Đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế tại trung tâm đào tạo ngân hàng công thương Việt Nam - 8

đồng, chiếm tỷ trọng 3,6% dư nợ cho vay nền kinh tế, giảm 63% so với đầu năm. Trong đó nợ quá hạn đến cuối năm là 1.342 tỷ đồng, giảm 502 tỷ đồng, giảm 27% so với đầu năm, chiếm tỷ trọng 1,96% trên tổng dư nợ(Kế hoạch là 3%) [34, tr. 20].

Chất lượng tín dụng của NHCT đã được nâng cao có sự đóng góp của công tác đào tạo cán bộ tín dụng, nó phản ánh chất lượng đào tạo đã được thực tế kiểm nghiệm, được các chi nhánh NHCT chấp nhận, quan tâm. Để đạt được kết quả nêu trên báo cáo tổng kết hoạt động tín dụng 2004 và các giải pháp tín dụng chủ yếu năm 2005 của NHCTVN đánh giá như sau: "Đẩy mạnh đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ tín dụng, nhiều chi nhánh đã chú trọng đến chất lượng tuyển dụng lao động và đào tạo kỹ năng, tập huấn kiến thức nghiệp vụ tín dụng, pháp luật, ngoại ngữ, tin học cho cán bộ tín dụng..." [34, tr. 23].


2.3. Đánh giá chung


2.3.1. Những thành công


Sau 8 năm kể từ khi thành lập, TTĐT đã trưởng thành và phát triển nhanh chóng về nhiều mặt, cụ thể như sau:

Một là: Đáp ứng nguyện vọng nâng cao trình độ của CBNV trong hệ thống NHCTVN

Trung tâm đào tạo NHCT là TTĐT được thành lập đầu tiên trong hệ thống NHTM Việt Nam. Sự thành lập TTĐT là phù hợp với đường lối phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước, đáp ứng nguyện vọng nâng cao trình độ của CBNV trong hệ thống NHCTVN, thực hiện mục tiêu kinh doanh tiền tệ-tín dụng và dịch vụ NH của NHCTVN.

Có thể bạn quan tâm!

Xem toàn bộ 103 trang: Đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế tại trung tâm đào tạo ngân hàng công thương Việt Nam

Hai là: Nội dung đào tạo thiết thực, góp phần vào việc nâng cao chất lượng hoạt động của các đơn vị thành viên

Kể từ khi thành lập tháng 7/1997 đến 31/12/2004, TTĐT đã mở được 435 khóa học với gần 2 vạn lượt cán bộ QLKT đã được tham gia đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng kiến thức tại TTĐT. Nghiệp vụ đào tạo đa dạng, nhiều cấp độ từ đó các đơn vị thành viên trong hệ thống có điều kiện cử CBQLKT tham gia đào tạo được nhiều hơn. Theo nhận xét

Đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế tại trung tâm đào tạo ngân hàng công thương Việt Nam - 8

của các giám đốc đại diện cho người sử dụng lao động và các học viên được đào tạo tại TTĐT, sau mỗi khóa học nhận thức, hiểu biết của mỗi người đều tăng lên rõ rệt, chất lượng công tác được nâng cao, nội dung đào tạo, đào tạo lại tại TTĐT là thiết thực, bổ ích góp phần đáng kể vào việc nâng cao chất lượng hoạt động của chi nhánh.

Ba là: Học viên vận dụng được kiến thức, kỹ năng đã học vào thực tiễn công

việc


Qua kiểm tra sau các khóa học số học viên tham dự tỷ lệ đạt loại khá, giỏi chiếm

từ 75% trở lên. Qua đánh giá của học viên bằng phương pháp bỏ phiếu kín họ đều có chung nhận xét đánh giá: Nội dung, chương trình, đối tượng, thời gian đào tạo là phù hợp. Việc học tập có lợi cho bản thân và cho chi nhánh. Theo đánh giá của tiến sĩ Hoàng Việt Trung - Giám đốc chi nhánh NHCT Ba Đình - Giảng viên kiêm chức TTĐT NHCT: Đa số học viên vận dụng được kiến thức, kỹ năng đã học vào thực tiễn công việc. Cán bộ được đào tạo đã thực hiện đúng, đủ nghiêm túc hơn nội dung qui chế, qui trình nghiệp vụ. Đặc biệt những người qua đào tạo đã không dập khuôn, máy móc theo qui chế, qui trình mà đã chuyển từ "tự phát" sang "tự giác", hiểu rõ công việc mình làm. Bên cạnh đó họ còn có ý thức công việc tốt hơn với phong cách làm việc mới, dần dần hình thành văn hóa NHCT [41, tr. 17].

Bốn là: Hình thức đào tạo phong phú, đối tượng đào tạo được mở rộng


Công tác đào tạo, bồi dưỡng CBQL tại TTĐT NHCT những năm qua đã được các cấp lãnh đạo rất quan tâm, các hình thức đào tạo phong phú, đối tượng đào tạo được mở rộng, nội dung đào tạo bao quát hầu hết các nghiệp vụ NHCTVN đang hoạt động. Giảng viên huy động từ nhiều nguồn như các trường đại học, các học viện và đội ngũ giảng viên kiêm chức NHCT (gồm các cán bộ nghiệp vụ giỏi, được TTĐT tổ chức đào tạo về sư phạm) nên vừa đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật các kiến thức mới, vừa đào tạo nâng cao kỹ năng, kinh nghiệm xử lý các tình huống nghiệp vụ trong thực tiễn công tác cho CBNV.

Có thể khẳng định rằng, những thành công trong kinh doanh của NHCT Việt Nam những năm qua có phần đóng góp không nhỏ của công tác đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng phát triển CBQLKT trong hệ thống NHCT.

2.3.2. Những hạn chế


Bên cạnh những thành công và kết quả đạt được nêu trên, công tác đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng kiến thức cho CBQLKT tại TTĐT NHCT cũng còn những hạn chế như sau:

Một là: Chương trình đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế


Tuy xuất phát từ việc xác định nhu cầu đào tạo để xây dựng kế hoạch đào tạo trong năm của các phòng ban Trụ sở chính và các đơn vị thành viên để Hội đồng quản trị NHCT phê duyệt, song một số chương trình đào tạo thực tế vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu.

Hai là: Cơ sở vật chất hạn chế


Do cơ sở vật chất của TTĐT quá nhỏ, ít phòng học không thể cùng một lúc triển khai nhiều khóa đào tạo nên số lượng đào tạo CBQLKT hàng năm tại TTĐT ít, bình quân 25%/năm (từ tháng 7/1997 đến 31/12/2004 đào tạo được 435 lớp với 18750 học viên tham gia). Chưa xây dựng được cơ sở đào tạo riêng để phục vụ công tác đào tạo, thiếu phòng học, thiếu NH thực hành. Hiện nay nếu gọi tập trung 2 lớp học cùng một thời điểm khoảng độ 100 học viên thì cả TTĐT ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đều phải thuê ngoài một nửa số phòng nghỉ cho học viên.

Ba là: Chất lượng đào tạo còn có hạn chế


Chất lượng đào tạo chưa thỏa mãn yêu cầu thực tế nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của NHCT. Ví dụ các nghiệp vụ mới khi được đào tạo như: Maketing NH, nghiệp vụ thẻ, chứng khoán và môi giới chứng khoán, quản trị NH, quản trị mạng....còn mang tính lý thuyết, chưa có nhiều NH ở Việt Nam thực hiện, kinh nghiệm thực tế trong lĩnh vực này ở Việt Nam ít nên việc học viên ứng dụng những kiến thức đã học vào thực tế còn mang tính thử nghiệm nên rất vất vả tốn nhiều thời gian và công sức: vừa làm vừa học vừa rút kinh nghiệm.

Bốn là: Thiếu tài liệu chuẩn


Tài liệu giảng dạy tại TTĐT chưa được Hội đồng khoa học NHCT phê duyệt. Chưa có kế hoạch đào tạo lâu dài, thiếu giáo trình tài liệu chuẩn về NH hiện đại: các chương trình đào tạo mới mang tính thời vụ, nội dung đào tạo chưa gắn lý thuyết với thực

hành, nội dung đào tạo mới tập trung phổ biến, giải thích chính sách qui trình thủ tục nghiệp vụ, đào tạo cơ bản.

Năm là: Thiếu đội ngũ giáo viên giảng dạy lý thuyết, thực hành và đội ngũ chuyên gia giỏi chuyên môn nghiệp vụ

Đội ngũ giảng viên kiêm chức giỏi nghiệp vụ có kinh nghiệm thực tế, do bận công việc nên tham gia giảng dạy không thường xuyên, công tác chuẩn bị bài giảng cũng còn nhiều hạn chế. Việc đào tạo cập nhật kiến thức cho giảng viên kiêm chức chưa thường xuyên, chưa có kế hoạch đào tạo lâu dài một đội ngũ giảng viên kiêm chức cho các nghiệp vụ cũng như chuẩn hóa quy chế cho giảng viên kiêm chức.

Sáu là: Còn thiếu chiến lược, mục tiêu cơ bản và dài hạn


Trung tâm đào tạo chưa xây dựng được chiến lược đào tạo lâu dài do công tác đào tạo hiện còn nhiều đầu mối, do đó việc xác định nhu cầu đào tạo hàng năm, phân loại đối tượng đào tạo: theo nghiệp vụ, trình độ... để tổ chức đào tạo cũng còn nhiều hạn chế. Chưa tổ chức điều tra cơ bản thực tế chính xác về trình độ, năng lực chuyên môn của cán bộ QLKT NHCT một cách bài bản, khoa học mà mới chỉ dựa vào báo cáo thống kê, mặt khác qui hoạch đào tạo CBQLKT chưa cụ thể vì vậy khó xác định mục tiêu đào tạo.

2.3.3. Nguyên nhân của thực trạng trên đây


* Nguyên nhân của các thành quả


Một là: Thực hiện tốt kế hoạch đào tạo do lãnh đạo NHCT giao


Trên cơ sở kế hoạch đào tạo năm, được lãnh đạo NHCT duyệt, ban Giám đốc TTĐT đã cùng với phòng Tổ chức cán bộ và đào tạo, các phòng nghiệp vụ NHCT có liên quan và lãnh đạo các chi nhánh tổ chức triển khai thực hiện có kết quả nhiệm vụ đào tạo.

Hai là: Được sự quan tâm, chỉ đạo kịp thời của ban lãnh đạo và sự phối kết hợp với các phòng ban chuyên môn, nghiệp vụ NHCT

- Trong quá trình thực hiện kế hoạch đào tạo, TTĐT đã nhận được sự chỉ đạo thường xuyên, sâu sát của Hội đồng quản trị và Ban điều hành NHCT. Ban lãnh đạo

NHCT cử đồng chí Tổng Giám đốc trực tiếp phụ trách công tác đào tạo, các khóa học đều có ý kiến phê duyệt về nội dung, chương trình của lãnh đạo NHCT.

-Vào đầu quí IV hàng năm TTĐT chủ động phối hợp với phòng Tổ chức cán bộ và Đào tạo xây dựng chương trình kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ CBQL.

- Căn cứ vào phiếu đánh giá của học viên sau mỗi khóa đào tạo, giáo trình, giáo án, tài liệu giảng dạy đều được chỉnh sửa, bổ sung cho sát với tình hình thực tế.

Ba là: Xây dựng đội ngũ giảng viên kiêm chức


Ban Giám đốc TTĐT xác định giảng viên đóng vai trò hết sức quan trọng đến sự thành công của khóa học, quyết định chất lượng đào tạo, muốn nâng cao chất lượng đào tạo cần có đội ngũ giảng viên giỏi chuyên môn nghiệp vụ, năng lực sư phạm tốt, yêu ngành yêu nghề. TTĐT thường xuyên chăm lo xây dựng đội ngũ giảng viên kiêm chức, đề nghị NHCT có chính sách ưu đãi giảng viên kiêm chức cả về vật chất và tinh thần.

Bốn là: Đa dạng hóa các loại hình đào tạo và đối tượng đào tạo


TTĐT bước đầu đã thực hiện đa dạng hóa các loại hình đào tạo, đào tạo được nhiều mặt, nhiều mảng nghiệp vụ; vừa đào tạo tại TTĐT, vừa đào tạo theo cụm chi nhánh; vừa đào tạo cơ bản lại vừa đào tạo chuyên sâu; không những đào tạo cho CBNV mà còn đào tạo cho cả lãnh đạo các chi nhánh và đào tạo cho khách hàng vay vốn.

Năm là: Phấn đấu xây dựng tập thể TTĐT đoàn kết, động viên CBNV hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ

- Toàn thể CBNV TTĐT đã không ngừng nỗ lực phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao có tinh thần trách nhiệm cao, góp phần xứng đáng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đào tạo.

- Đã kết hợp tốt sự lãnh đạo của chi bộ Đảng với sự điều hành của Ban giám đốc và các hoạt động có hiệu quả của các tổ chức quần chúng như Công đoàn, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh... là động lực để TTĐT hoàn thành công tác chuyên môn.

* Nguyên nhân của các yếu kém, hạn chế Thứ nhất: Chưa có cơ sở pháp lý thực sự

Hoạt động đào tạo và đào tạo lại của TTĐT NHCT theo mô hình doanh nghiệp tự đào tạo, chưa có qui định của nhà nước, bộ chủ quản (NHNN chưa có qui định chung về chức năng, nhiệm vụ, qui trình, qui chế đào tạo) các TTĐT của các NHTM vừa làm vừa rút kinh nghiệm. Qui chế hoạt động của TTĐT NHCT khác qui chế đào tạo của các TTĐT NHTM khác, phương thức đào tạo, tài liệu, đối tượng đào tạo cũng khác nhau... chưa được chính qui về mặt nhà nước, nên hạn chế việc áp dụng những thành tựu khoa học, giáo dục vào công tác đào tạo của TTĐT các NHTM. Cũng chính vì vậy quan hệ phối hợp giữa TTĐT và các phòng ban Trụ sở chính NHCT còn chồng chéo, chưa phân định rõ phạm vi chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn của từng bộ phận trong công tác đào tạo. Theo tiến sĩ Nguyễn Đình Nguộc - Giám đốc TTĐT-NHCT: "Công tác đào tạo khá tràn lan, chưa gắn liền với công việc đang làm và sẽ làm, đào tạo cán bộ chưa gắn liền với qui hoạch, sử dụng cán bộ; chưa có một kế hoạch đào tạo chủ động phục vụ phát triển của Ngân hàng Công thương trong tương lai" [36].

Thứ hai: Cơ sở vật chất chưa đảm bảo điều kiện để đào tạo, đào tạo lại CBQLKT với chất lượng cao số lượng lớn.

Thứ ba: Qui chế giảng viên kiêm chức hiện nay ban hành chưa phù hợp


Qui chế ban hành từ khi mới thành lập TTĐT đã lạc hậu chưa chỉnh sửa kịp thời. Không gắn việc giảng dạy với công việc chuyên môn, với bình bầu thi đua, bổ nhiệm cán bộ. Đội ngũ giảng viên kiêm chức chưa say sưa với sự nghiệp đào tạo, chưa có cơ chế động viên khuyến khích họ giảng dạy, đồng thời cũng không có cơ chế bắt buộc họ phải giảng... Chế độ thù lao đối với giảng viên kiêm chức 25.000VNĐ/tiết / lý thuyết, chưa động viên khuyến khích được giảng viên kiêm chức sưu tầm tài liệu soạn thảo bài giảng với tinh thần trách nhiệm và chất lượng cao. NHCTVN chưa đề ra được tiêu chuẩn cụ thể về giảng viên kiêm chức, chưa có quyết định chính thức công nhận giảng viên kiêm chức tại TTĐT. Còn có tình trạng các phòng ban Trụ sở chính cử cán bộ giảng dạy chưa được bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm nên còn lúng túng chưa biết cách truyền đạt đến học viên làm ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo. Giảng viên của các trường đại học và học viện thuê

ngoài có nghiệp vụ sư phạm, có trình độ lý luận nhưng không nắm vững thực tế hoạt động của NHCT nên lại hạn chế về phần ứng dụng thực tiễn, lý luận xa rời thực tế.

Thứ tư: Tính phức tạp, thiếu đồng nhất về đối tượng đào tạo


Học viên đến học tập tại TTĐT, do đặc điểm của NHCT có trình độ chuyên môn, trình độ văn hóa, lứa tuổi, tuổi đời, tuổi nghề khác nhau, kinh nghiệm chuyên môn cũng khác nhau. Hiện nay NHCTVN có trên 70 chi nhánh cấp I và trên 50 chi nhánh cấp II (chi nhánh trực thuộc) với cách đào tạo như hiện nay, khi mở lớp TTĐT phân bổ chỉ tiêu đến chi nhánh cấp I, chi nhánh cấp I phân bổ tiếp chỉ tiêu cho chi nhánh cấp II do mình quản lý, thường mỗi lớp mở khoảng 50 học viên mỗi chi nhánh chỉ cử được 01- 02 cán bộ đi đào tạo, vì thế cán bộ được đào tạo rất ít. Một số ít học viên ý thức học tập chưa tốt, còn học chiếu lệ, tính tích cực, chủ động trong học tập chưa cao. Về chất lượng nguồn lực, NHCTVN đánh giá như sau:

Lúc mới thành lập (7/1988) chỉ có 67 cán bộ, chuyên viên của NHTW và hơn 5.600 cán bộ của chi nhánh tỉnh, thành phố trong toàn quốc, trong đó chỉ có 20,8% trình độ đại học, 31,7% trung học, 40,3% sơ cấp và 7,2% chưa qua đào tạo. Đến nay, đội ngũ CBCNV của NHCT đã tăng tới 12.000 lao động, với tuổi đời bình quân là 38 tuổi, trong đó: nam 31,52%; nữ 68,48%; Về trình độ: trên đại học 0,37%, đại học và cao đẳng Ngân hàng 41%, trung cấp 24,63%, sơ cấp 10,12%, chưa qua đào tạo 11,26%; phần lớn cán bộ nghiệp vụ đều biết sử dụng công nghệ tin học và đa số các cán bộ làm công tác đối ngoại, thanh toán quốc tế, điện toán đều sử dụng được ngoại ngữ trong công việc chuyên môn. Nhưng xét về chất lượng cán bộ thì NHCT vẫn còn thiếu lao động có trình độ nghiệp vụ cao.

Với số lượng nhân lực như trên là quá lớn so với qui mô kinh doanh. Về chất lượng, khoảng 80% lao động có trình độ đại học được đào tạo từ những năm 1990 trở về trước, hạn chế kiến thức về kinh doanh NH trong cơ chế thị trường, chưa cập nhật kịp kiến thức mới để vận hành NH hiện đại có trình độ công nghệ cao [31, tr. 3-4].

Thứ năm: Thiếu sự phối hợp của cơ sở với TTĐT

Về phía các chi nhánh (là người sử dụng lao động) còn có hiện tượng đăng ký cho cán bộ đi học, nhưng đến khi TTĐT tổ chức lớp, triệu tập học lại không cho cán bộ đi học với muôn vàn lý do khác nhau, nhiều khi còn cử cán bộ đi học sai đối tượng đào tạo. Chứng chỉ do TTĐT cấp cho các CBQLKT theo học chưa là điều kiện bắt buộc khi bố trí công việc hoặc bổ nhiệm, đối với cán bộ các đơn vị thành viên. Nhiều chi nhánh còn bố trí cán bộ không đúng với chuyên môn được đào tạo. TTĐT có sổ theo dõi đào tạo nhằm mục đích thông báo kết quả đào tạo của học viên đến chi nhánh và xin góp ý của chi nhánh để công tác đào tạo của TTĐT phù hợp thực tế hoạt động ở cơ sở và ý kiến đánh giá hiệu quả của công tác đào tạo đối công việc của cán bộ đã qua đào tạo; nhưng nhiều lãnh đạo chi nhánh bỏ qua không ghi nhận xét hoặc nhận xét chung chung mặc dù lãnh đạo TTĐT nhiều lần có công văn đề nghị phối hợp để công tác đào tạo của TTĐT ngày càng sát với hoạt động kinh doanh của chi nhánh, điều đó phản ánh sự gắn kết giữa TTĐT và các đơn vị thành viên trong việc đánh giá chất lượng sau đào tạo chưa chặt chẽ, thường xuyên, các đơn vị thành viên chưa thực sự quan tâm đến việc phối hợp cùng TTĐT nâng cao chất lượng đào tạo.

Thứ sáu: Tính chủ động trong công tác đào tạo của TTĐT bị hạn chế bởi qui chế hoạt động do NHCT qui định. Hiện nay TTĐT không được giao nhiệm vụ xác định nhu cầu đào tạo trong hệ thống NHCT mà chỉ có quyền tham gia vào kế hoạch đào tạo do phòng Tổ chức cán bộ - Đào tạo lập, trình lãnh đạo NHCT phê duyệt. Việc tuyển chọn cán bộ, giảng viên cơ hữu tại TTĐT do NHCTVN ra quyết định tuyển chọn, điều động. Tổ chức đảng, đoàn, công đoàn, chế độ lương, thưởng... thực hiện như một phòng ban của NHCTVN. Việc ký kết các hợp đồng đào tạo hay nghiên cứu khoa học thực hiện theo sự ủy quyền của Tổng giám đốc NHCTVN theo từng lớp học, từng khóa đào tạo. Nói một cách khác là TTĐT hiện nay mới chỉ là nơi tổ chức thực hiện các khóa học đã được NHCTVN phê duyệt theo hàng năm, hàng quý, hàng tháng chứ chưa hoàn toàn chủ động trong hoạt động đào tạo của trung tâm.

Tóm lại, chương 2 trình bày khái quát về NHCTVN; chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của TTĐT, thực trạng về nhiều mặt và về đào tạo, đào tạo lại cán bộ QLKT tại TTĐT NHCT, đưa ra các số liệu đánh giá số lượng, chất lượng đào tạo, đào tạo lại CBQLKT tại TTĐT, những thành công và hạn chế, từ đó xác định nguyên nhân chủ quan, khách quan và các

yếu tố làm hạn chế công tác đào tạo, đào tạo lại CBQLKT tại TTĐT NHCT kể từ khi thành lập cho đến nay.

Chương 3


Định hướng và giải pháp hoàn thiện hoạt động

đào tạo và đào tạo lại cán bộ quản lý kinh tế tại Trung tâm đào tạo Ngân hàng côngthương Việt nam


3.1. Định hướng hoàn thiện Trung tâm đào tạo Ngân hàng Công thương


Trên cơ sở định hướng hoạt động kinh doanh của NHCTVN xây dựng định hướng hoạt động đào tạo và đào tạo lại CBQLKT tại TTĐT NHCTVN.

Hiện nay NHCTVN đang thực hiện: "Đề án cơ cấu lại Ngân hàng Công thương Việt Nam" đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Với mục tiêu tổng quát là: Xây dựng NHCTVN thành một NHTM chủ lực và hiện đại của Nhà nước, hoạt động kinh doanh có hiệu quả, tài chính lành mạnh, kỹ thuật công nghệ cao, kinh doanh đa chức năng, chiếm thị phần lớn ở Việt Nam, xếp loại BB trên thị trường quốc tế. Với phương châm hành động:

- Giai đoạn 2000 đến 2005: "Phát triển - An toàn và Hiệu quả".


- Giai đoạn sau năm 2005: "Hội nhập và Phát triển vững chắc".


3.1.1. Định hướng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Công thương


* Đa dạng hóa vốn tự có


Để nâng cao nguồn vốn sở hữu, tạo điều kiện đẩy mạnh kinh doanh nhưng vẫn dành quyền quyết định của Nhà nước, trước mắt chỉ bán cổ phần không biểu quyết cho CBNV khoảng 250 tỷ đồng, từ sau năm 2005, phát hành cổ phiếu vô danh để bổ sung vốn điều lệ, phấn đấu năm 2010 tỷ lệ vốn của Nhà nước chiếm từ 60 - 70% tổng số vốn điều lệ.

* Về tổ chức màng lưới


- Cơ cấu lại tổ chức và màng lưới theo mô hình NHTM hiện đại, một bộ máy kinh doanh năng động, có khả năng thích ứng với thị trường. Hội sở chính và chi nhánh được tổ chức theo cấu trúc một cơ thể thống nhất, có quan hệ máu thịt; trong đó Hội sở chính là trung tâm đầu não thực hiện cả hai chức năng quản lý và trực tiếp kinh doanh.

- Chi nhánh là đại diện ủy quyền trực tiếp với khách hàng của Hội sở chính; không qua đầu mối quản lý trung gian.

- Các công ty trực thuộc có cấu trúc sở hữu với NHCT theo mô hình công ty mẹ công ty con, có mối liên kết chặt chẽ, không thể tách rời về sản phẩm và thị trường, đưa hệ thống NHCT tạo thành tập đoàn NH tài chính mạnh.


trường.

* Tín dụng


Đổi mới cơ bản hoạt động kinh doanh tín dụng theo nguyên tắc thương mại và thị


Thực hiện các hình thức dịch vụ tín dụng, đại lý hưởng hoa hồng và dịch vụ quản

lý vốn đối với các chương trình tín dụng, phí thương mại cho Nhà nước và cho các tổ chức tài chính tín dụng và định chế tài chính khác.

* Về lĩnh vực hoạt động


- Mở rộng đầu tư, kinh doanh trên thị tường tiền tệ trong nước, thị trường ngoại hối, từng bước thâm nhập thị trường tiền tệ quốc tế thông qua việc quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản nợ và tài sản có lỏng.

- Mở rộng nâng cao chất lượng, hiệu quả các sản phẩm dịch vụ truyền thống, phát triển các sản phẩm dịch vụ mới. Từng bước nâng cao tỷ trọng thu dịch vụ chiếm tỷ lệ ngày càng tăng lên trong tổng thu nhập từ hoạt động kinh doanh. Đến năm 2010, tỷ lệ thu dịch vụ trên tổng thu nhập chiếm từ 25 - 30%.

* Hiện đại hóa công nghệ tin học ngân hàng


Kết hợp phát triển tuần tự, đổi mới từng bước với đi tắt đón đầu một số lĩnh vực then chốt. Đến năm 2010 khoảng 70% khối lượng giao dịch và nghiệp vụ được ứng dụng kỹ thuật công nghệ hiện đại, phù hợp với xu hướng thương mại điện tử trong nền kinh tế tri thức.

* Về động lực khuyến khích vật chất

Đổi mới cơ bản cơ chế hạch toán nội bộ theo hướng đánh giá chính xác hiệu quả hoạt động từng chi nhánh, hiệu quả từng sản phẩm, nghiệp vụ; đổi mới căn bản cơ chế tiền lương theo nguyên tắc tiền lương kinh doanh phải gắn với chất lượng hiệu quả lao động.

* Về hạch toán kế toán


Tổ chức hạch toán kế toán phù hợp với chế độ kế toán đảm bảo tiêu chuẩn của tổ chức kế toán quốc tế IAS.

* Phấn đấu đến năm 2010 đạt các thông số đánh giá về một NHTM mạnh


- Chỉ số COOK: là tỷ lệ % giữa vốn tự có đã trừ phần góp vốn liên doanh, vốn đầu tư so với tổng tài sản có rủi ro đã trừ phần bán nợ đạt 8%;

- Chỉ số ROE: Tỷ lệ về lãi trên vốn đạt từ 13% đến 15%;


- Chỉ số ROA: Tỷ lệ về lãi trên tài sản có gần 1%;


- Nợ quá hạn ở mức dưới 3%.


Tốc độ tăng trưởng tài sản nợ, tài sản có bình quân 15%/ năm. Cơ cấu tài sản Có bao gồm dư nợ cho vay nền kinh tế và dân cư chiếm 75 - 80%; hoạt động kinh doanh trên thị trường tiền tệ và thị trường vốn chiếm 20 - 25% trong cơ cấu tài sản Có.

* Nâng cao uy tín và khả năng cạnh tranh, chuẩn bị điều kiện cần thiết cho cải cách đột phá, cổ phần hóa NHCT

Phấn đấu đến năm 2010 đưa NHCT trở thành NH đạt tiêu chuẩn tiên tiến trong khu vực, tăng vốn tự có, nâng cao năng lực cạnh tranh; thực hiện đa dạng hóa các giải pháp tăng vốn, trong đó có việc thu hút vốn từ công chúng bằng cách cổ phần hóa NHCT vào thời điểm thích hợp; tiếp tục cải cách mạnh mẽ bộ máy nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý, điều hành; tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát; coi trọng công tác cán bộ và nâng cao chất lượng nguồn lực, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, bảo đảm cán bộ có đạo đức nghề nghiệp và năng lực chuyên môn [15].

Như vậy, thực hiện cơ cấu lại NHCTVN theo đề án được duyệt, phấn đấu đến năm 2010 trở thành một NHTM xếp loại BB trên thị trường quốc tế đòi hỏi sự nỗ lực của toàn thể CBNV trong toàn hệ thống.

Download pdf, tải về file docx

Bài viết tương tự

Gửi tin nhắn

Bimage 1

Danh mục

Bài viết tương tự

Bimage 2
Bimage 3

Home | Contact | About | Terms | Privacy policy
© 2022 Tailieuthamkhao.com | all rights reserved

Trang chủ Tài liệu miễn phí Thư viện số