Qui Trình Kiểm Tra, Đánh Giá Công Tác Huy Động Vốn Của Ngân Hàng Thương Mại

Huy động vốn của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - 5


tài sản của NH để tận thu nguồn vốn...

2.2.2.2. Ban hành các chính sách huy động vốn

Chính sách HĐV của NH là một hệ thống các qui định nhằm điều chỉnh hoạt động HĐV phù hợp với chiến lược kinh doanh của NH trong từng thời kỳ nhất định. Các NHTM đều xây dựng cho mình các chỉ tiêu về HĐV riêng.

Chính sách HĐV là một hệ thống bao gồm các quy định, các công cụ, hình thức nhằm đạt mục tiêu đề ra. Chính sách HĐV chỉ rõ qui mô, kết cấu nguồn vốn cần huy động, mức LS, kỳ hạn… có thể áp dụng cùng nguồn tài nguyên về công nghệ, nhân lực, tài chính. Trên cơ sở đó, công tác HĐV sẽ bao gồm những nội dung mà theo đó, từng bộ phận liên quan sẽ sử dụng các công cụ, các mức LS, các kỳ hạn, xác định đối tượng huy động, phương thức HĐV phù hợp với qui mô, cơ cấu vốn cần thiết nhằm đạt các mục tiêu đề ra. Trong đó:

- Chính sách về sản phẩm tiền gửi: Người quản lý phải nắm bắt được nhu cầu, đặc tính tâm lý của KH, qua đó, đưa ra những sản phẩm tiền gửi phù hợp với từng loại đối tượng KH. Gia tăng các nguồn vốn huy động là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh chất lượng hoạt động của NH, là điều kiện đẻ NH mở rộng qui mô, nâng cao tính thanh khoản và tính ổn định của nguồn vốn.

- Chính sách về kỳ hạn của nguồn vốn huy động: Nhà quản lý thực hiện đánh giá qui mô, cơ cấu và sự tăng trưởng nguồn vốn huy động qua các thời kỳ nhằm đưa ra các biện pháp tăng qui mô và thay đổi cơ cấu hiệu quả nhất. Đây là nội dung đầu tiên quan trọng trong quản lý nguồn vốn huy động. Cơ cấu nguồn vốn có ảnh hưởng đến cơ cấu và sự đa dạng của tài sản và quyết định chi phí cũng như lợi nhuận của NH.

- Chính sách về LS huy động và chi phí HĐV: Chính sách về lãi suất và chi phí hoạt động liên quan trực tiếp đến việc HĐV, vì nó ảnh hưởng trực tiếp


đến nguồn thu nhập và chi phí của NH. Về nguyên tắc thì LS huy động càng cao thì NH càng thu hút được nhiều nguồn vốn, nhưng nếu chi phí lãi càng tăng, đi kèm với nó việc kiểm soát các chi phí khác gắn với HĐV kém hiệu quả (tăng lên), trong khi đó doanh thu lại không tăng cùng tốc độ thì lợi nhuận sẽ sụt giảm, tức là kinh doanh không hiệu quả. Do vậy, nhà quản lý cần đưa ra những chính sách về LS huy động và chi phí HĐV phù hợp trong từng thời kỳ và theo từng mục tiêu chiến lược chung của NH.

- Chính sách thiết lập hệ thống kênh phân phối. Việc thiết lập mạng lưới các Chi nhánh, Phòng giao dịch có vai trò quyết định trong công tác HĐV của NHTM, bởi vì KH chỉ đem gửi tiền tại những nơi thuận tiện, an toàn và vì vậy, các NHTM phải chú ý thiết lập mạng lưới các phòng giao dịch sao cho càng tiến gần tới các KH mục tiêu càng tốt nhưng phải trên cơ sở tính toán các phí tổn về huy động nguồn. Bên cạnh đó, NHTM cũng phải nghiên cứu để đưa ra các sản phẩm HĐV phù hợp với yêu cầu của KH trên cơ sở bảo vệ quyền lợi của những người gửi tiền cả vè tính an toàn, tiện ích và thu nhập.

- Chính sách marketing. NHTM phải có các chính sách quảng bá, xúc tiến phù hợp để hấp dẫn và lôi kéo KH tìm đến gửi tiền ở NH của mình chứ không phải gửi ở tổ chức khác. Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay thì phải tăng tính chuyên nghiệp của công tác xúc tiến, kết hợp thông tin đa chiều trên các phương tiện thông tin truyền thông để người gửi tiền biết đến các sản phẩm HĐV mà NH tạo ra, thấy được lợi ích khi đem gửi tiền tại NH mình. Hết sức tránh các cách thức quảng cáo phản cảm, gây tốn kém chi phí mà lại gây tác động ngược đến công tác HĐV của NH.

Về nguyên lý thì chính sách HĐV của NHTM phải bám sát các đường lối, chủ trương, chính sách của Nhà nước, đặc biệt là các chính sách của NHTW.

2.2.2.3. Tổ chức thực hiện công tác huy động vốn

* Xây dựng chỉ tiêu huy động vốn

Trong hoạt động kinh doanh NH thì HĐV là khâu rất quan trọng, nó


giúp bảo đảm sự ổn định thanh khoản NH. Từ tầm quan trọng của HĐV, việc xây dựng chỉ tiêu HĐV có tầm quan trọng đặc biệt. Chỉ tiêu HĐV của NHTM được xây dựng theo thời gian nhất định, dựa vào qui mô hoạt động của NHTM trên cơ sở nhu cầu vốn TD của nền kinh tế. Chính vì vậy, chỉ tiêu HĐV này tăng, giảm hay giữ ổn định hoàn toàn tùy thuộc vào tình hình cụ thể của nền kinh tế trong từng giai đoạn nhất định.

Việc xây dựng các chỉ tiêu HĐV là cần thiết: (i) Là căn cứ để tiến hành phân bố nguồn lực một cách cụ thể; (ii) Là căn cứ chủ yếu để đánh giá khả năng và thành tích trong HĐV; (iii) Là căn cứ để kiểm soát sự hoạt động, đảm bảo duy trì sự tiến triển đúng theo hướng đạt được các mục tiêu dài hạn về HĐV;

(iv) Chỉ ra những trật tự ưu tiên cho cả NH, chi nhánh, các phòng chức năng.

* Xây dựng hệ thống tìm kiếm và phân loại nguồn vốn

NHTM phải có hệ thống để khai thác tìm kiếm nguồn vốn thông qua hệ thống nhân sự của NH. Việc khai thác tìm kiếm nguồn vốn đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh cạnh tranh huy động nguồn khá nóng hiện nay. Thực tế cho thấy rằng, việc tìm kiếm nguồn vốn đã khó, nhưng việc duy trì nguồn vốn còn khó hơn nhiều. Muốn duy trì được nguồn vốn ổn định lâu dài thì đòi hỏi NHTM phải phân loại nguồn vốn, từ đó đưa ra các biện pháp quản lý phù hợp với đặc điểm của từng nguồn.

* Triển khai các hình thức huy động vốn

Đây là sự cụ thể hóa các nội dung công việc nhất định cần phải làm, những biện pháp và trật tự các bước cần thực hiện trong việc thực thi chiến lược HĐV. Các nội dung cần hướng vào: (i) Công việc cần làm cụ thể là gì?;

(ii) Bao giờ bắt đầu và kết thúc khi nào?; (iii) Ai sẽ làm và chịu trách nhiệm về công việc đó?; (iv) Ngân sách hoạt động lấy từ đâu với số lượng bao nhiêu?; (v) Các qui định về thủ tục (giải quyết khiếu nại của KH, giải quyết quyền lợi của nhân viên, thủ tục hướng dẫn các nhân viên thực thi nhiệm


vụ…) là gì?.

Việc HĐV đòi hỏi phải có nguồn lực. Nguồn lực của NH bao gồm: (i) Nguồn lực tài chính; (ii) Nguồn lực vật chất; (iii) Nguồn nhân lực; (iv) Kỹ thuật công nghệ. Phân bổ nguồn lực phải theo nguyên tắc thứ tự ưu tiên: theo các mục tiêu hàng năm và theo chương trình hành động đã được thiết lập.

Các hình thức HĐV của NHTM bao gồm:

Thứ nhất, HĐV thông qua tăng vốn chủ sở hữu

Để tăng vốn chủ sở hữu, các NHTM có thể thông qua các hình thức:

- Bổ sung vốn điều lệ bằng việc phát hành thêm cổ phiếu, cấp thêm vốn, góp thêm vốn...

Tùy thuộc loại hình NHTM mà có các hình thức bổ sung vốn điều lệ cho phù hợp: (i) Đối với các NHTMNN: Để tăng vốn điều lệ thì Nhà nước sẽ thực hiện cấp thêm vốn điều lệ từ ngân sách Nhà nước; Đối với các NHTMCP thì để tăng vốn điều lệ sẽ tiến hành phát hành thêm cổ phiếu; Đối với các NHTM tư nhân: Bổ sung tăng vốn điều lệ thông qua cấp thêm vốn; Đối với NH liên doanh: Do các bên tham gia trong liên doanh sẽ thỏa thuận tăng thêm vốn điều lệ.

- Bổ sung vốn chủ sở hữu bằng cách trích lập thêm lợi nhuận sau thuế hàng năm

Các NHTM khi hoạt động kinh doanh có lãi thì có thể lựa chọn chuyển một phần lợi nhuận thành nguồn vốn để tái đầu tư.

- Bổ sung vốn chủ sở hữu thông qua việc trích lập các Quĩ từ lợi nhuận sau thuế hàng năm

NHTM có các loại quĩ khác nhau, với những mục đích sử dụng khác nhau: (i) Quĩ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: Được dùng để tăng cường vốn điều lệ. Lợi nhuận hàng năm sẽ được bổ sung vào Quỹ này cho đến khi đạt 50% vốn điều lệ thì sẽ chuyển sang vốn điều lệ; (ii) Quĩ dự phòng rủi ro: Được sử


dụng để dự phòng bù đắp rủi ro trong quá trình hoạt động kinh doanh của NHTM nhằm bảo toàn vốn điều lệ. Quĩ này được trích lập hàng năm và được tích lũy nhằm bù đắp những tổn thất xảy ra; (iii) Quĩ khen thưởng, phúc lợi, quĩ dự phòng chung, quĩ khấu hao...: Các NHTM có thể tăng vốn chủ sở hữu thông qua trích lập với tỷ lệ cao hơn cho các loại quĩ này.

Thứ hai, HĐV thông qua nhận tiền gửi của các tổ chức kinh tế và dân cư

Vốn huy động tiền gửi từ tổ chức kinh tế và dân cư rất đa dạng cả về hình thức huy động, kỳ hạn huy động và loại tiền huy động:

- Tiền gửi của tổ chức kinh tế

Trong quá trình SXKD, các tổ chức kinh tế thường có một bộ phận vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi (khấu hao đã trích lập nhưng chưa đến hạn sử dụng, tiền thu bán hàng nhưng chưa mua nguyên vật liệu, các quĩ khen thưởng, phúc lợi, quĩ đầu tư phát triển ... đã trích lập song chưa sử dụng đến), các tổ chức kinh tế thường gửi chúng vào NHTM, vừa bảo đảm an toàn, nhưng lại giúp sinh lời, mặt khác nhằm thuận tiện cho hoạt động thanh toán...

Các tổ chức kinh tế gửi vốn vào NHTM dưới các hình thức:

+ Tiền gửi không kỳ hạn: Loại tiền gửi này mục đích là để thanh toán, KH có thể rút ra bất cứ khi nào và NHTM luôn có nghĩa vụ phải đáp ứng yêu cầu của KH vô điều kiện. Do không có tính kế hoạch nên LS áp dụng cho loại tiền gửi này là khá thấp, thậm chí trước những năm 1980, NHTW các nước không cho phép thanh toán lãi cho loại tiền gửi này [64]. Mặc dù là loại tiền gửi không kỳ hạn, KH có thể rút ra bất cứ khi nào nhưng trong thực tế luôn có một số dư tiền gửi nhất định tại quĩ của NHTM và NHTM có thể sử dụng chúng để cho vay có kỳ hạn.

+ Tiền gửi có kỳ hạn: Đây là những khoản tiền gửi của các tổ chức kinh tế có sự thỏa thuận về thời hạn rút tiền và do có tính kế hoạch hóa nên nhìn chung laọi nguồn vốn huy động này có độ ổn định cao và do vậy KH gửi tiền


sẽ được nhận mức LS cao hơn đáng kể so với LS tiền gửi không kỳ hạn. Về nguyên tắc thì KH gửi tiền chỉ có thể rút tiền theo thời hạn đã thỏa thuận, nhưng thực tế các NHTM vẫn cho phép KH rút trước hạn nhưng khi đó hầu như KH chỉ được hưởng LS không kỳ hạn.

- Tiền gửi của dân cư

Tiền gửi dân cư là bộ phận tiền gửi huy động đóng vai trò rất quan trọng đối với các NHTM bởi tiềm năng của chúng là rất lớn. Thu nhhập của dân chúng càng cao thì tiền gửi của dân cư càng lớn nếu như các NHTM có các hình thức HĐV hợp lý. Tiền gửi dân cư có 2 loại: tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán

+ Tiền gửi tiết kiệm: Đây là hình thức huy động tiền gửi truyền thóng của NHTM. Với loại tiền gửi này, KH gửi tiền sẽ được nhận từ NH một sổ tiết kiệm. Trong thời gian gửi tiền, sổ tiết kiệm đó có thể được sử dụng để cầm cố hoặc được chiết khấu để vay vốn. Tiền gửi tiết kiệm bao gồm tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn.

+ Tiền gửi thanh toán: Các cá nhân có nhu cầu cũng có thể thực hiện thanh toán qua NH, khi đó, họ cũng mở TK tiền gửi thanh toán tại NHTM và gửi tiền vào TK này để đáp ứng các nhu cầu thanh toán cũng như sử dụng các tiện ích khác mà NHTM cung cấp.

- Tiền gửi khác

Ngoài 2 loại tiền gửi như trên đã đề cập thì các NHTM còn có các loại tiền gửi khác: Tiền gửi của các tổ chức TD khác, tiền gửi của các đoàn thể xã hội...

Thứ ba, HĐV thông qua phát hành giấy tờ có giá

Đây là nguồn vốn mà các NHTM có thể huy động được thông qua phát hành các công cụ nợ như kỳ phiếu, trái phiếu NH, chứng chỉ tiền gửi... Các cá nhân, tổ chức có thể sử dụng số vốn tạm thời nhàn rỗi để mua các giầy tờ có giá này và đây được xem là một kênh đầu tư có lợi khi những người có tiền


chưa tìm được cơ hội đầu tư trực tiếp. Các công cụ nợ này có khá nhiều tiện ích: Chúng dễ dàng bán hay chuyển nhượng trên thị trường vốn, được chiết khấu tại NH. Đối với các NHTM, với việc phát hành các giấy tờ có giá để HĐV, các NH có khả năng tập trung một lượng vốn lớn trong một thời gian ngắn và hoàn toàn chủ động trong sử dụng. Hình thức HĐV này thường được thực hiện khi các NHTM đã tiếp cận được các dự án vay vốn lớn trong thời hạn giải ngân nhanh. Chúng cũng có thể được sử dụng trong trường hợp NH sau khi cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn trong toàn hệ thống mà vẫn còn bị thiếu hụt và trong trường hợp này phải có sự chấp thuận của NHTW.

Thứ tư, HĐV thông qua vay NHTW và các TCTD khác

- HĐV thông qua đi vay NHTW

Các NHTM có thể đến NHTW xin vay để bổ sung vốn hoạt động khi NH đã sử dụng hết số vốn khả dụng mà vẫn thiếu vốn hoạt động (tạm thời thiếu vốn khả dụng). Trường hợp NHTM thiếu năng lực thanh khoản thì cũng có thể đến NHTW để xin vay bổ sung.

Tùy theo mục đích sử dụng và hình thức vay vốn mà vốn vay từ NHTW được chia thành các loại khác nhau. Chúng bao gồm:

+ Vay ngắn hạn bổ sung: Là hình thức vay, trong đó, các NHTM xin vay vốn bổ sung vốn ngắn hạn của mình. Trong hình thức này, các NHTM chỉ được vay khi còn hạn mức TD hoặc trong hạn mức TD đã thỏa thuận.

+ Vay thanh toán: các NHTM có thể đến NHTW vay nhằm bù đắp thiếu hụt tạm thời trong thanh toán.

+ Vay tái chiết khấu và tái cầm cố giấy tờ có giá: các chứng từ này phải bảo đảm tính hợp lệ, hợp pháp và an toàn: (i) Đối với hình thức vay tái chiết khấu: NHTW sẽ nhận các chứng từ có giá mà các NHTM đã chiết khấu trước đó để thực hiện nghiệp vụ giống như các NHTM đã làm. Tuy vậy, việc cho vay tái chiết khấu đối với các NHTM phải nằm trong hạn mức cho phép nhằm


thực thi chính sách tiền tệ của NHTW; (ii) Vay tái cầm cố các giấy tờ có giá: Đây là hình thức trong đó các NHTM đem các giấy tờ có giá đến NHTW để làm tài sản bảo đảm xin vay vốn. NHTW sẽ cho vay theo một tỷ lệ nhất định tùy theo chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ.

Thông thường, nguồn vốn vay từ NHTW chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của NHTM, chủ yếu là vốn ngắn hạn. Chi phí cao hay thấp phụ thuộc hoàn toàn vào chính sách tiền tệ của NHTW. Nếu như NHTW thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ thì LS cho vay các NHTM sẽ cao, dẫn đến chi phí vay vốn từ NHTW tăng cao; và ngược lại.

- HĐV qua đi vay các TCTD khác

Nhằm khác phục các bất cập trong điều hòa huy động và sử dụng vốn (Trong thực tiễn hoạt động NH thường xảy ra tình huống tại một thời điểm một số NHTM tạm thời thiếu vốn thanh toán, nhưng một hay một số NHTM khác lại tạm thời thừa vốn, nếu không có biện pháp xử lý tốt tình trạng này thì có thể xảy ra tình trạng thiếu thanh khoản cục bộ và rất có thể dẫn đến mất an toàn thanh khoản cho toàn hệ thống), thì việc hình thành một thị trường liên NH là rất cần thiết nhằm phân phối lại vốn giữa các TCTD, qua đó củng cố năng lực thanh khoản cho toàn hệ thống. Thị trường liên NH ra đời nhằm tận dụng các nguồn vốn trong quá trình kinh doanh cũng như bảo đảm năng lực thanh khoản cho toàn hệ thống NH, kích thích các NHTM mở rộng HĐV để cho vay lại lẫn nhau. Nguồn vốn vay này chủ yếu là ngắn hạn, ở các NHTM lớn thì tỷ trọng tương đối lớn. Chi phí HĐV từ nguồn này cao hay thấp phụ thuộc vào tình trạng cung - cầu trên thị trường liên NH

Thứ năm, HĐV từ các nguồn khác

Trong quá trình kinh doanh, NHTM còn có thể tạo lập vốn cho mình từ các nguồn khác. Cụ thể:

- Vốn trong thanh toán: Là số vốn có được do NHTM đứng ra làm trung gian thanh toán trong nền kinh tế. Đó là số tiền đã trích khỏi TK của


người trả nhưng chưa chuyển vào TK của người hưởng trong thời gian luân chuyển, xử lý chứng từ thanh toán. Hoặc số vốn mà KH lưu ký tại NHTM để thực hiện thanh toán theo các phương thức séc, thư TD, ... nhưng chưa thanh toán. Để mở rộng được nguồn vốn này thì đòi hỏi NHTM phải có uy tín và thương hiệu cao, cả đối với NH khác lẫn các tổ chức kinh tế, cá nhân.

- Vốn ủy thác đầu tư, tài trợ của Chính phủ hoặc các tổ chức trong và ngoài nước theo các chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội. Đây là nguồn vốn mà NHTM có được khi làm đại lý ủy thác của các tổ chức trong và ngoài nước để thực hiện đầu tư cho các chương trình, dự án. Trong thời gian vốn đã được NH tiếp nhận nhưng chưa giải ngân hết theo kế hoạch, hoặc vốn cho vay đã thu hồi về nhưng chưa đến hạn chuyển lại cho chủ đầu tư, NH có thể sử dụng chúng để kinh doanh.

Bên cạnh đó, với việc thực hiện nghiệp vụ đại lý ủy thác, NHTM còn được hưởng hoa hồng phí.

Để huy động được nguồn vốn này thì đòi hỏi NHTM phải có uy tín thương hiệu cao cả trong nước lẫn quốc tế, nhất là uy tín về năng lực thực hiện các hoạt động ủy thác.

- NHTM cũng có thể làm đại lý bán cổ phiếu, trái phiếu cho các doanh nghiệp, thu hộ lợi tức từ đầu tư chứng khoán cho KH... các nghiệp vụ này cũng tạo thêm vốn cho NH để hoạt động.

2.2.2.4. Kiểm tra, giám sát huy động vốn

Kiểm tra, giám sát là khâu cuối cùng của qui trình quản lý HĐV. Đây là quá trình đo lường hoạt động và kết quả của hoạt động HĐV của NHTM trên cơ sở các chỉ tiêu đã được xác lập để phát hiện những ưu điểm cũng như tìm ra những hạn chế, từ đó đưa ra những điều chỉnh phù hợp nhằm đạt được kế hoạch HĐV một cách tối ưu.

Để có thể kiểm tra, đánh giá kết quả cũng như đưa ra những sự điều chỉnh kịp thời trong công tác quản lý HĐV, các NHTM thường thông qua các


hình thức sau:

- Kiểm tra các kết quả HĐV: Qui mô nguồn vốn có đạt được theo kế hoạch hay không? Cơ cấu nguồn vốn có đúng theo tỷ lệ hay không? Kỳ hạn huy động nguồn đã thực sự hợp lý chưa? Chi phí huy động nguồn đã thực sự tối ưu hay chưa?...

- Kiểm tra tính tuân thủ trong công tác HĐV: Nguồn vốn huy động đã phù hợp với qui trình, qui định HĐV hay chưa? Các chính sách khuyến mãi, tiếp thị có theo đúng qui định của pháp luật hay không?.

- Kiểm tra việc tổ chức thực hiện công tác marketing tiếp thị, quảng cáo, chất lượng dịch vụ, chăm sóc KH gửi vốn có được thực hiện không? Hiệu quả của chúng đến đâu?...

Các công cụ để kiểm tra, đánh giá:

1/Các công cụ kiểm soát truyền thống: Các kế hoạch, hệ tiêu chuẩn (kinh tế - kỹ thuật), các phương pháp phân tích thống kê, các phân tích chuyên môn.

2/Các công cụ kiểm tra, đánh giá hiện đại: Các báo cáo tự động in ra từ hệ thống, các phần mềm hỗ trợ tính toán kết quả thu nhập – chi phí HĐV.

Từ những đánh giá cụ thể trong quá trình kiểm tra kết quả HĐV đã đạt được, nhà quản lý sẽ rút ra được những biện pháp cải tiến trong kế hoạch tiếp theo, cũng như có các giải pháp điều chỉnh hoạt động quản lý của mình cho phù hợp với kế hoạch và mục tiêu đã đặt ra, hoặc không tiếp tục thực hiện kế hoạch và xây dựng kế hoạch HĐV mới.


Qui trình kiểm tra, đánh giá HĐV có thể khái quát như sau (Sơ đồ 2.1):


Xác định mục tiêu của kiểm tra và hệ thống tiêu chuẩn đánh giá


Đo lường và đánh giá hoạt động huy động vốn


Sự thực hiện, hoạt động có phù hợp với tiêu chuẩn không?

Không

Không cần điều chỉnh

Tiến hành điều chỉnh

Không cần điều chỉnh


Sơ đồ 2.1: Qui trình kiểm tra, đánh giá công tác huy động vốn của ngân hàng thương mại

Nguồn: [75].

2.2.3. Tiêu chí đánh giá huy động vốn của ngân hàng thương mại

2.2.3.1. Các chỉ tiêu đánh giá công tác huy động vốn

Có thể sử dụng nhiều chỉ tiêu để đánh giá HĐV của NHTM, trong đó có một số chỉ tiêu chính sau đây:

- Qui mô và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động


Tốc độ tăng trưởng

Số dư nguồn vốn huy động BQ 12 tháng năm nay

= x 100

Số dư nguồn vốn huy động BQ 12 tháng năm trước

Có thể bạn quan tâm!

Xem toàn bộ 112 trang: Huy động vốn của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

Huy động vốn của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - 5

Tốc độ tăng trưởng > 100: Qui mô vốn huy động của NHTM tăng Tốc độ tăng trưởng < 100: Qui mô vốn huy động của NHTM giảm

Đối với các Chi nhánh của NHTM, việc đánh giá theo chỉ tiêu này phải so sánh với tốc độ tăng trưởng chung của các Chi nhánh NHTM trên địa bàn,


so với kế hoạch, so với năm trước và so với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp.

- Cơ cấu nguồn vốn huy động

Nguồn vốn huy động loại i

Cơ cấu vốn huy động = x 100

Tổng nguồn vốn huy động

Sự biến động về cơ cấu nguồn vốn huy động sẽ ảnh hưởng đến sự thay đổi trong lợi nhuận, sự chủ động về nguồn vốn của NHTM. Chỉ tiêu này được sử dụng để nghiên cứu sự thay đổi cơ cấu vốn huy động theo thời gian, đánh giá tính hợp lý của sự biến động trong cơ cấu nguồn vốn huy động của NHTM.

- Thị phần HĐV

Thị phần Tổng nguồn vốn huy động của NHTM

nguồn vốn = x 100

huy động Tổng nguồn vốn huy động của tất cả các TCTD


- LS, chi phí và lợi nhuận HĐV

LS HĐV phản ánh giá cả đầu vào hay chi phí phải trả cho nguồn vốn huy động. Các khoản phí này càng thấp thì càng giúp NH tăng mức chênh lệch LS đầu ra – đầu vào. Với cùng một lượng vốn huy động được, chi phí phải trả càng thấp thì nguồn vốn huy động được càng hiệu quả.

2.2.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý HĐV

- Tính sát thực của kế hoạch HĐV.

Đây là căn cứ để nhà quản lý kiểm chứng lại xem những mục tiêu, kế hoạch đã đưa ra để thực hiện có đúng hướng hay không, có đạt kết quả như mong đợi không. Từ đó, giúp nhà quản lý có những đánh giá, điều chỉnh kịp thời, hoặc rút kinh nghiệm cho những kế hoạch tiếp theo.

Kết quả thực tế

Tính sát thực của kế hoạch = x 100 Kế hoạch đặt ra

Download pdf, tải về file docx

Bài viết tương tự

Gửi tin nhắn

Danh mục

Bimage 1

Bài viết tương tự

Xem nhiều

Bimage 2

Bài viết mới

Bimage 3

Home | Contact | About | Terms | Privacy policy
© 2022 Tailieuthamkhao.com | all rights reserved

Trang chủ Tài liệu miễn phí Thư viện số