Tái cấu trúc vốn tại tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam - 14


tế, ví dụ vay tín dụng xuất khẩu (ECA) đối với các nhu cầu, các dự án có khối lượng hàng hóa, thiết bị …nhập khẩu lớn; hay vay Dự án, vay đảm bảo bằng trữ lượng dầu khí (Reserves Based Lending)…đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí. Với các hình thức vay này, không những các doanh nghiệp có thể tăng được quy mô vốn vay mà điều quan trọng là các doanh nghiệp sẽ tiếp cận được với các nguồn vốn dài hạn.

Ngoài kênh huy động từ các ngân hàng trong và ngoài nước, kênh huy động vốn bằng trái phiếu mặc dù là kênh huy động vốn rất phổ biến và nhiều ưu điểm trong các nền kinh tế hiện đại và phát triển, tuy nhiên với tầm cỡ 1 Tập đoàn kinh tế số 1 Việt Nam nhưng việc triển khai kênh huy động vốn này còn quá chậm trễ và chưa có kết quả gì đáng kể mặc dù ý tưởng và sự khởi động cho các chương trình phát hành trái phiếu quốc tế đã bắt đầu từ những năm 1997 – 1998 và PVN cũng là doanh nghiệp Nhà nước đầu tiên phát hành trái phiếu doanh nghiệp trong nước năm 2003. Cũng phải lưu ý rằng với các quy định hiện hành, việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp trong nước sẽ phải thực hiện phát hành bằng tiền đồng, do vậy để đáp ứng các nhu cầu vay vốn ngoại tệ với chi phí thập, khối lượng lớn, đích hướng tới của các doanh nghiệp phải là thị trường tài chính quốc tế. Muốn làm được điều này một chương trình chuẩn bị phải được khởi động là lập trình dài hạn, bởi việc phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế không phải như vay vốn từ các ngân hàng mà cần quá trình chuẩn bị lâu dài từ khâu có được xếp hạng tín nhiệm từ các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế như Standard &Poor, Moody’s…, chuẩn bị các bản cáo bạch với hệ thống báo cáo tài chính, báo cáo hoạt động của doanh nghiệp theo các chuẩn mực quốc tế, quá trình lựa chọn tổ chức tư vấn phát hành, bảo lãnh phát hành, quá trình đánh giá (due dillignce)…Quá trình này có thể kéo dài trong 1-2 năm trước khi trái phiếu của doanh nghiệp có thể ra được thị trường quốc tế.

4.3.3.2. Nâng cao “chất lượng” nợ của doanh nghiệp


Để có thể tăng tỷ trọng nợ trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp nhằm hướng tới cấu trúc vốn tối ưu mà không làm tăng quá mức rủi ro cho doanh nghiệp do nợ


mang lại, yêu cầu quan trọng đặt ra cho các doanh nghiệp của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam là phải quản lý một cách hiệu quả nợ, nâng cao chất lượng nợ của doanh nghiệp.

- Xây dựng hệ thống chỉ tiêu giám sát nợ của doanh nghiệp và xây dựng, hoàn thiện hệ thống quy trình, quy chế nhằm quản lý nợ ở cả 3 giai đoạn: (i) huy động nợ (bao gồm xây dựng chiến lược và kế hoạch huy động nợ, quy trình thẩm định lựa chọn nguồn vốn vay, quy trình và phân cấp thẩm quyền phê duyệt các khoản vay của doanh nghiệp…); (ii) quản lý sử dụng vốn vay (bao gồm hệ thống quy trình nhằm kiểm soát việc sử dụng vốn vay đúng mục đích, hợp lý, nâng cao hiệu quả các dự án sử dụng vốn vay, thường xuyên đánh giá hiệu quả sử dụng vốn vay…); (iii) quản lý kế hoạch trả nợ (bao gồm xây dựng cân đối dòng tiền chung của doanh nghiệp trong đó có kế hoạch trả nợ vay nhằm đảm bảo chủ động đảm bảo nguồn trả nợ đúng hạn, đảm bảo thanh khoản và khả năng thanh toán của doanh nghiệp).

- Xây dựng cơ cấu nợ hợp lý trên những khía cạnh sau:

Có thể bạn quan tâm!

Xem toàn bộ 134 trang: Tái cấu trúc vốn tại tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam

(+) Kỳ hạn nợ: Căn cứ vào nhu cầu sử dụng vốn của doanh nghiệp, căn cứ vào dòng tiền kế hoạch của doanh nghiệp trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, doanh nghiệp sẽ xác định cấu trúc nợ bao gồm những kỳ hạn khác nhau một cách phù hợp, tối ưu nhất nhằm cân đối vừa để đảm bảo khả năng trả nợ của doanh nghiệp, đồng thời tối ưu việc sử dụng các khoản nợ để nâng cao hiệu quả sử dụng nợ. Thông thường các khoản nợ có thời hạn dài (trên 7 năm) sẽ giảm áp lực trả nợ trong ngắn hạn và trung hạn cho doanh nghiệp, tuy nhiên đối với các khoản nợ này chắc chắn chi phí vay sẽ cao hơn đáng kể so với các khoản nợ có kỳ hạn trung (từ 3

- 5 năm). Do vậy doanh nghiệp trên cơ sở nhu cầu vốn và dòng tiền kế hoạch sẽ kết hợp các khoản nợ có kỳ hạn khác nhau để phù hợp với nhu cầu và khả năng trả nợ của doanh nghiệp và giảm thiểu chi phí vay.

Tái cấu trúc vốn tại tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam - 14

(+) Loại hình nợ: Doanh nghiệp cần cân đối để sử dụng kết hợp các khoản vay với những loại hình khác nhau căn cứ vào nhu cầu của doanh nghiệp nhằm tận dụng ưu thế của từng loại hình vay bởi vì đối với mỗi loại hình nợ như vay công ty, vay dự án … sẽ có những ưu và nhược điểm riêng. Chẳng hạn khi vay dự án người


cho vay sẽ căn cứ chủ yếu vào đánh giá dòng tiền dự án, khả năng trả nợ từ chính bản thân dự án nên sẽ phù hợp đối với doanh nghiệp năng lực tài chính chung của doanh nghiệp còn hạn chế nhưng lại có dự án đầu tư hiệu quả . Trong khi đó tại những thời kỳ doanh nghiệp cần sử dụng linh hoạt khoản vay cho nhiều mục đích, nhiều nhu cầu đầu tư thì những khoản vay công ty sẽ đáp ứng nhu cầu đó. Do vậy việc sử dụng hài hòa, kết hợp hợp lý giữa các loại hình vay là một giải pháp hết sức quan trọng đảm bảo cho doanh nghiệp có thể tăng cường sử dụng nợ trong cấu trúc vốn của mình, đồng thời mang lại hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp.

4.3.4. Nhóm giải pháp tái cấu trúc vốn chủ sở hữu


4.3.4.1. Xây dựng lộ trình “thoái vốn” Nhà nước một cách hợp lý


Tái cấu trúc vốn tại Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam là một nội dung, một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình tái cấu trúc Tập đoàn. Trong quá trình này, Tập đoàn sẽ thực hiện những kế hoạch mang tính đột phá về cấu trúc lại phần vốn Tập đoàn (phần vốn Nhà nước) tại các doanh nghiệp. Tập đoàn sẽ chỉ giữ 100% vốn tại 1 đơn vị hoạt động trong lĩnh vực cốt lõi của Tập đoàn là thăm dò và khai thác dầu khí, sẽ giữ tỷ lệ vốn chi phối tại các doanh nghiệp thuộc 5 lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính, còn các doanh nghiệp khác ngoài 5 lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính Tập đoàn sẽ thực hiện chủ trương thoái vốn, giảm tỷ lệ tham gia của Tập đoàn. Đây sẽ là một áp lực rất lớn cho phần lớn các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn trong tiến trình xây dựng và hướng tới một cấu trúc vốn tối ưu, khi mà doanh nghiệp vẫn phải gia tăng quy mô vốn (cả vốn chủ sở hữu và vốn vay) để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, nhu cầu đầu tư, nhu cầu phát triển của doanh nghiệp, trong khi ưu thế về nguồn vốn chủ sở hữu nhà nước (từ PVN) không còn, do vậy để tạo sự phát triển ổn định cho các doanh nghiệp, đảm bảo cho quá trình thoái vốn nhà nước không có tác động xấu đến hoạt động của doanh nghiệp nói chung, đặc biệt là quá trình tái cấu trúc vốn để hướng tới cấu trúc vốn tối ưu của doanh nghiệp, Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam cần xây dựng một lộ trình “thoái vốn” tại từng doanh nghiệp cụ thể một cách hợp lý trên cơ sở tình hình thực tế của mỗi doanh nghiệp. Về nguyên tắc, thoái


vốn sẽ được thực hiện ở các doanh nghiệp không thuộc lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính của Tập đoàn và các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, tuy nhiên ngay cả đối với các doanh nghiệp này việc thoái vốn ồ ạt, không hợp lý chẳng những làm cho việc thoái vốn hết sức khó khăn (vì bán mà không ai mua, đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế trong và ngoài nước khó khăn như hiện nay) thậm trí sẽ dẫn đến tình trạng mất vốn, không bảo toàn được vốn nhà nước mà điều quan trọng hơn là sẽ ảnh hưởng đến tình hình tài chính, tình hình hoạt động của doanh nghiệp, khiến cho doanh nghiệp không thể thực hiện được tái cấu trúc vốn một cách hiệu quả. Do vậy, cần căn cứ vào phân tích tình hình tài chính, tình hình hoạt động cụ thể của doanh nghiệp, tính toán cụ thể cấu trúc vốn tối ưu của doanh nghiệp trên cơ sở đó đánh giá mức độ huy động các nguồn vốn chủ sở hữu khác thay thế vốn nhà nước từ đó xây dựng lộ trình thoái vốn nhà nước một cách hợp lý, xem việc xây dựng lộ trình thoái vốn Nhà nước một cách hợp lý là một trong các giải pháp quan trọng đảm bảo cho quá trình tái cấu trúc vốn thành công ở mỗi doanh nghiệp.

4.3.4.2. Nâng cao khả năng tiếp cận thị trường chứng khoán và phát hành tăng vốn nhằm giảm lệ thuộc vào vốn Nhà nước

Để có thể chủ động về các nguồn vốn nhằm hướng tới cấu trúc vốn tối ưu đồng thời giảm lệ thuộc vào nguồn vốn chủ sở hữu nhà nước (nguồn vốn từ PVN), các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam cần chủ động xây dựng một chiến lược để nâng cao khả năng tiếp cận và huy động vốn chủ sở hữu thông qua thị trường chứng khoán và phát hành tăng vốn. Muốn vậy các doanh nghiệp trước hết cần “lạnh mạnh” hóa và “minh bạch” hóa tình hình tài chính, tình hình hoạt động của doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, đồng thời cần xây dựng lộ trình phù hợp để tham gia vào thị trường chứng khoán một cách tích cực và chủ động. Đối với những doanh nghiệp cổ phần nhất thiết phải khẩn trương thực hiện niêm yết trên thị trường chứng khoán trong nước (hiện nay mới chỉ có /151 doanh nghiệp cấp 1 và cấp 2 của Tập đoàn thực hiện niêm yết trên hai sàn HOSE và HAX), đồng thời một số doanh nghiệp cổ phần có thế mạnh và hoạt động hiệu quả của Tập đoàn như


Tổng công ty khoan và dịch vụ khoan Dầu khí (PVD), Tổng công ty Khí Việt Nam (PV Gas), Tổng công ty phân đạm và hóa chất Dầu khí (DPM),…cần có lộ trình tích cực để thực hiện niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán quốc tế. Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh xúc tiến đầu tư, tìm kiếm các cổ đông chiến lược mới đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư có tiềm lực cả về tài chính và kinh nghiệm quản trị doanh nghiệp để tận dụng các thế mạnh về vốn, về quản trị…là một giải pháp quan trọng trong quá trình tái cấu trúc vốn của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí.

4.3.4.3. “Lành mạnh” hóa vốn chủ sở hữu, giảm dần và tiến tới xóa bỏ “sở hữu chéo” giữa các doanh nghiệp trong Tập đoàn

Tình trạng sở hữu chéo giữa các doanh nghiệp trong Tập đoàn đã tồn tại trong suốt thời gian qua, đặc biệt trong giai đoạn hàng loạt các doanh nghiệp cấp 2 được thành lập và các doanh nghiệp được cổ phần hóa. Ngoài các tác động tiêu cực của sở hữu chéo dễ nhận thấy như: sở hữu chéo có thể dẫn tới các giao dịch bất hợp lý, phi thị trường (unfair) giữa các doanh nghiệp có quan hệ sở hữu lẫn nhau. Các giao dịch này có thể dẫn tới các hành vi chuyển giá, trốn thuế…; việc sở hữu chéo ảnh hưởng tiêu cực tới công tác quản trị công ty, trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp có thể đưa ra các quyết định không thuần túy vì mục đích kinh doanh, không hoàn toàn vì lợi ích của doanh nghiệp, lợi ích của cổ đông, đặc biệt là cổ đông nhỏ lẻ, cổ đông không nắm giữ quyền chi phối, quản lý, điều hành doanh nghiệp…Trên giác độ cấu trúc vốn của doanh nghiệp, có thể thấy sở hữu chéo dẫn đến tình trạng vốn của doanh nghiệp không phản ánh đúng bản chất của nó do việc sở hữu chéo làm bóp méo (tăng) giá trị doanh nghiệp và giá trị cổ phiếu (bị đội giá trị - double counting), ngoài ra, việc sở hữu chéo còn có thể dẫn tới tình trạng tăng vốn ảo. Cụ thể, các doanh nghiệp phát hành riêng lẻ cho nhau, hạch toán sở hữu cổ phiếu (bù trừ cho nhau) và không kèm theo việc thanh toán bằng tiền. Trong trường hợp tăng vốn ảo từ việc sở hữu chéo, các cổ đông khác sẽ bị thiệt hại do tác động của hiện tượng pha loãng, làm sụt giảm giá thị trường của cổ phiếu. Như vậy, một hệ lụy khác của sở hữu chéo giữa các doanh nghiệp trong Tập đoàn Dầu khí làm giảm mức


độ minh bạch và sức cạnh tranh cũng như động lực phát triển trong hoạt động doanh nghiệp, tạo ra sự e ngại, tác động không tốt tới việc thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, đặc biệt từ các cổ đông chiến lược.

Do vậy, một giải pháp làm lành mạnh hóa cấu trúc vốn của doanh nghiệp nói chung hay lành mạnh hóa vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp nói riêng là cần giảm thiểu và tiến tới xóa bỏ sở hữu chéo (đầu tư chéo) giữa các doanh nghiệp trong cùng Tập đoàn.

4.4. Các điều kiện thực thi các giải pháp tái cấu trúc vốn tại các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam

Ở phần trên đã đề cập đến 4 nhóm giải pháp cơ bản nhằm tái cấu trúc vốn thành công tại Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, đó là các giải pháp, nhóm giải pháp mà các doanh nghiệp cũng như Tập đoàn Dầu khí phải thực hiện, tuy nhiên để thực hiện thành công các giải pháp đó không chỉ phụ thuộc vào bản thân từng doanh nghiệp và Tập đoàn mà còn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố bên ngoài không thuộc quyền kiểm soát của doanh nghiệp đó là các yếu tố, môi trường vĩ mô bên ngoài doanh nghiệp. Do vậy, để có thể thực thi các giải pháp tái cấu trúc vốn tại các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, cần có các điều kiện sau:

4.4.1. Giữ ổn định tăng trưởng kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường tiền tệ, tín dụng

Tăng trưởng kinh tế, lạm phát và lãi suất là các yếu tố vĩ mô có tác động trực tiếp đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp, do vậy quá trình thực hiện tái cấu trúc vốn tại các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam với các giải pháp nêu trên có khả thi hay không phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố vĩ mô đó.

Cân đối giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiềm chế, kiểm soát lạm phát là bài toán điều hành vĩ mô của Nhà nước, trong điều hành cần lưu ý tới gợi ý chính sách Tăng trưởng và Lạm phát đối với Việt Nam như sau: “Về dài hạn, quan điểm tăng trưởng cao lạm phát thấp và đạt cả 2 mục tiêu là đúng đắn, tuy nhiên trong ngắn hạn, nếu bằng mọi giá phải đạt được đồng thời cả 2 mục tiêu trên thì sẽ đi vào


vòng xoáy lạm phát cao, tăng trưởng thấp. Trong điều kiện suy giảm kinh tế, doanh nghiệp tiêu điều, thất nghiệp tăng nên ưu tiên tăng trưởng” 19 - TV. Như vậy, để ổn định kinh tế vĩ mô tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển, trong đó có quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp - tái cấu trúc vốn thành công, cần có sự điều hành kinh tế vĩ mô hợp lý giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát: Trong ngắn hạn sẽ có sự đánh đổi giữa lạm phát và tăng trưởng, muốn cho tăng trưởng đạt tốc độ cao thì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát nhất định, không thể đưa ngay lạm phát xuống mức thấp bằng mọi giá mà phải có chiến lược đồng bộ với quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng; còn trong dài hạn phải hướng tới đạt được mục tiêu tăng trưởng cao, lạm phát thấp (ít nhất là thấp hơn mức tăng trưởng).

Để các doanh nghiệp thực hiện thành công tái cấu trúc vốn, cần thiết phải tạo ra các điều kiện vĩ mô thuận lợi để tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn vay của doanh nghiệp, muốn vậy cần ổn định thị trường tiền tệ, tín dụng, giữ lãi suất cho vay ở mức hợp lý. Trong đó, lãi suất huy động giảm, tính thanh khoản của tổ chức tín dụng được cải thiện là điều kiện tiên quyết để giảm lãi suất cho vay. Mặt bằng lãi suất cho vay giảm 2-5%/năm và giữ ở mức ổn định của giai đoạn 2005-2006 nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường tiền tệ tín dụng. Đồng thời cần áp dụng “chính sách Ngân hàng là bà đỡ cho nền kinh tế, cụ thể: (i) Không khuyến khích lợi nhuận cao và tỷ lệ thuế cao đối với một số hoạt động tín dụng rủi ro cao mà nhà nước cần khuyến khích cho vay; (ii) Giảm chi phí đầu vào của tổ chức tín dụng như chi phí quảng cáo, chi phí tài trợ, chi phí quản lý, để giảm lãi suất đầu ra cho nền kinh tế” 19 - TV.

4.4.2. Hoàn thiện mô hình Tập đoàn kinh tế Nhà nước

Trước tiên cần xác định xây dựng một số Tập đoàn kinh tế Nhà nước mạnh là cần thiết nhằm tạo ra trụ cột cho nền kinh tế nước nhà, nhưng trên thực tế các “Tập đoàn kinh tế nhà nước” hiện nay kể cả Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam còn rất xa với các yêu cầu của một Tập đoàn kinh tế đúng nghĩa trong nền kinh tế thị trường. Trong đó phải kể đến việc các Tập đoàn kinh tế nhà nước đang hoạt động thiếu chặt chẽ về luật pháp và quản lý. Cho đến nay hoạt động của các Tập đoàn kinh tế vẫn trong


giai đoạn “thí điểm” (đến nay đã thành lập thí điểm 12 TĐKTNN, trong đó có 9 Tập đoàn là chuyển từ tổng công ty nhà nước rồi điều chỉnh thành Tập đoàn, có 2 Tập đoàn được tổ chức bằng cách gom các DNNN trong cùng lĩnh vực và ra quyết định thành lập, có 1 Tập đoàn ra đời từ cổ phần hóa các DN và Nhà nước nắm cổ phần chi phối), tuy nhiên, việc thí điểm lại không nêu rõ mục đích, nhiệm vụ và thời gian thí điểm. Như vậy về mặt pháp lý thì “thí điểm” như vậy cũng không rõ ràng, và chính điều kiện pháp lý đó nên các TĐKTNN hoạt động trong bối cảnh thiếu hành lang pháp lý. Ngay vấn đề địa vị pháp lý của các Tập đoàn kinh tế Nhà nước cũng đang rất thiếu minh bạch, thể hiện rõ nét qua vấn đề vốn điều lệ, vốn chủ sở hữu của Tập đoàn kinh tế. Theo Nghị định 153/2004 /NĐ-CP thì Tập đoàn không có tư cách pháp nhân nên đương nhiên không có vốn điều lệ. Trong thực tế, nhiều quyết định thành lập Tập đoàn cũng như điều lệ TĐKTNN của Việt Nam lại ghi rõ vốn điều lệ. Vốn điều lệ phải được gắn với một chủ thể cụ thể, có tư cách pháp nhân vì đó là nền tảng tài chính cơ bản của nó. Các quy định này khiến cho Tập đoàn được nhìn nhận như một tổ chức có tư cách pháp nhân...Một vấn đề nữa là vấn đề hiện nay mặc dù nói Nhà nước là chủ sở hữu cảu các Tập đoàn kinh tế Nhà nước, nhưng đây là một khái niệm rất chung chung và mặc nhiên không có ai là chủ của các Tập đoàn kinh tế Nhà nước.

Do vậy, trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, rất cần thiết phải có một Nghị định của Chính phủ quy định về những điểm đặc thù nhất của Tập đoàn kinh tế (điều này phù hợp với những quy định của Luật doanh nghiệp 2005 giao Chính phủ quy định chi tiết về hoạt động của Tập đoàn). Đồng thời phải hoàn thiện một hành lang pháp lý cho mô hình Tập đoàn kinh tế Nhà nước, bao gồm nhưng không giới hạn hoàn thiện các nội dung sau đây:

- Điều lệ và tổ chức hoạt động, quy chế quản lý tài chính đối với Tập đoàn kinh tế sao cho tăng mạnh quyền chủ động đồng thời tăng trách nhiệm của người đứng đầu về bảo toàn phát triển hiệu quả vốn của doanh nghiệp

- Hoàn thiện các quy chế, quy trình quản trị doanh nghiệp hiện đại, đảm bảo mọi hoạt động của doanh nghiệp được kiểm soát kịp thời, mọi thông tin minh bạch, tin cậy và được xử lý đúng lúc


4.4.3. Hoàn thiện hệ thống pháp luật, hệ thống cơ chế chính sách của Nhà nước

Tái cấu trúc vốn là nội dung quan trọng của tái cấu trúc Tập đoàn kinh tế và phụ thuộc vào sự thành công, chất lượng, lộ trình, tiến độ thực hiện của chính quá trình tái cấu trúc Tập đoàn vì vậy trước tiên cơ chế chính sách Nhà nước phải đảm bảo cho quá trình tái cấu trúc các Tập đoàn kinh tế được diễn ra thuận lợi mà ở đây trước hết phải tập trung vào 2 vấn đề:

- Thoái vốn khỏi các dự án, doanh nghiệp ngoài lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh chính của Tập đoàn

- Thoái vốn, giảm vốn tại các dự án, doanh nghiệp thua lỗ hoặc kém hiệu quả Trong khi đó hệ thống các chính sách tài chính, pháp lý… hiện nay không

cho phép giải quyết các nội dung này vì: phải báo cáo chủ sở hữu (là các bộ chuyên ngành) do vậy xuất hiện lại cơ chế xin – cho, không gắn với thực tiễn, làm chậm trễ thậm trí cản trở quá trình tái cấu trúc các Tập đoàn kinh tế trong đó có nội dung quan trọng là tái cấu trúc vốn.

Do vậy để khắc phục tình trạng trên, tăng quyền tự chủ và tăng trách nhiệm cho các Tập đoàn nhằm đẩy nhanh quá trình tái cấu trúc các Tập đoàn kinh tế nói chung và tái cấu trúc vốn tại các Tập đoàn nói riêng, cần phải thực thi các nội dung sau:

* Tạo cơ chế tự chủ cho Hội đồng thành viên Tập đoàn tự quyết định trên cơ sở đảm bảo 2 nguyên tắc cơ bản là:

- Có thể mất vốn, giảm vốn ở từng dự án, từng doanh nghiệp cụ thể trong Tập đoàn, có thể thực hiện thoái vốn nhưng vẫn bảo toàn vốn chung của toàn Tập đoàn. Chỉ phải thực hiện báo cáo, phê duyệt trong trường hợp bị giảm vốn chung của toàn Tập đoàn.

- Quá trình quản lý, điều hành các doanh nghiệp trong Tập đoàn và toàn Tập đoàn nói chung phải đảm bảo tính công khai, minh bạch.

* Đẩy mạnh kiểm tra, giám sát: cần tăng cường quản lý nhà nước và quản lý của chủ sở hữu, nhất là kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật và nâng cao tính công khai, minh bạch và khả năng quản trị doanh nghiệp; tăng cường kiểm tra, giám


sát tình trạng tài chính của Tập đoàn kinh tế Nhà nước và các doanh nghiệp trong Tập đoàn, bảo đảm kỷ luật tài chính, lành mạnh hóa hệ thống tài chính của Tập đoàn và từng doanh nghiệp.

4.4.4. Lành mạnh hóa và thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính

Thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng là một kênh thực hiện quá trình huy động vốn chủ sở hữu cho doanh nghiệp, đồng thời là kênh để thực hiện thoái vốn Nhà nước theo cơ chế thị trường và hết sức minh bạch. Do vậy, lành mạnh hóa và phát triển thị trường chứng khoán là một điều kiện quan trọng đảm bảo quá trình tái cấu trúc vốn của các doanh nghiệp thành công.

Trong thời gian gần đây, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có những biến động theo chiều hướng tiêu cực, sự suy thoái và thiếu lành mạnh của thị trường chứng khoán là một cản trở rất lớn đối với quá trình tái cấu trúc vốn của các doanh nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam. Cụ thể từ sau giai đoạn cổ phần hóa và thoái vốn Nhà nước mạnh mẽ của một loạt các doanh nghiệp trong những năm 2004 – 2008, từ đó đến nay quá trình này đã chậm lại và có thể nói là bế tắc (ngay cả một doanh nghiệp hàng đầu của Tập đoàn Dầu khí như Tổng công ty Khí Việt Nam thực hiện IPO năm 2010 cũng không thành công với tỷ lệ bán được chưa đến 10%). Do vậy để có một sự phục hồi ổn định thì các cơ quan quản lý cần có nhiều biện pháp cụ thể để định hướng thị trường chứng khoán trở thành một môi trường giao dịch lành mạnh có chất lượng hơn với rổ hàng hóa đa dạng. Cụ thể, để lành mạnh hóa và thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán về vĩ mô cần thực hiện các giải pháp đồng bộ sau:

- Tăng cường giám sát để củng cố tính minh bạch của thị trường

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, các Sở Giao dịch Chứng khoán là đối tượng đầu tiên cần được định hướng hoạt động một cách hiệu quả vì đây là cơ quan quản lý trực tiếp mọi đối tượng trên thị trường chứng khoán. Chất lượng hoạt động của các tổ chức kinh doanh chứng khoán cũng như chất lượng cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết chịu tác động không nhỏ từ sự quản lý của Sở giao dịch. Một vấn đề nổi cộm cần tập trung xử lý nữa chính là sự minh bạch trong công bố thông tin


của các tổ chức niêm yết. Sự chậm trễ, thậm chí che giấu thông tin của các tổ chức niêm yết ảnh hưởng lớn tới quyết định, cũng như niềm tin của nhà đầu tư đối với cổ phiếu được niêm yết. Do vậy, Sở giao dịch chứng khoán, với tư cách là đơn vị quản lý trực tiếp các tổ chức niêm yết cần có biện pháp cũng như chế tài nghiêm ngặt để giám sát và xử lý các sai phạm trong công bố thông tin của các công ty.

- Giám sát năng lực tài chính, đạo đức nghề nghiệp của các công ty chứng khoán - chủ thể tham gia trên thị trường chứng khoán

Hiện nay vấn đề năng lực tài chính và hoạt động của các Công ty chứng khoán tham gia trên thị trường cũng là yếu tố đáng báo động. Do vậy các Công ty chứng khoán cần được theo dõi sát sao và quản lý chặt chẽ. Bước đầu việc yêu cầu các tổ chức kinh doanh chứng khoán cập nhật định kỳ thông tin về tỷ lệ an toàn tài chính theo Thông tư 52 đã phát huy những tác dụng tích cực. Những công ty có tỷ lệ an toàn tài chính thấp được kiểm soát đặc biệt giúp nhà đầu tư hiểu rõ hơn tình trạng của các công ty mà mình chọn để giao dịch. Đây là tiền đề tốt để đưa các tổ chức kinh doanh chứng khoán tới một năng lực tài chính tốt hơn và là chỗ dựa chắc chắn cho các nhà đầu tư. Đồng thời, sự giám sát này sẽ giúp cơ quan quản lý thúc đẩy hợp nhất, sáp nhập hoặc sàng lọc những công ty yếu kém để tăng quy mô hoạt động, giảm số lượng cho phù hợp với nhu cầu của thị trường. Sự sàng lọc này sẽ giúp phát triển các Công ty chứng khoán phát triển ổn định và bền vững theo mô hình kinh doanh đa năng và chuyên doanh, theo hướng chuyên nghiệp hóa, hiện đại hóa từ đó từng bước nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ chứng khoán ra các thị trường khu vực. Việc tăng cường giám sát, thanh tra, quản lý cần được các cơ quan quản lý đẩy mạnh đối với các công ty chứng khoán bởi chất lượng nghiệp vụ không chỉ về mặt kiến thức và kỹ năng mà còn cần phải hoàn thiện đạo đức nghề nghiệp.

- Đa dạng hóa các loại hình nhà đầu tư, cải thiện chất lượng nhà đầu tư

Khơi thông các dòng vốn, có các chính sách để thu hút các nguồn vốn đầu tư đặc biệt là dòng vốn của các nhà đầu tư có tổ chức, nhà đầu tư nước ngoài là một giải pháp mang tính quyết định để phát triển thị trường chứng khoán. Hiện nay, các nhà đầu tư trong nước còn thiếu tổ chức, trong khi nhà đầu tư cá nhân còn thiếu


kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực chứng khoán để có thể tự đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn. Các quỹ đầu tư hoạt động còn thiếu hiệu quả. Do vậy, mục tiêu đa dạng hóa các loại hình nhà đầu tư mang ý nghĩa then chốt trong chiến lược phát triển thị trường chứng khoán. Quỹ bất động sản, quỹ hưu trí tự nguyện, quỹ đầu tư chỉ số là những cầu đầu tư tiềm năng. Tuy nhiên, để tạo điều kiện hình thành và phát triển các tổ chức này, các chế tài, các khuôn khổ pháp lý cần được xây dựng kịp thời.

Bên cạnh đó, việc hoàn thiện một cơ chế cho nhà đầu tư nước ngoài sẽ giúp thị trường chứng khoán Việt Nam thu hút được lượng vốn hoạt cho trung và dài hạn. Cần đơn giản hóa thủ tục đăng ký đầu tư, tạo ưu đãi về thuế và phí để tạo điều kiện và khuyến khích các tổ chức nước ngoài đầu tư vào thị trường. Tuy nhiên cơ quan quản lý cần có một cơ chế giám sát, tăng cường tính minh bạch chế độ báo cáo, thống kê hoạt động lưu chuyển của vốn ngoại. Mặt khác, cần có phương án phản ứng kịp thời khi dòng vốn đảo chiều.

- Đa dạng hóa nguồn cung, chuẩn hóa các quy định để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thể huy động được vốn khi tham gia thị trường chứng khoán

Nhằm tăng cung hàng hóa cho thị trường, cơ quan quản lý cần tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thông qua việc đơn giản hóa thủ tục chào bán chứng khoán, khuyến khích đa dạng hóa sản phẩm chứng khoán được chào bán ra công chúng như trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm mua hay các sản phẩm liên kết đầu tư. Đồng thời, cần nâng cao chất lượng tư vấn cổ phần hóa và minh bạch trong quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước. Như vậy, thị trường chứng khoán mới thực sự đóng vai trò là một kênh huy động vốn hiệu quả.

Bên cạnh đó cũng cần quy định khi cổ phần hóa doanh nghiệp phải là quá trình niêm yết doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán, không để tách rời hoặc có khoảng cách thời gian quá xa giữa thời điểm IPO và thời điểm niêm yết trên thị trường chứng khoán của các doanh nghiệp

Download pdf, tải về file docx

Bài viết tương tự

Gửi tin nhắn

Home | Contact | About | Terms | Privacy policy
© 2022 Tailieuthamkhao.com | all rights reserved

Trang chủ Tài liệu miễn phí Thư viện số