý, lãnh đạo; bố trí lao động phù hợp với năng lực cán bộ, công chức yêu cầu và tính chất công việc.

3.1.3- Cơ hội, thách thức trong việc nâng cao hiệu quả quản lý của Ngân hàng Nhà nước đối với hoạt động của các NHTM ở Việt Nam

3.1.3.1- Cơ hội


- Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế nói chung, hội nhập lĩnh vực tài chính ngân hàng nói riêng, NHNN có điều kiện chắt lọc, tiếp thu áp dụng các chuẩn mực, thông lệ quốc tế cũng như bài học kinh nghiệm quốc tế trong việc nâng cao hiệu quả quản lý của NHNN đối với hoạt động của các NHTM.

- NHNN Việt Nam có điều kiện phối hợp quốc tế trong việc quản lý hoạt động của các NHTM. Trong điều kiện Việt Nam là thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO, hợp tác ngày càng sâu rộng với các nước trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam tăng cường hợp tác quốc tế song phương, đa phương về quản lý các Ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, đồng thời tranh thủ sự hỗ trợ quốc tế về hiện đại hoá công nghệ ngân hàng.


3.1.3.2- Thách thức


Bên cạnh các cơ hội trong việc nâng cao hiệu quả quản lý đối với hoạt động của các NHTM ở Việt Nam, NHNN cũng còn đối mặt với các thách thức đặt ra đó là :

- Hoạt động của các NHTM ở Việt Nam ngày càng đa dạng và phát triển, đòi hỏi năng lực quản lý, giám sát của NHNN phải tương xứng. Do đó, NHNN cần có lộ trình phù hợp để nghiên cứu, xây dựng ban hành các quy định, quy trình về sản phẩm, nghiệp vụ ngân hàng hiện đại theo các chuẩn mực và thông lệ quốc tế nhằm tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động của các NHTM và sự quản lý của NHNN. Đây là thách thức không nhỏ đối với các cơ quan quản lý nói chung và NHNN nói riêng, vì có nhiều nội dung hoạt động và các vướng mắc phát sinh của các NHTM trong quá trình hoạt động, cơ quan quản lý (NHNN) chưa thể hình dung hết được.

- Cơ chế, chính sách quản lý, giám sát, điều tiết của NHNN đối với hoạt động của các NHTM ở Việt Nam phải đảm bảo công khai, minh bạch hơn nữa. Một trong các nguyên tắc khi Việt Nam gia nhập WTO, đó là việc thực hiện công khai, minh bạch trong quản lý, giám sát, điều tiết của NHNN đối với hoạt động của các NHTM để các NHTM chủ động trong hoạt động kinh doanh của mình. Giảm tối đa sự can thiệp bằng biện pháp hành chính của NHNN vào hoạt động của các NHTM; xoá bỏ sự phân biệt đối xử đối với các loại hình NHTM; tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng cho các NHTM cạnh tranh lành mạnh và hợp tác cùng nhau phát triển; chuyển sang quản lý, điều hành chủ yếu thông qua các phương thức gián tiếp (định hướng chiến lược, hệ thống các VBQPPL, cơ chế chính sách theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế…). Đây là các thách thức không chỉ trong thời gian qua, mà còn đặt ra cho NHNN với tư cách cơ quan quản lý, giám sát, điều tiết đối với hoạt động của các NHTM ở Việt Nam trong thời gian đến.


Để thực hiện mục tiêu và định hướng trên đây, NHNN cần tranh thủ tối đa các cơ hội, thấy được các thách thức, từ đó có giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả quản lý đối với hoạt động của các NHTM ở Việt Nam trong thời gian đến.

3.2- Quan điểm nâng cao hiệu quả quản lý của Ngân hàng Nhà nước đối với hoạt động của các NHTM ở Việt Nam

- Nghiên cứu hoàn thiện, nâng cao hiệu quả quản lý của NHNN đối với hoạt động của các NHTM phải dựa trên cơ sở tổng kết một cách toàn diện, có hệ thống thực tiễn hoạt động quản lý của NHNN Việt Nam đối với hoạt động của các NHTM trong những năm qua, đặc biệt là những năm gần đây; đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý của NHNN đối với hoạt động của các NHTM qua từng thời kỳ, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm về nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý, để có phương hướng đổi mới phù hợp với tình hình thực tế và xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.

- Phát huy tối đa các nguồn lực trong nước, đồng thời tranh thủ sự hỗ trợ và hợp tác của bên ngoài, chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngân hàng, hiện đại hóa công nghệ ngân hàng, nâng cao sức cạnh tranh, rút ngắn nhanh khoảng cách về trình độ quản lý của NHNN so với khu vực và thế giới.

- Nâng cao hiệu quả quản lý của NHNN đối với hoạt động của các NHTM phải trên cơ sở quán triệt những quan điểm, chủ trương, định hướng của Đảng, Nhà nước về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, về cải cách bộ máy nhà nước và cải cách nền hành chính nhà nước; xác định rõ vị trí, vai trò của công tác quản lý nhà nước trong quá trình đổi mới; đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật có bước đi thích hợp, đồng bộ; phải gắn với


quá trình cải cách cơ cấu nền kinh tế, mà một trong 3 vấn đề cốt lõi là tái cấu trúc các NHTM.

- Phải đảm bảo tăng cường hiệu quả công tác quản lý, giám sát trong điều kiện phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN. Đồng thời phải tạo các điều kiện, môi trường thuận lợi để các NHTM phát triển an toàn, lành mạnh, phát huy hết tiềm năng; góp phần bảo đảm sự ổn định của hệ thống tài chính, ổn định kinh tế vĩ mô, phục vụ đắc lực cho việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 của Đảng và Nhà nước.

- Nâng cao hiệu quả quản lý của NHNN đối với hoạt động của các NHTM phải trên cơ sở phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa NHNN với các cơ quan, tổ chức khác có tham gia quản lý, giám sát đối với hoạt động của các NHTM; tạo ra cơ chế phối hợp quản lý, giám sát hữu hiệu, nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của quản lý, đấu tranh chống các tệ tham nhũng, cửa quyền, phòng và chống các hành vi vi phạm pháp luật, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong các cơ quan nhà nước và trong toàn xã hội.

- Nâng cao hiệu quả quản lý của NHNN đối với hoạt động của các NHTM phải nhằm vào mục tiêu thiết lập được NHTW hiện đại tinh gọn, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; bảo đảm tăng cường sự chỉ đạo tập trung, thống nhất trong hoạt động từ Trung ương đến cơ sở, có phương thức hoạt động linh hoạt, đảm bảo tính nhanh nhạy, kịp thời và có hiệu quả, không chồng chéo, trùng lặp.

- Quản lý của NHNN đối với hoạt động của các NHTM phải trên cơ sở nguyên tắc thị trường. Trong quá trình xây dựng và phát triển hoạt động của hệ thống các NHTM, cần tuân thủ nguyên tắc và cơ chế hoạt động


khách quan của thị trường, trong đó không ngừng chú trọng việc phát huy các mặt tích cực, đồng thời có các biện pháp kịp thời để khắc phục, hạn chế các mặt tiêu cực của thị trường tác động.

3.3- Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý của Ngân hàng Nhà nước đối với hoạt động của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam

3.3.1- Giải pháp tập trung xử lý, giải quyết nợ xấu


Từ nay đến năm 2015 cần tập trung xử lý, giải quyết được cơ bản vấn đề nợ xấu của các NHTM, từ đó sẽ khơi thông được dòng tín dụng, ổn định tính thanh khoản toàn hệ thống, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý của NHNN VN đối với hoạt động của các NHTM. Để xử lý, giải quyết vấn đề nợ xấu một cách hiệu quả, cần quán triệt sâu sắc một số yêu cầu mang tính nguyên tắc và thực hiện giải pháp chung sau :

Giải quyết vấn đề nợ xấu, đồng thời với việc chú ý các biện pháp ngăn chặn nguy cơ tăng nợ xấu trong tương lai; xử lý, giải quyết vấn đề nợ xấu một cách tổng thể, tôn trọng kỷ cương, kỷ luật thị trường và đảm bảo thực hiện công bằng xã hội; xử lý, giải quyết vấn đề nợ xấu không gây áp lực tăng nợ Chính phủ; xử lý, giải quyết vấn đề nợ xấu không phá vỡ CSTT; xử lý, giải quyết vấn đề nợ xấu thông qua việc thành lập Công ty quản lý tài sản - nợ xấu, cần chú trọng việc quy định rõ nội dung hoạt động và phương thức phân bổ các khoản nợ xấu.

Ngoài việc các NHTM tự xử lý, giải quyết nợ xấu và xử lý các tài sản đảm bảo theo các cơ chế, chính sách của NHNN (xử lý tài sản bảo đảm để thanh lý nợ xấu, cơ cấu lại nợ với các hình thức thích hợp, kiểm soát chặt chẽ và giảm chi phí hoạt động, trích lập đủ quỹ dự phòng rủi ro và sử dụng quỹ này để xử lý nợ xấu, phối hợp chặt chẽ với VAMC để thực hiện các giải pháp xử lý nợ xấu…); thì vai trò của Chính phủ, các bộ ngành, địa


phương và NHNN trong việc đề ra nhiều giải pháp để đẩy nhanh tiến độ việc xử lý, giải quyết nợ xấu là cấp thiết.

Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế tài chính, hoàn cảnh giai đoạn cụ thể khác nhau, mà từng nước có các giải pháp phù hợp để xử lý, giải quyết nợ xấu. Bài học kinh nghiệm của các nước rút ra và giải pháp cho việc giải quyết nợ xấu của Việt Nam đó là:

Một là, cần thực hiện nhanh, nhưng phải có lộ trình phù hợp, quy trình chặt chẽ và theo sự chỉ đạo tập trung của Chính phủ; NHNN và Bộ Tài chính là Cơ quan thường trực giúp Chính phủ giải quyết nợ xấu;

Hai là, giải quyết nợ xấu cần có nguồn lực tài chính; nguồn lực tài chính này có thể huy động nguồn vốn trong nước và từ nước ngoài để làm sạch các khoản nợ xấu trên bảng cân đối kế toán của hệ thống các NHTM;

Ba là, thành lập Công ty mua, bán nợ; Chính phủ cấp vốn cho Công ty mua, bán nợ từ việc phát hành trái phiếu đặc biệt;

Bốn là, nguồn trả nợ cho việc phát hành trái phiếu này từ tiết kiệm chi ngân sách, tránh việc sử dụng từ nguốn cung ứng tiền của NHNN, sẽ gây ra lạm phát trong tương lai;

Năm là, cho phép nhà đầu tư nước ngoài (nhà đầu tư chiến lược) tham gia đầu tư trong lĩnh vực ngân hàng, kể cả việc thành lập doanh nghiệp mua bán nợ.

Giải pháp cụ thể về xử lý nợ xấu :


- Xử lý nợ xấu qua VAMC : tập trung xúc tiến hình thành thị trường bán nợ (chủ yếu TP.Hồ Chí Minh và Hà Nội); rà soát phân loại danh mục tài sản dựa trên nhu cầu nhà đầu tư trong nước và quốc tế; triển khai xây dựng đề án mua, bán nợ theo giá thị trường; thực hiện phương án mua bán


nợ xấu theo nguyên tắc thị trường; cấp bổ sung vốn điều lệ cho VAMC tăng lên ít nhất 2.000 tỷ đồng; quy định việc mua bán nợ theo giá thị trường; rút ngắn thời gian làm thủ tục trong thay đổi bước giá.

- Trách nhiệm của Chính phủ, các bộ ngành và của NHNN trong việc đẩy nhanh xử lý nợ xấu qua VAMC : cần có cơ chế, chính sách đặc thù trong việc bán nợ xấu cho VAMC theo hướng giao cho VAMC có thực quyền trong vai trò là chủ nợ khi mua nợ xấu của các NHTM; trước khi bán nợ, VAMC sẽ chủ động trao đổi với NHTM bán nợ; trường hợp VAMC và NHTM không thống nhất, VAMC được quyết định giá bán trên cơ sở định giá độc lập và VAMC được quyền lựa chọn phương thức bán theo thỏa thuận hoặc đấu giá.

Cần có quy định về quyền và trách nhiệm của các cơ quan liên quan tham gia, bảo đảm việc thu hồi, thu giữ, kiểm kê tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu VAMC đã mua. Hướng dẫn về bán đấu giá khoản nợ và tài sản đảm bảo, nhằm tạo hành lang pháp lý cho VAMC mạnh dạn trong việc xử lý tài sản đảm bảo.

Hướng dẫn tạo điều kiện cho VAMC trong việc : chấp thuận nội dung Hợp đồng ủy quyền khởi kiện của VAMC cho NHTM theo hình thức bên được ủy quyền là pháp nhân – NHTM; trên cơ sở Hợp đồng ủy quyền này, NHTM được thay mặt VAMC ký đơn khởi kiện và thực hiện toàn bộ quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn. Cần có chính sách nhằm tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài mua nợ, tài sản trong đó có vấn đề sở hữu bất động sản, trách nhiệm tái cơ cấu khoản nợ của nhà đầu tư nước ngoài khi mua nợ xấu…

- Đối với NHNN : giám sát, kiểm tra việc phân phối lợi nhuận của các NHTM phải trên cơ sở : trích lập đầy đủ và sử dụng quỹ dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu; chỉ đạo các NHTM rà soát, phân loại nợ, bán nợ xấu


cho VAMC; sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định về an toàn hoạt động ngân hàng; quy chế cho vay, tăng cường quản trị rủi ro nhằm hạn chế nợ xấu mới phát sinh tại các NHTM.

3.3.2- Giải pháp đẩy nhanh tiến độ tái cấu trúc hệ thống NHTM.


Quản lý của NHNN đối với hoạt động của các NHTM sẽ kém hiệu quả, nếu quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng kéo dài. Quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng bao gồm các hoạt động : (i) giải thể một số ngân hàng yếu kém; (ii) tiến hành sáp nhập một số ngân hàng yếu vào ngân hàng khoẻ mạnh; (iii) củng cố tổ chức và hoạt động của các ngân hàng còn lại trong hệ thống.

Muốn quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng đạt hiệu quả cao nhất, thì đòi hỏi phải xây dựng và triển khai kế hoạch dài hạn và đồng bộ; bao gồm quy trình xử lý và xây dựng các kịch bản dự phòng khi xảy ra tình huống xấu, để sao cho trong quá trình triển khai thực hiện cấu trúc, hoạt động thanh toán và hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng không bị ảnh hưởng.

Do đó cần tập trung đẩy nhanh tiến độ quá trình tái cấu trúc hệ thống NHTM theo lộ trình và kế hoạch đã đề ra, chuẩn bị trước các kịch bản dự phòng khi xảy ra tình huống xấu, đảm bảo trong quá trình triển khai thực hiện tái cấu trúc, hoạt động thanh toán và hoạt động tín dụng của hệ thống NHTM không bị ảnh hưởng.

Sau quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, phải đạt được mục tiêu : hệ thống ngân hàng sẽ hoạt động an toàn và hiệu quả hơn trước đó. Việc đẩy nhanh tiến độ quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, sẽ tạo niềm tin cho người dân, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý của NHNN đối với hoạt động của các NHTM, góp phần đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô đã đề ra trong từng thời kỳ.


Giải pháp cụ thể về tái cấu trúc :


Để đấy nhanh tiến độ tái cấu trúc hệ thống NHTM, ngoài việc tiếp tục triển khai các giải pháp chung nêu tại Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011 - 2015 ban hành theo Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ, cần triển khai một số giải pháp cụ thể sau :

- Tiếp tục đánh giá, phân loại các NHTM thành các nhóm (nhóm NHTM yếu kém, nhóm NHTM hoạt động bình thường) từ đó NHNN có chỉ đạo việc xây dựng mới hoặc hoàn thiện phương án tái cấu trúc đã xây dựng của từng hệ thống NHTM. Trên cơ sở phương án tái cấu trúc đã được duyệt, Cơ quan Thanh tra - Giám sát sẽ thực hiện việc giám sát, thanh tra, kiểm tra chặt chẽ NHTM trong việc thực hiện phương án tái cấu trúc đảm bảo theo đúng mục tiêu, kế hoạch đã được phê duyệt. NHNN cần áp dụng các biện pháp chế tài phù hợp đối với NHTM trong việc chậm triển khai phương án tái cấu trúc đã được duyệt.

- Tạo điều kiện và khuyến khích các TCTD nước ngoài góp vốn, mua cổ phần của các NHTM Việt Nam, nhất là một số NHTMCP yếu kém nhằm đẩy nhanh tiến độ tái cấu trúc các NHTM này.

- Đối với một số NHTMCP có các cổ đông hiện đang sở hữu cổ phần vượt tỷ lệ quy định hoặc có vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước, nay yêu cầu phải xử lý việc sở hữu cổ phần của ngân hàng vượt giới hạn quy định tại Luật các TCTD hoặc doanh nghiệp Nhà nước phải thoái vốn đầu tư tại NHTM. Do đó NHTMCP sẽ gặp khó khăn. Để góp phần tháo gỡ khó khăn cho NHTMCP, đồng thời để đẩy nhanh tiến độ tái cấu trúc các NHTMCP này, cho phép NHNN mua lại số cổ phần này sau khi cổ đông thoái vốn.


- Có chính sách quy định miễn, giảm thuế thu nhập đối với các NHTM trong quá trình tái cấu trúc (hợp nhất, sáp nhập, mua lại).

- Đẩy nhanh quá trình xử lý nợ xấu và xử lý sở hữu chéo trong hệ thống các NHTM (xem giải pháp ở mục 3.3.1 giải pháp tập trung xử lý, giải quyết nợ xấu và mục 3.3.2 giải pháp đẩy nhanh tiến độ tái cấu trúc hệ thống NHTM).

3.3.3- Giải pháp hoạch định chiến lược phát triển Ngành ngân hàng giai đoạn từ nay đến năm 2020.

Trên cơ sở đánh giá tổng quát tình hình thực hiện Chiến lược đã ban hành (công tác triển khai thực hiện; việc theo dõi, đôn đốc, kiểm tra; kết quả thực hiện chiến lược đã đề ra), để thấy được rõ hơn các kết quả đạt được và chưa đạt được thời gian qua, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm rút ra cho giai đoạn sắp đến; tổ chức lấy ý kiến tham gia rộng rãi các NHTM, các tổ chức có liên quan, các nhà quản lý, nhà khoa học, các chuyên gia trong và ngoài nước; để từ đó xây dựng hoạch định chiến lược phát triển mới phù hợp, sát với thực tế, khả thi.

Đây là một trong các công cụ quan trọng không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý của NHNN đối với hoạt động NHTM, mà còn định hướng cho sự phát triển của hoạt động NHTM nhằm phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia trong thời gian đến, giai đoạn từ nay đến năm 2020.

Trong quá trình xây dựng một kế hoạch chiến lược, cần duy trì đối thoại với các tổ chức có liên quan, các nhà quản lý, nhà khoa học, các chuyên gia trong và ngoài nước, đặt biệt là các NHTM. Sự tham gia của các NHTM vào quá trình lập kế hoạch chiến lược sẽ tạo được sự quan tâm và đồng thuận từ các NHTM, tăng tính minh bạch của việc ra quyết định và thực hiện quyết định.

Download pdf, tải về file docx

Bài viết tương tự

Gửi tin nhắn

Danh mục

Bimage 1

Bài viết tương tự

Xem nhiều

Bimage 2

Bài viết mới

Bimage 3

Home | Contact | About | Terms | Privacy policy
© 2022 Tailieuthamkhao.com | all rights reserved

Trang chủ Tài liệu miễn phí Thư viện số