Tái cấu trúc vốn tại tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam - 11


Bảng 3.28. Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) tại Công ty mẹ - PVN và các doanh nghiệp thành viên cấp 1 của Tập đoàn giai đoạn 2007 – 2012

Đơn vị %


STT

Đơn vị

2007

2008

2009

2010

2011

2012

1

Công ty mẹ - PVN

11,1

9,4

9,8

9,7

8,0

7,5

2

TCT Thăm dò khai thác DK

44,8

45,0

33,6

34,2

30,9

28,8

3

CTy Lọc hóa dầu Bình Sơn


-0,3

-3,8

0,2

-4,1

1,03

4

TCT Hóa chất và phân bón Phú Mỹ

23,2

28,9

23,9

25,9

37,8

33,38

5

TCT Khí Việt Nam

37,4

31,9

19,1

15,4

17,7

33,40

6

TCT Dầu Việt Nam


2,9

2,0

3,5

-0,5

2,58

7

TCT Điện lực Việt Nam

-0,3

-1,6

1,3

0,5

-1,0

1,55

8

TCT Dịch vụ kỹ thuật DK

9,4

9,3

6,3

5,4

7,5

6,59

9

TCT Khoan và DV khoan DK

16,1

20,3

7,0

6,4

6,7

10,40

10

TCT Dịch vụ Tổng hợp DK

0,7

-1,6

-0,6

8,5

17,1

17,82

11

TCT Vận tải Dầu khí

1,5

2,2

0,2

0,9

0,7

2,97

12

TCT Tư vấn thiết kế Dầu khí

5,0

6,2

7,3

7,1

10,3

8,11

13

TCT CN năng lượng DK VN



3,4

3,0

0,6

5,37

14

TCT Thương mại Kỹ thuật và Đầu tư (Petec)

-1,9

0,1

0,3

1,5

-4,7

-6,74

15

TCT Dung dịch Khoan và hóa phẩm Dầu khí

-0,2

14,1

8,6

9,6

14,7

9,78

16

TCT Xây lắp Dầu khí

2,1

2,4

5,5

9,3

2,7

-6,58

17

TCT Bảo hiểm Dầu khí

7,1

3,5

3,7

5,2

7,0

7,80

18

TCT Tài chính CP Dầu khí

1,3

0,0

0,9

1,0

0,6

0,2

19

Công ty TNHH MTV Công nghiệp tàu thủy Dung Quất


0,1


0,2


-1,5


0,7


-13,5


-10,9

Có thể bạn quan tâm!

Xem toàn bộ 134 trang: Tái cấu trúc vốn tại tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam

Tái cấu trúc vốn tại tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam - 11

(Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo tài chính của các doanh nghiệp thuộc TĐDKQGVN)


Việc đánh giá cấu trúc vốn của các doanh nghiệp được phản ánh thông qua mục tiêu cuối cùng của bất kỳ doanh nghiệp nào đó là hiệu quả kinh doanh. Hiệu quả kinh doanh đo lường khả năng sinh lời từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu như khả năng sinh lời tài sản (Return on Assets- ROA), khả năng sinh lời trên doanh thu (tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu). Trong đó hiệu quả hoạt động kinh doanh được đo lường thông qua chỉ tiêu tỉ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA). Một cấu trúc vốn hợp lý, tối ưu xét đến cùng phải là một cấu trúc vốn đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả và an toàn.

Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam có sự phân hóa mạnh, bên cạnh các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả cao còn có rất nhiều doanh nghiệp hiệu quả ở mức trung bình và cũng có những doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, thua lỗ. Xét chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, tỷ số lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí trong giai đoạn 2007 – 2012 có thể thấy sự khác biệt rất lớn giữa các doanh nghiệp. Nhóm các doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản cao ở mức trên 17% (Tổng công ty Khí, Tổng công ty Dịch vụ Tổng hợp Dầu khí năm 2011), từ 30% - 45% (Tổng công ty Thăm dò khai thác Dầu khí, Tổng công ty Hóa chất và phân bón Phú Mỹ), các doanh nghiệp này có cấu trúc vốn ở mức hợp lý khoảng 20% - 30% đối với trường hợp của Tổng công ty Khí và Tổng công ty Thăm dò khai thác Dầu khí, hoặc mặc dù có hiệu quả kinh doanh tốt nhưng do hoạt động đầu tư hạn chế nên hầu như không sử dụng nợ vay dài hạn như Tổng công ty Hóa chất và phân bón Phú Mỹ hay Tổng công ty Dịch vụ Tổng hợp Dầu khí. Nhóm các doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản ở mức trung bình 5% - 15% chiếm tỷ trọng lớn, các doanh nghiệp này tùy theo nhu cầu đầu tư cấu trúc vốn khác nhau nhưng nhìn chung tỷ lệ nợ dài hạn ở mức vừa phải, nợ dài hạn không vượt quá vốn chủ sở hữu. Nhóm 3 là các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản ở mức thấp dưới 3% và một số doanh nghiệp hoạt động thua lỗ, lợi nhuận âm trong một số năm. Ở những doanh nghiệp này cấu trúc vốn cho thấy nhiều doanh nghiệp tỷ lệ nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu rất cao như trường


hợp của Công ty Lọc hóa dầu Bình Sơn, Tổng công ty Điện lực Dầu khí, Công ty TNHH MTV Công nghiệp tàu thủy Dung Quất, hoặc mặc dù nợ dài hạn không cao làm cho cấu trúc vốn không bị ảnh hưởng nhưng nợ ngắn hạn lại rất lớn như Tổng công ty Dầu, Tổng công ty Thương mại Kỹ thuật và Đầu tư (Petec), Tổng công ty Xây lắp Dầu khí..., ở những doanh nghiệp này chi phí lãi vay trong giai đoạn vừa qua cũng là một nhân tố không nhỏ góp phần vào sự thua lỗ trong hoạt động.

Tổng quan chung về hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp thuộc Tâp đoàn Dầu khí Việt Nam cho thấy tới 43,05% các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả (65 trên tổng số 151 doanh nghiệp), các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả (có tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản trên 10%) chiếm khoảng 26,5% (40 trên tổng số 151 doanh nghiệp), còn lại là các doanh nghiệp hoạt động ở mức độ hiệu quả trung bình (tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản từ 5%- 10%) và trung bình thấp (tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản từ 3% - 5%).

Bảng 3.29. Tổng hợp tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản

của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam năm 2012


Tỷ suất LN/ Tổng

Tài sản

Trên 10%

Từ 5% -

10%

Từ 3% -

5%

Dưới 3%

Tổng

Số lượng DN

40

28

18

65

151

Tỷ lệ/Tổng DN

26,49%

18,54%

11,92%

43,05%

100%

(Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo tài chính của các doanh nghiệp thuộc TĐDKQGVN)

Tình hình đánh giá hiệu quả hoạt động chung của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam cho thấy mặc dù có rất nhiều ưu đãi, tập trung nguồn lực của Nhà nước cho Tập đoàn nhưng hiệu quả hoạt động ở nhiều đơn vị (đặc biệt là các doanh nghiệp thành viên cấp 2 và các doanh nghiệp hoạt động ngoài lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính của Tập đoàn) vẫn ở mức độ thấp. Do vậy để nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam bên cạnh những giải pháp khác việc tái cấu trúc vốn tại các doanh nghiệp là một đòi hỏi cấp bách, bởi các nghiên cứu và kiểm định đã chỉ ra rằng, có mối quan hệ chặt chẽ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.


3.3.2.2. Tỷ trọng vốn vay dài hạn thấp trong tổng vốn vay:


Mặc dù khi xem xét cấu trúc vốn của các doanh nghiệp người ta xét đến cơ cấu vốn chủ sở hữu và vốn vay dài hạn, tuy nhiên nếu xem xét một cách tổng thể cơ cấu các nguồn vốn nói chung của doanh nghiệp tại Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam có thể thấy hầu hết các doanh nghiệp chủ yếu vẫn là vay ngắn hạn. Trong tổng số 19 doanh nghiệp thành viên cấp 1 của Tập đoàn có tới 8 doanh nghiệp vốn vay ngắn hạn chiếm trên 90% tổng vốn vay của doanh nghiệp và 12 doanh nghiệp tỷ lệ nợ vay ngắn hạn chiếm trên 50% tổng vốn vay, đặc biệt có những doanh nghiệp toàn bộ nợ vay đều là vay ngắn hạn. Việc vốn ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn vay của doanh nghiệp đã làm hạn chế khả năng đầu tư dài hạn của doanh nghiệp đồng thời ảnh hưởng và đe dọa đáng kể đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp, nếu việc kiểm soát không tốt dễ dẫn đến rủi ro như mất khả năng thanh khoản của doanh nghiệp.

3.3.2.3. Cơ cấu vốn vay của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí chưa hợp lý

Có thể thấy tỷ trọng vốn vay từ các các tổ chức tín dụng chiếm gần như tuyệt đối trong cơ cấu nợ vay của các doanh nghiệp. Cho đến nay ngoài Tổng công ty Tài chính cổ phần Dầu khí huy động vốn qua kênh phát hành trái phiếu với tư cách Tổ chức tín dụng thì chưa một doanh nghiệp nào của Tập đoàn thực hiện huy động vốn từ các kênh khác ngoài vay từ các Tổ chức tín dụng. Chính việc không đa dạng hóa các hình thức huy động nợ (hạn chế các hình thức huy động nợ khác ngoài vay từ các tổ chức tín dụng) đã làm giảm khả năng huy động vốn của các doanh nghiệp, làm giảm khả năng thay đổi và đạt cấu trúc vốn hợp lý, tối ưu cho các doanh nghiệp mà sẽ làm cho các doanh nghiệp tiếp tục phụ thuộc vào nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn vốn Nhà nước khi có nhu cầu vốn cho hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh của mình.

3.3.2.4. Vốn chủ sở hữu còn phụ thuộc quá nhiều vào vốn Nhà nước


Khả năng huy động các nguồn vốn chủ sở hữu ngoài vốn nhà nước còn hạn chế. Mặc dù quá trình cổ phần hóa đã được triển khai mạnh mẽ tại các doanh nghiệp


thuộc Tập đoàn bao gồm quá trình IPO (cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước thuộc Tập đoàn thông qua quá trình bán cổ phần lần đầu ra công chúng), quá trình bán cổ phần cho cổ đông chiến lược, các đợt phát hành tăng vốn…, tuy nhiên một mặt do các khó khăn của thị trường chứng khoán, cũng như các vấn đề nội tại của bản thân các doanh nghiệp của Tập đoàn nên việc huy động các nguồn vốn chủ sở hữu khác trên thị trường chứng khoán ngoài vốn Nhà nước vẫn còn rất hạn chế. Một số doanh nghiệp mặc dù đã tiến hành cổ phần hóa nhưng tỷ lệ vốn Nhà nước vẫn còn chiếm tới 97% (ví dụ Tổng công ty Khí). Tình trạng này dẫn đến việc vốn chủ sở hữu vẫn còn phụ thuộc quá lớn vào vốn Nhà nước trong khi nguồn vốn Nhà nước cũng rất hạn chế do vậy việc tăng quy mô vốn và đạt cấu trúc vốn tối ưu vẫn còn trông chờ vào khả năng tăng vốn của Nhà nước cho các doanh nghiệp mà chưa tạo được sự chủ động các nguồn vốn để đạt được cấu trúc vốn tối ưu.

3.3.3. Nguyên nhân của các hạn chế trong cấu trúc vốn tại các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam

3.3.3.1. Nguyên nhân chủ quan


a) Vấn đề xác định và xây dựng cấu trúc vốn tối ưu chưa được quan tâm đúng mức Cấu trúc vốn của các doanh nghiệp chưa được xác lập một cách có cơ sở

khoa học, kết quả phỏng vấn các lãnh đạo doanh nghiệp cho thấy phần lớn các

doanh nghiệp chưa từng xác định cấu trúc vốn mục tiêu (trên cơ sở cấu trúc vốn tối ưu) mà quy mô vốn chủ sở hữu và vốn vay dài hạn hoàn toàn phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng vốn của doanh nghiệp. Khi có nhu cầu vốn đầu tư, vốn sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp sẽ tìm nguồn vốn chủ sở hữu trước (thông qua việc tăng vốn Nhà nước, lợi nhuận giữ lại, huy động vốn cổ đông…) sau đó khi vốn chủ sở hữu không đáp ứng đủ nhu cầu vốn thì doanh nghiệp sẽ tìm đến các ngân hàng để có được các khoản vay. Do đặc thù các doanh nghiệp đều thuộc Tập đoàn kinh tế Nhà nước, trong đó Nhà nước chi phối về vốn (100% vốn Nhà nước, hoặc vốn Nhà nước chi phối trên 51%) hoặc chi phối về nhân sự, quyền quản lý… nên mặc dù trong giai đoạn gần đây đã có sự đổi mới cơ bản trong quản trị, điều hành tại các doanh


nghiệp như cơ chế quan lý vốn Nhà nước… tuy nhiên riêng về vấn đề cấu trúc vốn thì hầu như không có sự thay đổi nào đáng kể trong quản trị doanh nghiệp. Các doanh nghiệp không chủ động xây dựng cho mình một cơ cấu vốn tối ưu, với xuất phát điểm là xác định đúng và đủ chi phí vốn để tối đa hóa giá trị doanh nghiệp, tối đa hiệu quả hoạt động mà vẫn chủ yếu dựa dẫm vào vốn chủ sở hữu trong đó nguồn chủ yếu vẫn là phần vốn Nhà nước do Tập đoàn cấp tăng vốn. Việc huy động vốn vay từ các nguồn chủ yếu mang tính tình thế, tạm thời bù đắp khi có nhu cầu đầu tư mà nguồn vốn chủ sở hữu không đáp ứng đủ.

Nhận thức của lãnh đạo doanh nghiệp về cấu trúc vốn, tầm quan trọng của việc xây dựng cấu trúc vốn tối ưu trong quản lý tài chính của doanh nghiệp còn hạn chế. Nhiều lãnh đạo doanh nghiệp thành viên của Tập đoàn không nhận thức được ưu điểm của nợ vay, của “lá chắn thuế” khi sử dụng nợ vay, họ luôn tìm cách để nhận được vốn từ Tập đoàn, coi đây như một nguồn vốn “miễn phí” và chỉ bắt đầu đi vay khi nguồn vốn này không đáp ứng được nhu cầu. Từ nhận thức này, dẫn đến doanh nghiệp hoàn toàn không chủ động xác định cấu trúc vốn tối ưu để từ đó có các phương án và chiến lược huy động đối với từng nguồn vốn. Một mặt không tối đa hóa được giá trị doanh nghiệp từ cấu trúc vốn tối ưu, mặt khác do không chủ động nên cũng rất khó khăn khi huy động vốn khi phát sinh nhu cầu.

b) Chi phí vốn chưa được tính toán đầy đủ

Một hệ thống các quan điểm đầy đủ về chi phí vốn của doanh nghiệp bao gồm chi phí vốn chủ sở hữu và chi phí vốn vay chưa được các doanh nghiệp đặt ra. Hầu hết các doanh nghiệp chỉ tính toán đến các khoản chi phí vốn mà các doanh nghiệp phải trực tiếp chi trả bằng tiền như lãi vay phải trả cho các khoản vay từ các tổ chức tín dụng và cổ tức phải trả cho cổ đông. Đối với phần vốn Nhà nước - một thành phần cơ bản trong cơ cấu vốn chủ sở hữu, do xuất phát từ tư duy Nhà nước cấp vốn cho doanh nghiệp Nhà nước với tư cách chủ sở hữu và không đòi hỏi bất kỳ một chi phí vốn nào, do vậy cho đến nay các doanh nghiệp vẫn quan điểm đây là nguồn vốn không phải trả chi phí và như vậy xin được càng nhiều nguồn vốn này càng tốt. Đối với phần lợi nhuận giữ lại cũng vậy, các doanh nghiệp hiện nay đang


đương nhiên sử dụng phần vốn này như nguồn vốn không chi phí và sẽ cố gắng để tăng nguồn vốn này thay cho nguồn vốn vay. Như vậy, chi phí vốn chủ sở hữu hoàn toàn chưa được xác định theo cơ chế thị trường. Xét trên quan điểm nghiên cứu, trong nền kinh tế thị trường khi doanh nghiệp sử dụng vốn từ bất kỳ nguồn nào dù nguồn vốn chủ sở hữu hay nguồn vốn vay đều phải trả chi phí, vốn Nhà nước với tư cách chủ sở hữu duy nhất (trong trường hợp doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước) hay đồng chủ sở hữu (đối với các doanh nghiệp đa sở hữu) cũng không phải là ngoại lệ. Khi doanh nghiệp sử dụng vốn Nhà nước (vốn cấp hoặc lợi nhuận giữ lại) phải trả chi phí, nếu còn tồn tại quan điểm cho rằng vốn Nhà nước không phải trả chi phí chắc chắn sẽ dẫn đến tình trạng quản lý, sử dụng vốn không hiệu quả, thậm trí chấp nhận các dự án đầu tư, các phương án kinh doanh có tỷ lệ sinh lời thấp hơn chi phí vốn. Như vậy, chính vì có sự sai lầm trong tính toán chi phí vốn của nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn vay đã dẫn đến sự méo mó trong việc xác định cấu trúc vốn của doanh nghiệp, lợi ích của tấm chắn thuế đối với chi phí vốn khi sử dụng vốn vay không còn do vậy doanh nghiệp không hề có động lực trong việc tăng tỷ trọng sử dụng vốn vay trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp để tăng hiệu quả hoạt động, tối đa hóa giá trị doanh nghiệp.

c) Cơ chế quản lý vốn đầu tư của Tập đoàn tại các doanh nghiệp thành viên còn bất cập

Cơ chế quản lý vốn đầu tư của Tập đoàn tại các doanh nghiệp thành viên còn bất cập, đâu đó vẫn còn mang tính bao cấp, chưa thực sự coi đây là các khoản “đầu tư tài chính” để tính đến và có giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả. Đây là nguyên nhân dẫn đến việc các doanh nghiệp thành viên khi nhận vốn đầu tư của Tập đoàn không chịu áp lực để tính đúng, tính đủ chi phí vốn chủ sở hữu. Dẫn đến việc sử dụng không hiệu quả nguồn vốn đầu tư từ công ty mẹ.

d) Các doanh nghiệp chưa xây dựng được chiến lược huy động vốn

Các doanh nghiệp chưa xây dựng được chiến lược huy động vốn, đặc biệt là vốn dài hạn. Ở một số doanh nghiệp khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay còn hạn


chế. Ngoài kênh huy động vốn từ các Ngân hàng, các doanh nghiệp chưa sẵn sàng và chưa đủ điều kiện để huy động vốn từ các kênh khác như phát hành trái phiếu…

e) Huy động vốn chủ sở hữu từ thị trường chứng khoán rất yếu

Mức độ tham gia của các doanh nghiệp vào thị trường chứng khoán thông qua phát hành cổ phiếu để huy động vốn còn khá hạn chế, mặc dù hầu hết các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí sau cổ phần hóa đã thực hiện niêm yết trên thị trường chứng khoán. Dẫn đến khi có nhu cầu gia tăng vốn chủ sở hữu ngoài việc đề nghị Tập đoàn cấp vốn, khả năng huy động các nguồn vốn chủ sở hữu khác thông qua thị trường chứng khoán là hết sức hạn chế và khó khăn.

3.3.3.2. Nguyên nhân khách quan


- Mô hình Tập đoàn kinh tế Nhà nước đang trong giai đoạn thí điểm chưa hoàn thiện, hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động của các Tập đoàn kinh tế chưa đủ, chưa đồng bộ, ngay cả Điều lệ hoạt động và quy chế Tài chính của công ty mẹ - Tập đoànchưa tạo được sự chủ động cho hoạt động của Tập đoàn. Cơ chế quản lý tài chính đối với các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp là công ty TNHH một thành viên 100% vốn Nhà nước nói riêng còn một số bất cập

- Các chính sách quản lý Nhà nước còn thiếu đồng bộ, còn nhiều bất hợp lý một mặt chưa khuyến khích các doanh nghiệp vay vốn nhưng đồng thời mặt khác việc kiểm soát mức độ vay vốn của các doanh nghiệp lại chưa chặt chẽ. Ví dụ, các thủ tục xin phép khi doanh nghiệp vay vốn nước ngoài tương đối phức tạp, ngoài việc phải đăng ký khoản vay, kế hoạch giải ngân, trả nợ với Ngân hàng Nhà nước sau khi hợp đồng vay vốn được ký kết thì trước khi ký hợp đồng vay doanh nghiệp phải xin phê duyệt của Bộ chủ quản (Bộ Công thương trong trường hợp của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí), Bộ Tài chính trong khi các Bộ này trên thực tế không quản lý tình trạng vay nợ của doanh nghiệp, cũng không thể đánh giá và không thể chịu trách nhiệm về khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Đối với việc vay vốn từ các Ngân hàng trong nước, quy định hạn mức cho vay đối với 1 khách hàng và “nhóm khách hàng liên quan” hiện nay gây rất nhiều khó khăn cho các doanh


nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam khi vay vốn. Bởi vì một Ngân hàng không được phép cho vay quá 15% vốn chủ sở hữu của Ngân hàng đối với một doanh nghiệp và không quá 25% vốn chủ sở hữu của Ngân hàng đối với “nhóm khách hàng liên quan” tức là toàn Tập đoàn (gồm công ty mẹ và hơn một trăm đơn vị thành viên). Chính điều này đã rất hạn chế khả năng vay vốn của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam khi mà quy mô vốn chủ sở hữu của các Ngân hàng bản thân nó đã quá nhỏ bé so với nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam. Ngoài ra còn những hạn chế về vay vốn bằng ngoại tệ trong khi nhu cầu vốn vay bằng ngoại tệ của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam là rất lớn và nhiều doanh nghiệp cũng có khả năng cân đối nguồn ngoại tệ để trả nợ.

- Thị trường chứng khoán chưa phát triển đáp ứng yêu cầu, dòng vốn đầu tư vào thị trường còn yếu đặc biệt là dòng vốn của các nhà đầu tư có tổ chức nước ngoài (chủ yếu vẫn là các nhà đầu tư cá nhân), tính thanh khoản của thị trường chưa cao. Nguyên nhân này đã làm hạn chế khả năng huy động vốn của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí thông qua thị trường chứng khoán. Mặt khác, sự hạn chế của các giao dịch trái phiếu doanh nghiệp trên thị trường thứ cấp là một nguyên nhân quan trọng làm hạn chế việc phát hành trái phiếu của doanh nghiệp, làm mất đi một kênh huy động vốn quan trọng của doanh nghiệp.


Kết luận chương 3

Có thể thấy, trong thời gian qua với những lợi thế của một Tập đoàn kinh tế lớn của đất nước, các doanh nghiệp của TĐDKQGVN hoạt động tương đối ổn định và có những bước phát triển đáng kể với cấu trúc vốn thể hiện những ưu điểm nổi bật như: cấu trúc vốn ở hầu hết các doanh nghiệp của Tập đoàn hiện đang ở mức an toàn; quy mô vốn của các doanh nghiệp trong giai đoạn vừa qua có tốc độ tăng trưởng khá ấn tượng ở mức cao; các doanh nghiệp hiện đang được sử dụng vốn với mức chi phí vốn hợp lý (mức tương đối thấp so với mặt bằng của các doanh nghiệp nói chung trong nền kinh tế); khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay (cả trong và ngoài nước) của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn rất thuận lợi và đặc biệt các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn thể hiện ưu thế tuyệt đối trong việc gia tăng nguồn vốn chủ sở hữu từ nguồn vốn Nhà nước. Tuy nhiên, thực trạng cấu trúc vốn của các doanh nghiệp tại Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam vẫn còn bộc lộ quá nhiều điểm bất cập như: (i) Cấu trúc vốn chưa tối ưu thể hiện ở hiệu quả hoạt động của nhiều doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam thấp, không tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của Tập đoàn; (ii) Cơ cấu Nợ không hợp lý thể hiện ở tỷ trọng vốn vay dài hạn thấp trong tổng vốn vay; (iii) Cơ cấu nợ theo hình thức huy động của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí cũng chưa hợp lý; (iv) Cơ cấu vốn chủ sở hữu chưa hợp lý, vốn chủ sở hữu còn phụ thuộc quá nhiều vào vốn Nhà nước. Các hạn chế trên của cấu trúc vốn tại các doanh nghiệp có những nguyên nhân khách quan và chủ quan.

Chính thực trạng này đòi hỏi, từng doanh nghiệp nói riêng và Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam nói chung phải thực hiện thành công quá trình tái cấu trúc vốn, đây là một đòi hỏi sống còn của Tập đoàn trong tiến trình ổn định và phát triển.


CHƯƠNG 4.

CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN TÁI CẤU TRÚC VỐN TẠI TẬP ĐOÀN DẦU KHÍ QUỐC GIA VIỆT NAM

4.1. Định hướng phát triển và quá trình tái cấu trúc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam

Định hướng phát triển của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã được thể hiện rõ trong “Chiến lược ngành Dầu khí Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2025” đã được Bộ Chính trị kết luận tại Kết luận 41- KL/TW ngày 19/1/2006 của Bộ Chính trị khóa IX và Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 459/QĐ-TTg ngày 30/3/2011, phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp Dầu khí Việt Nam giai đoạn đến 2015, định hướng đến 2025”. Trong đó quan điểm chủ đạo và xuyên suốt là “Phát triển ngành Dầu khí đồng bộ, mang tính đa ngành và liên ngành, trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng, dựa trên tiềm năng dầu khí trong nước và nước ngoài, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên trong nước, đồng thời phải tích cực đầu tư tìm kiếm thăm dò ra nước ngoài, khai thác nhanh nguồn tài nguyên nước ngoài để bổ sung sự thiếu hụt từ khai thác trong nước, trên cơ sở đó phát triển ngành Dầu khí bền vững, có khả năng cạnh tranh và đảm bảo an ninh năng lượng cho sự phát triển đất nước. Phát huy nội lực, kết hợp với mở rộng hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài để thăm dò, gia tăng nhanh trữ lượng dầu khí có thể khai thác, ưu tiên tìm kiếm thăm dò, khai thác trước những vùng nước sâu, xa bờ, những vùng chồng lấn, tranh chấp. Khuyến khích sự tham gia của các thành phần kinh tế trong các lĩnh vực dịch vụ, chế biến và phân phối sản phẩm...Phát triển ngành Dầu khí đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm an ninh quốc phòng, tăng cường sức mạnh bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển”

Với mục tiêu tổng quát phát triển ngành Dầu khí trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng, đồng bộ, bao gồm: tìm kiếm thăm dò, khai thác, vận chuyển, chế biến, tàng trữ, phân phối, dịch vụ và xuất nhập khẩu. Xây dựng Tập đoàn Dầu khí


mạnh, kinh doanh đa ngành trong nước và quốc tế. Định hướng phát triển ngành đã xác định các mục tiêu cụ thể cho giai đoạn đến năm 2015 và định hướng đến 2025.

Phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước về việc đẩy mạnh tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước, nhằm thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển Tập đoàn cũng như các mục tiêu phát triển ngành trong những năm tiếp theo với mục tiêu cuối cùng là phát triển Tập đoàn nhanh, mạnh và bền vững, cũng như các Tập đoàn kinh tế Nhà nước khác nói riêng và cả nền kinh tế nói chung, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đang phải quyết liệt thực hiện quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp. Quá trình này bao gồm các nội dung chủ yếu như:

- Hoàn thiện mô hình Tập đoàn với cơ cấu tổ chức hợp lý của PVN và các doanh nghiệp thành viên

- Đổi mới sắp xếp, tái cấu trúc các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn, tập trung vào các lĩnh vực cốt lõi: Sắp xếp, phân định lại chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực ngành nghề kinh doanh của các doanh nghiệp thành viên Tập đoàn để hạn chế cạnh tranh nội bộ và tập trung vào hoạt động sản xuất kinh doanh chính

- Lành mạnh hóa tình hình tài chính và hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại doanh nghiệp trong Tập đoàn; Hoàn thiện các quy chế về quản lý phần vốn của PVN và của các doanh nghiệp thành viên Tập đoàn.

Với định hướng chiến lược như trên, tổng vốn đầu tư cho giai đoạn đến 2025 là rất lớn. Chỉ tính riêng giai đoạn 2011 – 2015 tổng vốn đầu tư dự kiến trên 5 tỷ USD với cơ cấu như sau:

Bảng 4.1. Cơ cấu vốn đầu tư của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam theo lĩnh vực giai đoạn 2011-2015

Đơn vị: 1.000 tỷ đồng


Tổng

Thăm dò, khai thác DK

Công nghiệp Khí

Điện

Chế biến Dầu khí

Dịch vụ

Tổng vốn ĐT

1.090

396

72

176

283

163

VCSH PVN

185

56

13

59

28

29

Vốn CĐ khác

195

82

12

3

70

28

Vốn vay

710

258

47

114

185

106

(Nguồn: Kế hoạch 5 năm 2011 - 2015 của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam)

Download pdf, tải về file docx

Bài viết tương tự

Gửi tin nhắn

Home | Contact | About | Terms | Privacy policy
© 2022 Tailieuthamkhao.com | all rights reserved

Trang chủ Tài liệu miễn phí Thư viện số