Kim Ngạch Xuất Nhập Khẩu Hàng Hoá Tham Gia Bảo Hiểm Của Việt Nam (2000 - 2003).

hiểm chỉ tăng 20% và giảm 5% với kim ngạch nhập khẩu song nhìn chung kim ngạch xuất nhập khẩu tham gia bảo hiểm tăng khoảng 6%.

Bảng 4: Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá tham gia bảo hiểm của Việt Nam (2000 - 2003).


Năm

Chỉ tiêu

Đơn vị

2000

2001

2002

2003

Kim ngạch xuất khẩu

Tỷ

USD

9,35

11,50

14,30

15,10

Kim ngạch xuất khẩu

bảo hiểm

Tỷ

USD

0,31

0,42

0,75

0,90

Tỷ lệ kim ngạch xuất

khẩu bảo hiểm

%

3,31

3,65

5,24

5,91

Tốc độ tăng kim ngạch

xuất khẩu bảo hiểm

%

30,48

35,48

78,57

20,00

Kim ngạch nhập khẩu

Tỷ

USD

11,40

11,50

15,20

16,00

Kim ngạch nhập khẩu

bảo hiểm

Tỷ

USD

2,28

2,34

5,47

5,20

Tỷ lệ kim ngạch nhập

khẩu bảo hiểm

%

20,00

20,41

36,00

-5,00

Tôc độ tăng kim ngạch

nhập khẩu bảo hiểm

%

20,70

21,63

33,76

32,48

Có thể bạn quan tâm!

Xem toàn bộ 73 trang tài liệu này.

Nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển - 6

(Nguông tổng hợp thông tị thị trường bảo hiểm và tái bảo hiểm số1/2003)

Có thể nói thị trường bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu nước ta đầy tiềm năng. Đúng vậy, thực tế cho thấy, hàng năm các doanh nghiệp bảo hiểm nước ta chỉ bảo hiểm được khoảng 3,2% kim ngạch xuất khẩu và 20% kim ngạch nhập khẩu. Còn lại 96,8%kim ngạch xuất khẩu và 80% kim ngạch nhập khẩu rơi vào tay của các công ty bảo hiểm ở thị trường nước ngoài. Đồng nghĩa với việc này là

hàng năm, hàng triệu USD chẩy ra nước ngoài từ các Công ty xuất nhập khẩu nước ta và Nhà nước ta thất thu một khoản thuế lớn.

Nguyên nhân của tình trạng này là gì?. Theo các chuyên gia, đó là do phương thức phục vụ của các công ty bảo hiểm trong nước chưa theo kịp với cơ chế thị trường của loại hình dịch vụ mang tính Quốc tế này, chưa cải tiến và nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng do đó chưa chiếm được lòng tin của họ. Thiếu phương pháp nghiên cứu thị trường và khách hàng, trình độ khai thác còn hạn chế...... Vì vậy đã bỏ lỡ nhiều cơ hội kinh doanh. Mặt khác, do thói quen từ thời bao cấp, cùng với sự nhận thức chưa đầy đủ, cũng như chưa có cán bộ theo dõi bảo hiểm nên các doanh nghiệp xuất nhập khẩu có thiên hướng nhập CIF, xuất FOB, theo hai cách thức giao hàng này của InCoTerm thì đều gây thiệt hại cho doanh nghiệp bảo hiểm trong nước.

Nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu là nghiệp vụ đem lại nguồn thu khá lớn cho các Công ty bảo hiểm. Vì vậy, hầu hết các Công ty Bảo hiểm thương mại Việt Nam đều triển khai nghiệp vụ này và coi nó là nghiệp vụ truyền thống. Cũng chính điều này, đã khiến cho thị trường Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu Việt Nam càng trở nên sôi động và mang tính cạnh tranh cao.

Việc triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển ở PJICO có những thuận lợi và khó khăn sau:

* Thuận lợi


Thứ nhất: Hiện nay, xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá đang diễn ra một cách mạnh mẽ, Việt Nam đang trong quá trình chuyển mình để hoà nhập vào xu thế chung đó. Việt Nam là thành viên của Hiệp Hội các nước Đông nam á, tham gia vào diễn đàn hợp tác kinh tế châu á thái bình dương, phấn đấu để trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới và gần đây hiệp dịnh thương mại Việt - Mỹ được ký kết... Đây là những nhân tố hết sức thuận lợi cho sự gia tăng kim nghạch xuất nhập khẩu

Thứ hai: Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Cơ cấu hàng nhập chủ yếu là: Máy móc, thiết bị vật tư phục vụ cho sản xuất, linh kiện phụ tùng phục vụ cho việc lắp giáp. Cơ cấu hàng xuất chủ yếu là nông hải sản, nguyên liệu thô. Những mặt hàng này do tính chất của hàng hoá buộc các nhà xuất nhập khẩu phải tham gia bảo hiểm

Thứ ba : Với thế mạnh tài chính của mình có thể tham gia ký kết các hợp đồng với số tiền bảo hiểm lớn phù hợp với khả năng tài chính của mình

Thứ tư: Việt nam với ba mặt tiếp giáp là biển nên việc hàng hoá vận chuyển bằng đường biển rất thuận tiện.Đây là một trong những yếu tố quyết định đẩy mạnh công tác vận chuyển bằng đường biển

Thứ năm: Nước ta đang có nền kinh tế tăng trưởng ổn định và có một nền chính trị ổn định. Đặc biệt là hiện bay khi mà nhà nước đang có những chính sách thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu và mở rộng thị trường vận chuyển hàng hoá bằng đường biển.

* Khó khăn

Thứ nhất: Nghiệp vụ bảo hiểm này có giá trị bảo hiểm rất lớn, trong khi đó năng lực bảo hiểm trong nước còn hạn chế cả về vốn, chuyên môn, năng lực khai thác cũng như đề phòng hạn chế tổn thất. Nên thật sự chưa tạo được niềm tin đối với khách hàng nhất là đối tác nước ngoài.

Thứ hai: Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nước, một mặt thường phụ thuộc vào đối tác nước ngoài trong việc lựa chon điều kiên xuất nhập khẩu, mặt khác do thói quen cũ để lại là xuất CIF, nhập FOB. Do vậy, gây khó khăn rất lớn cho các công ty Bảo hiểm trong nước.

Thứ ba: Thị trường bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu nước ta còn nhỏ bé, có nhiều tiềm năng phát triển, song đã có sự cạnh tranh gay gắt giữa các Công ty Bảo hiểm trong nước để dành khách hàng thông qua tỷ lệ phí chaò hàng làm cho tỷ lệ phí liên tục bị giảm. Sự hạ thấp phí quá mức này một mặt gây ra nguy cơ tiềm tàng về mất khả năng thanh toán cho Công ty bảo hiểm, mặt khác làm cho các công tác như đề phòng hạn chế tổn thất, đánh giá rủi ro,cũng như dịch vụ sau bán

hàng bị coi nhẹ. Việc này dẫn tới giảm hiệu quả kinh doanh và gây ảnh hưởng xấu đên uy tín của các công ty bảo hiểm trong nước.

Thứ tư: Do tình hình cạnh tranh gay gắt giữa các công ty cũng là một khó khăn cho công ty PJICO

2. Thực tế triển khai

Nghệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu được công ty coi đây là nghiệp vụ truyền thống của công ty, doanh thu của hoạt động này thường chiếm khoảng 40% doanh thu chung của toàn công ty. Vì vậy đây được coi là một nghiệp vụ mũi nhọn của Công ty và nó thường được triển khai theo các khâu sau:

- Khâu khai thác

- Khâu giám định, giải quyết bồi thường và khiếu nai đòi bồi thường

- Khâu đề phòng hạn chế tổn thất

- Khâu tái bảo hiểm

Việc triển khai ở PJICO được thực hiện rất tốt qua các khâu và cũng đã đạt được những kết quả rất tốt, cụ thể

2.1. Khâu khai thác

Khâu khai thác là một khâu cực kỳ quan trọng trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm nói chung và bảo hiểm hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển nói riêng, bởi Trong điều kiện một thị trường cạnh tranh với sự có mặt của nhiều công ty bảo hiểm thì việc xây dựng và phát triển một thị trường bảo hiểm hàng hoá XNK ổn định, lâu dài chính là mục tiêu được đặt ra trong hoạt động khai thác của PJICO. Hoạt động khai thác phải có kế hoạch, chiến lược hết sức cụ thể và chặt chẽ. Nó phải dựa trên cơ sở các số liệu, chỉ tiêu về liên ngạch XNK của các mặt hàng cũng như kế hoạch XNK của từng đơn vị kinh doanh XNK hàng hoá. Đối với khách hàng cũ, công ty luôn phải đảm bảo giữ uy tín, thuyết phục tiếp tục hợp đồng, hướng dẫn mua bảo hiểm đúng thời hạn. Các khách hàng cũ mà ít có xảy ra rủi ro tổn thất, có các biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất tốt thì PJICO có thể giảm tỷ lệ phí cho họ nhằm thiết lập mối quan hệ lâu dài. Đối với khách hàng tiềm

năng, PJICO sẽ có các phương pháp chào phí riêng dưới nhiều hình thức nhằm khuyến khích, thu hút họ tham gia bảo hiểm tại công ty. Ngoài ra khâu chăm sóc phục vụ khách hàng cũng không ngừng được nâng cao.

Quá trình khai thác bảo hiểm ở PJICO được triển khai theo một quy trình khai thác bảo hiểm XNK của PJICO-ban hành kèm theo quyết định của Tổng giám đốc PJICO số 115/bh-HH /95 ngày 15/7/1995( như đã trình bày ở phần IV chương I)Việc khai thác bảo hiểm ở công ty PJICO chủ yếu là dựa vào mối quan hệ của các cổ đông trong công ty, bởi các cổ đong trong công ty toàn là các cổ đông lớn như Tổng công ty xăng dầu việt nam, Tổng công ty thép việt nam, Vietcombank….cho lên ngay từ những năm đầu hoạt động, nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển đã chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu hoạt động kinh doanh của PJICO. Từ đó tới nay nghiệp vụ này không ngừng tăng trưởng và phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, doanh thu phí trung bình chiếm từ 15-20% tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn công ty và chiếm 2% tổng doanh thu phí thị trường bảo hiểm hàng hải. Điều đó được thể hiện ở bảng sau


Bảng 5: Tình hình khai thác bảo hiểm ở PJICO


STT

Chỉ tiêu

Đơn vị

2000

2001

2002

2003

2004

1

Số đơn

cấp

Đơn

2.896

3.27

3.599

4.056

4.25


2

Doanh thu phí bảo hiểm hàng hoá XK


1000Đ


19.266.890


24.481.572


27.759.162


35.000.000


40.000.000


3

Doanh thu phí bảo hiểm hàng hoá NK


1000Đ


1.926.548


2.369.790


2.719.371


3.246.540


4.000.000


4

Tổng doanh thu phí bảo hiểm


1000Đ


21.193.438


26.851.362


30.478.533


38.246.540


44.000.000

Từ bảng số liệu ta có nhận xét rằng hoạt động khai thác bảo hiểm hàng hoáXNK vận chuyển bằng đường biển ở PJICO đạt kết quả khá cao. Trước hếtF là số đơn bảo hiểm cấp hàng năm tăng, nếu như năm 2000 số hợp đồng khai thác được 2896 đơn cấp thì đến năm 2004 con số này đạt tới 4250 đơn và gấp 1,5 lần. Cùng với số đơn bảo hiểm tăng dần qua các năm thì tổng doanh thu phí bảo hiểm cũng tăng rất nhanh qua các năm từ năm 2000 đến năm 2004. Doanh thu phí tăng từ 21193.438(1000đ) lên 44.000.000(1000đ), tăng 22.806.562 (1000đ), tương

đương với 106,7%. Chỉ trong vòng hai năm từ năm 2003 đến năm 2004 tổng

doanh thu tăng 5.753.460 (1000đ), tăng 15,4% trong đó hàng xuất khẩu tăng

5.000.000 (1000đ), tăng 86,9% còn hàng nhập tăng 753460( 1000đ) tăng 13,1%. Cùng với việc tăng doanh thu thì số tiền bảo hiểm bình quân mỗi một đơn bảo hiểm cũng tăng, năm 2000 số tiền bình quân là 7.318.000đ nhưng đến năm 2004 thì số tiền này là 10352940đ. Điều này chứng tỏ PJICO ngày càng thu hút được nhiều hợp đồng bảo hiểm có giá trị cao của các khách hàng Bên cạnh những thành tựu đạt được, PJICO còn tồn tại rất nhiều khó khăn và hạn chế trong chiến lược khai thác của mình. Trước tiên ta có thể thấy kim ngạch xuất nhập khẩu của nước ta đang tăng dần qua các năm song tỷ lệ kim ngạch hàng hoá XNK tham gia bảo hiểm hàng hoá lại rất thấp. Điều này không chỉ của riêng PJICO mà còn là vấn đề chung của toàn thị trường bảo hiểm. Ngoài số lượng khách hàng cổ đông, PJICO chưa thực sự hấp dẫn đối với các doanh nghiệp đơn vị kinh doanh XNK có vốn đầu tư nước ngoài vì vậy họ chủ yếu tham gia bảo hiểm ở các công ty nước ngoài có uy tín. Sự phối hợp của PJICO và các công ty bảo hiểm khác để khai thác mở rộng thị trường thu hút khách còn nhiều hạn chế.

Những khó khăn tồn tại trên ở PJICO một phần cũng là khó khăn của toàn bộ thị trường bảo hiểm, do vị thế nền kinh tế nước ta chưa cao nên trong quan hệ ngoại thương ta thường phải chịu sức ép của đối tác nước ngoài trong việc dành quyền mua bảo hiểm cho các công ty bảo hiểm nước ngoài lớn. Mặt khác do trình độ nghiệp vụ của các khai thác viên bảo hiểm chưa đáp ứng đòi hỏi thực tế về bảo hiểm của khách hàng trong nền kinh doanh tế đang phát triển. Công tác thống kê nghiệp vụ, quản lý và đánh giá rủi ro, xác định tỷ lệ phí, điều kiện, điều khoản áp dụng còn nhiều hạn chế làm cản trở đến khâu khai thác. Do vậy trong thời gian tới không chỉ riêng PJICO mà toàn ngành bảo hiểm nước ta cần phải đưa ra các biện pháp chiến lược khai thác phù hợp mới mẻ và thực hiện một cách tích cực, triệt để nhằm đạt được kết quả cao hơn.

2.2. Giám định, giải quyết bồi thường và khiếu nại đòi bồi thường.


2.2.1. Giám định hàng hoá

Bên cạnh những thành tựu đạt được, PJICO còn tồn tại rất nhiều khó khăn và hạn chế trong chiến lược khai thác của mình. Trước tiên ta có thể thấy kim ngạch xuất nhập khẩu của nước ta đang tăng dần qua các năm song tỷ lệ kim ngạch hàng hoá XNK tham gia bảo hiểm hàng hoá lại rất thấp. Điều này không chỉ của riêng PJICO mà còn là vấn đề chung của toàn thị trường bảo hiểm. Ngoài số lượng khách hàng cổ đông, PJICO chưa thực sự hấp dẫn đối với các doanh nghiệp đơn vị kinh doanh XNK có vốn đầu tư nước ngoài vì vậy họ chủ yếu tham gia bảo hiểm ở các công ty nước ngoài có uy tín. Sự phối hợp của PJICO và các công ty bảo hiểm khác để khai thác mở rộng thị trường thu hút khách còn nhiều hạn chế.

Những khó khăn tồn tại trên ở PJICO một phần cũng là khó khăn của toàn bộ thị trường bảo hiểm, do vị thế nền kinh tế nước ta chưa cao nên trong quan hệ ngoại thương ta thường phải chịu sức ép của đối tác nước ngoài trong việc dành quyền mua bảo hiểm cho các công ty bảo hiểm nước ngoài lớn. Mặt khác do trình độ nghiệp vụ của các khai thác viên bảo hiểm chưa đáp ứng đòi hỏi thực tế về bảo hiểm của khách hàng trong nền kinh doanh tế đang phát triển. Công tác thống kê nghiệp vụ, quản lý và đánh giá rủi ro, xác định tỷ lệ phí, điều kiện, điều khoản áp dụng còn nhiều hạn chế làm cản trở đến khâu khai thác. Do vậy trong thời gian tới không chỉ riêng PJICO mà toàn ngành bảo hiểm nước ta cần phải đưa ra các biện pháp chiến lược khai thác phù hợp mới mẻ và thực hiện một cách tích cực, triệt để nhằm đạt được kết quả cao hơn.

Công tác chuẩn bị hiện trường:

+Thời gian và địa điểm yêu cầu giám định

+Sự có mặt của các bên liên quan

Tuỳ từng cảng mà công ty sẽ có những quy định cụ thể để làm việc thuận lợi đối với đại diện người được bảo hiểm và phải tuân theo những quy tắc sau:

+Chỉ giám định trường hợp những tổn thất xảy ra thuộc phạm vi bảo hiểm và trong khi hợp đồng bảo hiểm đang còn hiệu lực.

Xem tất cả 73 trang.

Ngày đăng: 04/07/2023
Trang chủ Tài liệu miễn phí