hợp này, tài sản cần được xử lý theo thỏa thuận. Trong trường hợp không xử lý
được theo thỏa thuận, cần có quy định trao quyền cho TCTD được bán đấu giá công khai quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Tuy nhiên, TCTD chỉ
được hưởng thứ tự ưu tiên thanh toán từ tài sản bảo đảm, phần giá trị xử lý tài sản còn lại trả cho bên bảo đảm hoặc được khấu trừ nếu tài sản bảo đảm không
đủ thanh toán với tư cách chủ nợ có tài sản bảo đảm nhưng không được ưu tiên thanh toán.
Đảm bảo nguyên tắc tự nguyện thỏa thuận trong xử lý TSBĐ, quy định rõ thời điểm để xác định thỏa thuận: khi ký hợp đồng hay tại thời điểm xử lý. Theo chúng tôi thì nên quy định theo hướng chấp thuận sự thoả thuận của các bên ở mọi thời điểm. Tuy nhiên, cần quy định cụ thể về hình thức của thoả thuận để làm cơ sở thực hiện.
Quy định rõ về chi phí xử lý khi TCTD hoặc bên thứ ba xử lý tài sản . Theo chúng tôi, các chi phí này cần được quy định cụ thể và chỉ bao gồm chi phí quảng cáo bán tài sản, chi phí quản lý tài sản, chi phí định giá tài sản, chi phí tổ chức bán đấu giá tài sản, chi phí công chứng, chứng thực hợp đồng, thuế chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng trong trường hợp TCTD xử lý tài sản.
Bên cạnh đó, cần có cơ chế rõ ràng để các bên mua bán có thể sớm hoàn tất hợp đồng mua bán, chuyển nhượng tài sản bảo đảm khi TCTD hoặc bên thứ ba tự bán. Bổ sung thủ tục đăng ký quyền sở hữu khi chuyển nhượng với mục
đích hạn chế rủi ro từ thủ tục hành chính và áp dụng pháp luật.
Mặc dù, pháp luật hiện tại quy định về việc hỗ trợ của các cơ quan hành chính nhà nước đối với việc thu giữ TSBĐ để xử lý tài sản bảo đảm nhưng đây chỉ là giải pháp để giải quyết tình huống hiện tại bởi biện pháp này không bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên bởi các cơ quan này không đủ khả năng và thẩm quyền để phán xét yêu cầu của TCTD đúng hay sai, vì vậy, trong tương lai khi hệ thống tư pháp đã phát triển tốt thì bỏ giải pháp này. Cần quy định thống nhất: Bổ sung quy định khi cần thu hồi tài sản bảo đảm để xử lý
thu hồi nợ mà bên thế chấp hoặc người đang giữ tài sản không chịu giao tài sản thì Ngân hàng chỉ cần khởi kiện người thế chấp hoặc bên thứ ba về việc giao tài sản. Theo cách này, Ngân hàng chỉ cần chứng minh nghĩa vụ bảo đảm của bên thế chấp (khoản nợ vay) và yêu cầu toà buộc bên thế chấp giao tài sản theo
đúng thoả thuận trong hợp đồng. Cơ quan thi hành án chỉ căn cứ vào bản án và ra quyết định cưỡng chế tài sản. Còn việc xử lý tài sản như thế nào thì Ngân hàng sẽ căn cứ vào hợp đồng thế chấp và các quy định của pháp luật mà xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
Để việc xử lý tài sản bảo đảm qua thủ tục tố tụng đạt hiệu quả, và có cơ sở pháp lý hỗ trợ việc thu hồi tài sản bảo đảm hình thành từ vốn vay bị tẩu tán trong quá trình chờ Toà án giải quyết vụ kiện đề nghị bổ sung Điều 120 BLTTDS năm 2004 như sau: “Người yêu cầu Toà án áp dụng một trong các biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại các khoản 6, 7, 8, 10 và 11 Điều 102 của Bộ luật này phải gửi một khoản tiền, kim khí quý, đã quý hoặc giấy tờ có giá do Toà án ấn định nhưng phải tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện để bảo vệ quyền lợi ích của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và ngăn ngừa sự lạm dụng quyền yêu cầu
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời từ phía người có quyền yêu cầu, trừ yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với tài sản bảo đảm tiền vay của TCTD.” Bổ sung quy định về thủ tục xét xử rút gọn đối với việc khởi kiện xử lý TSBĐ của TCTD và quy định rõ thời gian xử lý cho Toà án và cơ quan Thi hành án đối với loại án này.
Đề nghị bổ sung các quy định sau tại Nghị định 163/2006/NĐ-CP: xử lý tài sản bảo đảm khi bên bảo đảm chết hoặc vắng mặt tại nơi cư trú tại thời điểm xử lý TSBĐ. Các quy định về thanh toán thu nợ từ việc xử lý tài sản bảo đảm (thứ tự thanh toán), mục xử lý TSBĐ trong cầm cố thế chấp, thủ tục riêng cho việc xử lý tài sản bảo đảm hình thành từ vốn vay chưa hình thành. Pháp luật cũng cần bổ sung các quy định về xử lý tài sản bảo đảm ngoài Toà án để giúp các TCTD chủ động xử lý TSBĐ thu hồi vốn bảo đảm cho hoạt động kinh doanh.
Bộ Tư pháp, Cục thuế, Bộ tài nguyên môi trường phải thống nhất các thủ tục công nhận việc chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản bảo đảm đối với các tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản theo đúng quy
định tại Điều 70 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP cụ thể như Ngân hàng được quyền sử dụng Hợp đồng thế chấp, cầm cố như là Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu hay quyền sử dụng tài sản để chuyển nhượng (bán tài sản) cho bên mua, bên nhận tài sản.
3.2. Hoàn thiện cơ chế thực thi pháp luật
Để có một hệ thống pháp luật hoàn thiện nhằm đưa ra các giải pháp tốt cho các cá nhân lựa chọn giải pháp cho tình huống pháp lý của mình đã khó nhưng việc triển khai áp dụng pháp luật một cách hiệu quả, thống nhất còn khó khăn hơn. Do vậy, để tạo thuận lợi cho các chủ thể, tôi mạnh dạn đề nghị một số kiến nghị sau:
Không ngừng cải cách thủ tục hành chính, tạo ra một cơ chế hoạt động linh hoạt nhanh chóng và có hiệu quả. Điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc
đảm bảo an toàn cho hoạt động của các tổ chức tín dụng, đảm bảo việc triển khai các quy định về các biện pháp bảo đảm trên thực tế. Đối với các văn bản dự kiến sẽ ban hành, các cơ quan có thẩm quyền cần phải tạo ra những cơ sở tiền đề cho việc thực hiện, để đảm bảo cho việc thực thi có hiệu quả, tránh tình
trạng các quy định đặt ra chỉ nằm trên giấy tờ và không thể áp dụng trong thực tiễn gây khó khăn cho các TCTD và các doanh nghiệp.
Tạo điều kiện cho người dân và doanh nghiệp vay vốn là trách nhiệm chung của các cấp, các ngành nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo ra nhiều của cải cho xã hội. Do đó, cần có sự phối kết hợp đồng bộ, chặt chẽ, hiệu quả từ Trung ương đến địa phương, từ Ngân hàng và các cấp, các ngành.
Nâng cao trách nhiệm quản lý, giám sát của các cơ quan chủ quản như Bộ tư pháp, Sở tư pháp để có hướng dẫn, chỉ đạo kịp thời các tính huống phát sinh thực tế. Xây dựng và ban hành các quy định về đạo đức nghề nghiệp. Thường xuyên tổ chức hội thảo liên quan đến vấn đề chuyên môn. Xây dựng tài liệu và tổ chức đào tạo nghiệp vụ. Khuyến khích phát triển các tổ chức xã hội nghề nghiệp để các cán bộ có điều kiện trao đổi thông tin, nghiệp vụ, kịp thời rút kinh nghiệm các vướng mắc. Thực hiện kiểm tra giám sát và xử lý các vi phạm gây phiền hà cho tổ chức và cá nhân.
3.3. Tổ chức cho vay tự hoàn thiện:
3.3.1. Xây dựng và ban hành văn bản nội bộ
Văn bản nội bộ đóng vai trò quan trọng trong tổ chức và điều hành của các TCTD. Trước hết, Tổ chức tín dụng cần xây dựng văn bản pháp luật về quản lý tài sản bảo đảm phù hợp với quy định của pháp luật, tránh tình trạng các văn bản lỗi thời, không đủ điều kiện áp dụng. Một khảo sát cho thấy hầu hết các văn bản liên quan đến tài sản bảo đảm của các TCTD đều ban hành trước khi BLDS năm 2005 ra đời nên nhiều thuật ngữ không phù hợp với pháp luật. Cụ thể một số văn bản vẫn giữ khái niệm cũ về cầm cố, thế chấp của BLDS năm 1995 nên việc xác định trách nhiệm của các bên là khó khăn. Mặt khác, do chưa có điều kiện tiến hành chỉnh sửa, ban hành văn bản thống nhất nên các quy định phân tán gây nhiều khó khăn cho công tác tra cứu. Các quy
định về hình thức quản lý tài sản cần đa dạng, linh hoạt, phù hợp với thực tiễn
nhằm tạo cơ hội cho cán bộ tín dụng và khách hàng trong việc lựa chọn giải pháp tối ưu.
Ngoài các văn bản như Quy chế cho vay, Quy chế bảo đảm tiền vay, Chính sách tín dụng thì quy định về hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng là một nhu cầu cấp thiết nhằm quản lý rủi ro và phân loại khách hàng cho vay. Tuy nhiên, vẫn còn một số tổ chức tín dụng vẫn chưa có văn bản này. Trên cơ sở nghiên cứu và khảo sát hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng của một số Ngân hàng thương mại, tôi xin đề xuất ý kiến về việc xây dựng hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng như sau :
Tuỳ thuộc vào khả năng của mỗi TCTD có thể triển khai trên thực tế, tổ chức tín dụng lựa chọn Hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng
đơn giản hay phức tạp. Cụ thể, những hệ thống đơn giản có thể chỉ dừng lại ở việc đánh giá khách hàng là các nhóm cấp độ rủi ro từ chấp nhận được cho đến không thể chấp nhận được. Tuy nhiên, ở mức độ tinh vi và phức tạp bảng hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng phải có sự phân biệt thành những cấp độ khác nhau trong cùng một hạng. Việc xác định tính khả của một văn bản khi áp dụng thực tế có vai trò rất quan trọng bởi: nhiều TCTD đã xây dựng bảng hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng rất quy mô nhưng không thể áp dụng đo thiếu nguồn nhân lực, chi phí triển khai quá tốn kém.
Việc xây dựng hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng thường được các tổ chức tín dụng thực hiện theo cách sau: Các TCTD thường ban hành hai văn bản riêng, hướng dẫn chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp. Đối với hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng doanh nghiệp thường thực hiện theo bảy bước :
1. Thu thập thông tin
2. Xác định ngành nghệ lĩnh vực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
3. Chấm điểm quy mô của doanh nghiệp
4. Chấm điểm các chỉ số tài chính của doanh nghiệp
5. Chấm điểm các tiêu chí phi tài chính
6. Tổng hợp điểm và xếp hạng doanh nghiệp.
7. Trình phê duyệt kết quả chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng.
Đối với hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng doanh nghiệp thường thực hiện theo năm bước :
1. Thu thập thông tin
2. Chấm điểm các thông tin cá nhân cơ bản
3. Chấm điểm tiêu chí quan hệ với ngân hàng
4. Tổng hợp điểm và xếp hạng
5. Trình phê duyệt kết quả chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng. Cách thức tính điểm của mỗi tổ chức tín dụng là khác nhau, thông thường,
các TCTD áp dụng cách tính điểm ban đầu và điểm tổng hợp. Điểm ban đầu là
điểm của từng tiêu chí sau khi phân tích tiêu chí đó. Điểm tổng hợp là điểm ban đầu nhân với một hệ số. Hệ số phản ánh mức độ quan trọng của từng tiêu chí chấm điểm tín dụng (chỉ số tài chính và yếu tố phi tài chính) xét trên góc độ rủi ro tín dụng. Đối với từng tiêu chí, TCTD sẽ quy định về cách tính điểm và hệ số. Bảng tổng hợp điểm của khách hàng càng cao thì hạng càng cao và mức
độ rủi ro càng thấp. Theo đó, hạng doanh nghiệp được xếp như sau:
Điểm | Mức độ rủi ro | Cấp tín dụng | |
AAA | 90-100 | ThÊp nhÊt | ưu tiên tối đa nhu cầu tín dụng với mức ưu đãi về lãi suất, phí, thời hạn và biện pháp bảo đảm tiền vay |
AA | 80-90 | Thấp nhất nhưng về dài hạn | ưu tiên đáp ứng nhu cầu |
Có thể bạn quan tâm!
- Xử Lý Tài Sản Bảo Đảm Hình Thành Từ Vốn Vay Trong Giai Đoạn Tài Sản Đang Hình Thành
- Những Khó Khăn Khác Khi Nhận Bảo Đảm Tiền Vay Bằng Tài Sản Hình Thành Từ Vốn Vay Tại Chính Các Tổ Chức Tín Dụng
- Pháp Luật Về Xử Lý Tài Sản Hình Thành Từ Vốn Vay
- Bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay - 13
- Bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay - 14
Xem toàn bộ 117 trang tài liệu này.
thì cao hơn khách hàng loại AA+ | tín dụng với mức ưu đãi về lãi suất, phí, thời hạn và biện pháp bảo đảm tiÒn vay | ||
A | 70-80 | ThÊp | ưu tiên đáp ứng nhu cầu tín dụng, đặc biệt là các khoản tín dụng từ trung hạn trở xuống. Không yêu cầu cao về tài sản bảo đảm tiền vay. |
BBB | 60-70 | Trung bình | Có thể mở rộng tín dụng; không hoặc hạn chế áp dụng các điều kiện ưu đãi. Đánh giá kỹ về chu kỳ kinh tế và tính hiệu quả khi cho vay dài hạn. |
BB | 50-60 | Trung bỡnh nhưng khả năng | Hạn chế mở rộng tín |
trả nợ gốc và lãi trong | dụng: chỉ tập trung vào | ||
tương lai ít được đảm bảo | các khoản tín dụng ngắn | ||
hơn khách hàng loại BB+ | hạn với các biện pháp | ||
bảo đảm tiền vay hiệu | |||
quả. Việc cho vay mới | |||
hay các khoản vay dài | |||
hạn chỉ thực hiện với các | |||
đánh giá kỹ về chu kỳ | |||
kinh tế và tính hiệu quả, | |||
khả năng trả nợ của |
phương án vay vốn. | |||
B | 40-50 | Cao, do khả năng tự chủ tài | Hạn chế mở rộng tín |
chính thấp. TCTD chưa có | dụng và tập trung thu | ||
nguy cơ mất vốn ngay | hồi vốn cho khoản vay. | ||
nhưng về lâu dài sẽ khó | Các khoản vay mới chỉ | ||
khăn nếu tình hình hoạt | được thực hiện trong các | ||
động kinh doanh của khách | trường hợp đặc biệt với | ||
hàng không được cải thiện. | việc đánh giá kỹ càng | ||
khả năng phục hồi của | |||
khách hàng và các | |||
phương án bảo đảm tiền | |||
vay. | |||
CCC | 30-40 | Cao, là mức cao nhất có thể | Hạn chế tối đa mở rộng |
chấp nhận; xác suất vi | tín dụng; Các biện pháp | ||
phạm hợp đồng tín dụng | giãn nợ; Gia hạn nợ chỉ | ||
cao, nếu không có biện | được thực hiện nếu có | ||
pháp kịp thời, TCTD sẽ mất | phương án khắc phục | ||
vốn trong ngắn hạn. | khả thi. | ||
CC | 20-30 | Rất cao, khả năng trả nợ | Không mở rộng tín |
TCTD kém, nếu không có | dụng; Tìm mọi biện | ||
biện pháp kịp thời, TCTD | pháp để thu hồi nợ, kể | ||
sẽ mất vốn trong ngắn hạn. | cả việc gia hạn nợ, chỉ | ||
thực hiện nếu có phương | |||
án khắc phục khả thi. | |||
C | 10-20 | Rất cao, TCTD phải mất | Không mở rộng tín |
nhiều thời gian và công sức | dụng ; Tìm mọi biện | ||
để thu hồi vốn cho vay. | pháp để thu hồi nợ kể cả | ||
việc xử lý sớm tài sản |