Giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định cho vay dự án đầu tư tại ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam - 5

Thời gian thẩm định là một trong các chỉ tiêu quan trọng đánh giá mức độ hoàn thiện công tác cho vay DAĐT tại NHTM. Nhìn chung, việc hoàn thiện công tác cho vay DAĐT tại NHTM luôn hướng tới mục tiêu rút ngắn thời gian thẩm định để đạt được những hiệu quả sau:

- Giảm chi phí thẩm định. Nếu thời gian thẩm định giảm thì một cán bộ sẽ

thẩm định được nhiều dự án hơn, chi phí thẩm định sẽ giảm.


- Tăng doanh số cho vay. Thời gian thẩm định ngắn thì sẽ tăng được khối lượng giải ngân trong kỳ.

- Sớm có kết luận thẩm định.Trong trường hợp dự án được chấp thuận cho vay, thời gian thẩm định ngắn sẽ giúp dự án sớm được tài trợ vốn, giảm thời gian thi công, sớm đi vào hoạt động, tiết kiệm chi phí vốn cho chủ đầu tư. Trong trường hợp dự án bị từ chối cho vay, thời gian thẩm định giảm sẽ giúp khách hàng sớm có phương án điều chỉnh hoặc sớm tìm nguồn tài trợ khác.

Thời gian thẩm định ngắn nhưng vẫn phải đảm bảo tính chính xác về quá trình tác nghiệp và kết luận cho vay. Các NHTM thường tổ chức quy trình kiểm tra, kiểm soát cho vay rất chặt chẽ, việc thẩm định cho vay đã trải qua nhiều khâu kiểm soát nên việc giảm thời gian thẩm định ở khâu tác nghiệp sẽ giảm được thời gian đưa ra quyết định mà vẫn đảm bảo các khâu kiểm soát đã được thực thi. Do đó, chỉ tiêu này càng thấp, càng phản ánh tích cực về mức độ hoàn thiện công tác thẩm định cho vay dự án đầu tư.

b. Tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn đối với cho vay DAĐT

Tính hoàn thiện của mọi công tác, quy trình, nghiệp vụ đều thể hiện ở kết quả cuối cùng. Với công tác thẩm định cho vay DAĐT, kết quả cuối cùng chính là chất lượng tín dụng cho vay DAĐT. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, nguyên nhân chất lượng tín dụng cho vay DAĐT thấp chủ yếu do khâu thẩm định chưa hoàn thiện. Theo TS. Trần Thị Mai Hương (2007), thẩm định dự án là khâu quan trọng nhất, giúp lựa chọn các dự án tốt để đầu tư hoặc tham gia tài trợ vốn, quyết định trực tiếp đến giá trị tài sản là khoản đầu tư/cho vay trong tương lai [20].

Theo tác giả Lưu Thị Hương (2004), có nhiều nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ nợ xấu tăng cao như: biến động kinh tế, doanh nghiệp gặp rủi ro trong hoạt động, thanh toán, bị các đối tác chiếm dụng vốn .v.v. nhưng nguyên nhân xâu xa là do khâu thẩm định, xét duyệt cho vay của NHTM đã không đo lường được rủi ro [19].

Có thể bạn quan tâm!

Xem toàn bộ 130 trang: Giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định cho vay dự án đầu tư tại ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam

Nếu công tác thẩm định được thực hiện tốt, tỷ lệ các khoản cho vay DAĐT bị chuyển nợ xấu, nợ quá hạn trong thời hạn vay phải ở mức thấp. Ngược lại, nếu tỷ lệ này ở mức cao thì công tác thẩm định cho vay DAĐT cần phải được rà soát và hoàn thiện hơn. Do đó, chỉ tiêu này càng thấp, càng phản ánh tích cực về mức độ hoàn thiện công tác thẩm định cho vay dự án đầu tư.

Công thức xác định:

Giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định cho vay dự án đầu tư tại ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam - 5

Tỷ lệ nợ xấu = Dư nợ nhóm 3, 4, 5

Tổng dư nợ


Tỷ lệ nợ quá hạn = Dư nợ quá hạn

Tổng dư nợ

1.2.2.2. Các chỉ tiêu định tính

a. Tính hoàn thiện của phương pháp thẩm định cho vay dự án đầu tư

Phương pháp thẩm định là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến tính hoàn thiện của công tác thẩm định cho vay dự án đầu tư. Có nhiều phương pháp thẩm định, tuy nhiên, ngân hàng cần lựa chọn được phương pháp và các chỉ tiêu phù hợp với nguồn thông tin sẵn có để thẩm định cho vay dự án đầu tư có hiệu quả cao nhất. Lựa chọn đúng đắn phương pháp thẩm định sẽ giúp cán bộ thẩm định tiết kiệm được thời gian và công sức, NHTM tiết kiệm được chi phí thẩm định. Để đánh giá chỉ tiêu này cần phải nghiên cứu các phương pháp thẩm định mà NHTM đang áp dụng có đáp ứng được những tiêu chí sau hay không:

- Phương pháp là nền tảng để xây dựng quy trình thẩm định, do đó phương pháp thẩm định cần có cơ sở khoa học, phải là kế thừa của các công trình nghiên cứu đã được công nhận. Nếu NHTM tự phát triển phương pháp thẩm định riêng cho mình thì phương pháp đó cần phải được kiểm chứng hoặc đã trải qua thời gian vận dụng, có kết quả tốt.

- Phương pháp thẩm định phải có tính đầy đủ, đảm bảo vận dụng được

trong các tình huống thực tiễn.


- Phương pháp thẩm định phải luôn được cập nhật một cách chủ động, khi có những nghiên cứu mới hiệu quả và hiện đại hơn, tránh cập nhật theo hướng thụ động, nghĩa là chỉ khi nảy sinh những yếu kém khi xử lý tình huống thực tiễn mới cập nhật.

b. Tính hoàn thiện của nội dung thẩm định cho vay dự án đầu tư

Nội dung thẩm định cho vay DAĐT tại NHTM biểu hiện theo một quy trình thống nhất với các bước tác nghiệp cụ thể. Nội dung thẩm định thường do bộ phận quản lý tín dụng của NHTM xây dựng dựa trên các phương pháp thẩm định khoa học, được hoàn thiện qua thời gian và đúc kết từ thực tiễn áp dụng. Nội dung thẩm định là cấu phần phức tạp nhất của công tác thẩm định cho vay dự án đầu tư, có thể nói NHTM gần như không thể có được nội dung thẩm định dự án hoàn thiện tại mọi thời điểm mà nội dung thẩm định cần phải luôn luôn cập nhật, cải tiến để phù hợp với yêu cầu tác nghiệp ngày càng phức tạp của NHTM. Việc hoàn thiện nội dung thẩm định cho vay dự án luôn hướng đến mục tiêu sau cùng đó là phòng ngừa được rủi ro tín dụng. Do đó, nội dung thẩm định cho vay DAĐT cần phải đầy đủ, bao quát các thành phần của dự án đầu tư như: Hồ sơ vay vốn, khách hàng vay vốn, các thông số hoạt động của dự án đầu tư:

Tổng mức đầu tư

Nguồn tài trợ

Doanh thu, chi phí

Dòng tiền và khả năng trả nợ

Lãi suất chiết khấu

Hiệu quả tài chính

Rủi ro

1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoàn thiện công tác thẩm định cho vay dự án đầu tư tại Ngân hàng thương mại

Công tác thẩm định cho vay dự án đầu tư của NHTM phụ thuộc rất nhiều nhân tố ảnh hưởng khác nhau, muốn công tác thẩm định cho vay dự án được hoàn thiện, các NHTM phải xem xét kỹ từng nhân tố. Thông thường việc hoàn thiện công tác thẩm định cho vay dự án chịu sự tác động của một số nhân tố sau:

1.2.3.1. Các nhân tố chủ quan

a. Phương pháp và các tiêu chuẩn thẩm định

Phương pháp thẩm định là một yếu tố có ảnh hưởng lớn đến hoàn thiện thẩm định cho vay dự án đầu tư tại NHTM. Mỗi dự án có một đặc trưng nhất định, không phải bất cứ dự án nào cũng cần phải tận dụng và tính toán tất cả các chỉ tiêu trong hệ thống thẩm định. Việc sử dụng phương pháp nào, chỉ tiêu nào tuỳ thuộc vào quyết định riêng của mỗi NHTM. Với mỗi dự án, phương pháp tốt nhất là phương pháp phù hợp nhất nhưng chưa chắc chắn rằng phương pháp ấy là hiện đại nhất. Nhưng trong giai đoạn hiện nay, những phương pháp thẩm định cho vay dự án đầu tư hiện đại đã giúp cho việc phân tích, đánh giá dự án được toàn diện, chính xác và hiệu quả cao hơn.

Khi dùng một phương pháp, một chỉ tiêu để thẩm định, cán bộ thẩm định phải hiểu rõ phương pháp ấy có ưu điểm, nhược điểm gì, có phù hợp để thẩm định cho vay dự án đầu tư hay không. Ví dụ như dùng chỉ tiêu thời gian hoàn vốn (PP) để thẩm định cho vay dự án đầu tư, phương pháp này không quan tâm đến dòng tiền sau năm thu hồi vốn, do đó không lường trước được những rủi ro trong tương lai ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của dự án như thế nào? Do vậy, nó thích hợp với những dự án nhỏ, hao mòn nhanh, phải thu hồi vốn nhanh. Cán bộ thẩm định phải nắm chắc được những nhược điểm ấy của chỉ tiêu để thẩm định đối với những dự án phù hợp với nó. Rõ ràng ở đây, nếu ngân hàng áp dụng chỉ tiêu thời gian hoàn vốn cho các dự án có thời gian dài, quy mô lớn thì không hiệu quả.

Hiện nay, hầu hết các NHTM thường sử dụng một hệ thống chỉ tiêu tài chính của dự án như: Thời hạn thu hồi vốn, cơ cấu vốn, doanh lợi tài sản, doanh lợi vốn tự có, khả năng thanh toán... để phân tích dự án đầu tư, nhưng các chỉ tiêu này căn cứ vào chuẩn mực nào để đánh giá, so sánh. Hiện nay chưa có một hệ thống mang tính chất chuẩn mực thống nhất nào để làm cơ sở thẩm định các

dự án, do vậy, công tác thẩm định hiện nay hoàn toàn phụ thuộc vào kiến thức

và cách đánh giá chủ quan của ngườì thẩm định.

b. Cách tính lãi suất chiết khấu

Lãi suất chiết khấu là yếu tố quan trọng trong thẩm định tài chính dự án đầu tư. Việc thay đổi lãi suất có ảnh hưởng lớn đến giá trị hiện tại của các khoản thu nhập và chi phí. Nếu lãi suất này quá thấp sẽ khuyến khích đầu tư vào các dự án kém hiệu quả, nếu nó quá cao thì sẽ hạn chế đầu tư. Hiện nay, nhìn chung chưa có quy định thống nhất nào về tỷ lệ này đối với từng ngành nghề cụ thể cũng như không có một cách chuẩn mực nào để xác định lãi suất chiết khấu dẫn đến không có sự thống nhất về cách tính các tỷ lệ chiết khấu để tính toán dòng tiền dự án tại các NHTM mà chủ yếu dựa vào đánh giá chủ quan của cán bộ thẩm định. Do đó, việc đánh giá, so sánh kết quả thẩm định dự án giữa các NHTM, thậm chí trong cùng hệ thống NHTM thường gặp khó khăn.

c. Kiến thức chuyên môn, năng lực thẩm định, phẩm chất đạo đức của cán bộ thẩm định

Trong quá trình thẩm định dự án nói chung và thẩm định cho vay dự án dự án đầu tư nói riêng, cán bộ thẩm định luôn đóng vai trò quan trọng. Họ chính là những người trực tiếp tiến hành hoạt động thẩm định cho vay dự án đầu tư. Thẩm định cho vay dự án đầu tư không phải là nghiệp vụ đơn giản, đòi hỏi cán bộ thẩm định không những phải có kiến thức sâu về nghiệp vụ, am hiểu các lĩnh vực cho vay, đầu tư của ngân hàng mà hiểu biết các vấn đề liên quan như thuế, môi trường, thị trường, khoa học công nghệ… Do vậy, mức độ hoàn thiện công tác thẩm định cho vay dự án đầu tư phụ thuộc vào chất lượng của nhân tố con người. Sự hiểu biết toàn bộ những kiến thức khoa học, kinh tế, xã hội mà người thẩm định có được thông qua đào tạo hay tự bồi dưỡng kiến thức mà có. Kinh nghiệm, kỹ năng là những gì tích luỹ thông qua hoạt động thực tiễn, năng lực là khả năng nắm bắt, xử lý công việc trên cơ sở các tri thức kiến thức đã được tích luỹ. Tính kỷ luật cao, phẩm chất đạo đức tốt là điều kiện để đảm bảo cho chất lượng thẩm định. Ngược lại, người thẩm định không có kỷ luật, đạo đức không tốt sẽ phá hỏng mọi việc, không đánh giá đúng tính khả thi của dự án.

Để hoàn thiện thẩm định cho vay dự án đầu tư, yêu cầu quan trọng đầu tiên đối với các cán bộ thẩm định là phải nắm vững chuyên môn nghề nghiệp. Phải nắm vững văn bản pháp luật, chế độ chính sách của Nhà nước đối với các lĩnh vực: doanh nghiệp, xây dựng cơ bản, tài chính kế toán...

Như vậy, cán bộ thẩm định là một trong những nhân tố quyết định mức độ hoàn thiện công tác thẩm định cho vay dự án đầu tư. Do vậy, muốn hoàn thiện công tác thẩm định cho vay dự án đầu tư, trước hết bản thân trình độ kiến thức, năng lực đạo đức của các cán bộ thẩm định phải được nâng cao.

d. Cơ cấu tổ chức, điều hành của NHTM

Thẩm định cho vay dự án đầu tư bao gồm nhiều hoạt động liên quan chặt chẽ với nhau, kết quả của nó phụ thuộc nhiều vào việc tổ chức, điều hành, sự phối hợp các bộ phận trong quá trình thẩm định. Việc phân công tổ chức một cách hợp lý các bộ phận trong quá trình thẩm định sẽ tránh được sự chồng chéo, phát huy được những mặt mạnh, hạn chế được những mặt yếu của mỗi cá nhân trên cơ sở đó giảm bớt chi phí cũng như thời gian thẩm định. Vì vậy, cơ cấu tổ chức điều hành chung cũng như cơ cấu tổ chức điều hành công tác thẩm định cho vay dự án đầu tư tại NHTM là một trong các nhân tố ảnh hưởng lớn đến mức độ hoàn thiện của công tác này.

e. Trang thiết bị công nghệ

Hiện nay, khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại đã ứng dụng vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đặc biệt là công nghệ thông tin đã được ứng dụng trong ngành ngân hàng làm tăng khả năng thu nhập, xử lý và lưu trữ thông tin một cách hiệu quả hơn. Trên cơ sở đó cung cấp thông tin cho việc thẩm định cho vay dự án đầu tư một cách có hiệu quả hơn. Hiện nay có rất nhiều phần mềm chuyên dùng cho doanh nghiệp nói chung và cho công tác thẩm định nói riêng được thuận tiện hơn. Các cán bộ có thể truy cập và xử lý một lượng thông tin lớn mà vẫn tiết kiệm được thời gian, các chỉ tiêu cần tính toán đã được cài đặt, chỉ cần nạp số liệu và máy sẽ cho các chỉ tiêu như: NPV, IRR, PI....Nhưng nếu máy hoặc các chương trình có sự cố thì sẽ cho kết quả thẩm định không chính xác, đòi hỏi các cán bộ phải xem xét lại các kết quả thẩm định để cho một kết luận chính xác. Trang thiết bị công nghệ hiện đại sẽ làm giảm thời gian và

yêu cầu về nhân lực đối với công tác thẩm định cho vay dự án đầu tư, do đó, đây là một nhân tố quan trọng, ảnh hưởng đến mức độ hoàn thiện công tác thẩm định cho vay dự án đầu tư tại NHTM.

1.2.3.2. Các nhân tố khách quan

a. Tính bất định của dự án đầu tư

Sự bất định trong tương lai ảnh hưởng lớn đến tính chính xác của thẩm định cho vay dự án đầu tư, đặc biệt là khâu thẩm định tài chính dự án. Một dự án là tập hợp các dự kiến và quy mô vốn, chi phí, giá cả, thời gian vận hành của dự án trong tương lai. Yếu tố bất định trong tương lai làm cho việc dự đoán các yếu tố trên của ngân hàng không được chính xác, do vậy, các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án cũng không được chính xác, công tác thẩm định sẽ kém hiệu quả.

b. Lạm phát

Lạm phát là yếu tố bất định có ảnh hưởng lớn tới công tác thẩm định cho vay DAĐT. Lạm phát gây nên sự thay đổi về giá cả theo thời gian, do vậy nó làm biến đổi dòng tiền kỳ vọng và tỷ lệ chiết khấu khi thẩm định dự án đầu tư. Mức lạm phát không thể dự đoán một cách chính xác vì nó phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân: quy luật cung cầu, tâm lý người tiêu dùng, sức mạnh của nền kinh tế... Các biến số tài chính trong dự án, các yếu tố đầu vào của các chỉ tiêu như NPV, IRR... đều chịu tác động của lạm phát. Do vậy, để đánh giá hiệu quả của một dự án nào đó cần phải xác định một cách chính xác, hợp lý giá cả của các yếu tố trong chi phí hay doanh thu của dự án. Nếu giá được cung cấp trong dự án là giá cố định, không thay đổi theo thời gian, và nếu nó được áp dụng trong suốt thời gian hoạt động của dự án thì một mặt người lập dự án đã đơn giản hoá việc xây dựng các bảng tóm tắt tài chính của dự án, mặt khác nó lại loại ra khỏi dự án sự phân tích các thông tin kinh tế, tài chính có thể ảnh hưởng đến kết quả dự án. Nếu giá của các yếu tố đầu vào, đầu ra của dự án được điều chỉnh trong suốt thời gian hoạt động của dự án theo một xu hướng mà cán bộ thẩm định giả định cho các thời kỳ tương lai thì đó là giá thực. Đó là giá có thể có trong tương lai, được dự đoán dựa trên mức cung cầu hàng hoá hay sản phẩm của dự án trong một khoảng thời gian với các nguồn cung cấp sẵn có và các yếu tố bên

ngoài khác có thể tác động đến chi phí sản xuất. Sử dụng giá này giúp cho việc xây dựng, tính toán các biến số khi thẩm định dự án sẽ đáng tin cậy hơn, chính xác hơn, giúp cho công tác thẩm định có hiệu quả hơn.

Việc tính đến yếu tố lạm phát sẽ làm cho quá trình thực hiện dự án dễ dàng hơn, hiệu quả thẩm định cao hơn. Thật vậy, khi ước tính tổng số vốn tài trợ cho một dự án đầu tư, giả sử đã loại bỏ những khoản chi phí vượt quá gây nên cho việc ước tính sai số lượng nguyên vật liệu cần thiết thì khoản chi phí gia tăng thêm nữa có thể là do lạm phát mặt bằng giá chung. Nếu dự án cần một khoản vốn vay để bổ sung vào nguồn vốn đầu tư trong tương lai thì lượng vốn ấy chịu tác động của giá cả xảy ra từ khi bắt đầu, từ lúc nhận vốn đến lúc hoàn trả vốn và lãi. Nếu nó không được dự kiến trong giai đoạn thẩm định thì dự án có thể sẽ gặp khó khăn về tính thanh khoản hay khả năng thanh toán nợ do tài trợ không đầy đủ.

Lạm phát còn ảnh hưởng đến lãi suất danh nghĩa. Các bên tài trợ cho dự án sẽ tăng lãi suất danh nghĩa đối với các khoản vốn họ cho vay để bù đắp mất mát do lạm phát gây nên. Lạm phát làm giảm giá trị tương lai của các khoản tiền vay và các khoản thanh toán lãi suất cố định, nó sẽ ảnh hưởng đến chi phí xuất quỹ trong những năm đầu của dự án làm nó tăng cao lên, nó đặt ra vấn đề thanh toán đối với chủ đầu tư.

c. Chất lượng thông tin đầu vào

Thông tin là cơ sở cho phân tích đánh giá, là nguyên liệu cho quá trình tác nghiệp của cán bộ thẩm định. Muốn có một kết quả thẩm định chính xác cao độ thì phải có được các thông tin, số liệu đầy đủ, chính xác trên nhiều góc độ khác nhau. Để có được nguồn thông tin cần thiết cho dự án. NHTM cần dựa vào các thông tin từ nhiều nguồn khác nhau liên quan đến vấn đề cần đánh giá và tiến hành sắp xếp thông tin, sử dụng các phương pháp xử lý thông tin một cách thích hợp theo nội dung của quy trình thẩm định.

Như vậy, việc thiết lập hệ thống thông tin đầy đủ chính xác luôn được đặt ra như một nhu cầu cấp thiết đối với công tác thẩm định, thiết lập được một hệ thống thông tin như vậy sẽ trợ giúp hiệu quả cho NHTM trong công tác thẩm định cho vay DAĐT.

Ngoài ra, còn một số nhân tố khách quan tác động đến công tác thẩm định cho vay dự án đầu tư tại NHTM như: cơ chế, chính sách pháp luật của Nhà nước, trình độ lập dự án của chủ đầu tư, các rủi ro bất khả kháng như: Thiên tai, chiến tranh, môi trường kinh tế vĩ mô...

d. Hành lang pháp lý, cơ chế chính sách nhà nước

Đây là những nhân tố thuộc về môi trường kinh tế, pháp luật, xã hội, tự nhiên… Những nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến hoàn thiện công tác thẩm định cho vay dự án và chỉ có thể khắc phục được một phần.

Hành lang pháp lý, cơ chế chính sách của Nhà nước, nhân tố này đóng vai trò là khuôn khổ định hướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế, trong đó có các các tổ chức tín dụng phục vụ mục tiêu chung của xã hội. Những khuyết điểm trong tính hợp lý, tính đồng bộ hay tính tiêu cực của các văn bản pháp lý, chính sách quản lý của Nhà nước đều có thể gây khó khăn, tăng rủi ro đối với kết quả hoạt động của dự án cũng như với hoạt động thẩm định của các tổ chức tín dụng.

Với các dự án đầu tư trong và ngoài nước liên quan đến nhiều chính sách mà các chính sách này chưa được hoàn thiện đầy đủ, ổn định, thường thay đổi liên tục dẫn đến tâm lý không an tâm, tin tưởng của các nhà đầu tư.

Hệ thống văn bản pháp luật chưa đầy đủ còn khá nhiều kẽ hở và bất cập làm phát sinh những rủi ro và hạn chế nguồn thông tin chính xác đến các tổ chức tín dụng.

1.3. KINH NGHIỆM HOÀN THIỆN THẨM ĐỊNH CHO VAY DỰ ÁN ĐẦU TƯ Ở

MỘT SỐ NƯỚC

1.3.1. Kinh nghiệm của Ngân hàng Thế giới

Ngân hàng thế giới (WB) là tổ chức tài chính quốc tế, được thành lập với mục đích cung cấp tín dụng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế cho các quốc gia đang phát triển. WB thường xuyên có những chương trình hỗ trợ các quốc gia đang phát triển trên nhiều lĩnh vực, trong đó có thẩm định và quản lý dự án. Do đó, WB có rất nhiều kinh nghiệm về thẩm định dự án đầu tư.

Qua nghiên cứu, NCS thấy rõ kinh nghiệm của WB về thẩm định dự án đầu tư trên từng phương diện như sau:

a) Về khái niệm thẩm định

WB định nghĩa thẩm định DAĐT là sự kiểm tra toàn diện đối với tất cả các vấn đề của DAĐT để đảm bảo tính đúng đắn của quyết định tài trợ, đặt cơ sở cho việc đánh giá dự án trong các giai đoạn sau.

Thẩm định được xác định là một trong năm giai đoạn chủ yếu cấu thành chu trình dự án (bao gồm: giai đoạn xác định dự án, giai đoạn chuẩn bị dự án, giai đoạn đàm phán, phê duyệt dự án và giai đoạn thực hiện dự án). Đây là giai đoạn cuối cùng trước khi đi đến quyết định có tài trợ cho dự án hay không. Trên danh nghĩa, giai đoạn thẩm định được bắt đầu sau khi kết thúc Giai đoạn chuẩn bị nhưng trên thực tế, những hoạt động phục vụ cho việc thẩm định đã được thực hiện sớm hơn nhiều.

Một số hoạt động liên quan đến thẩm định còn được bắt đầu sớm hơn nữa,

ngay từ giai đoạn xác định dự án như:


- Soạn thảo Văn bản kế hoạch dự án (PCD)

- Chuẩn bị Văn bản thông tin dự án (PID)

- Soạn thảo Văn bản kế hoạch dự án (PPP)

- Chuẩn bị triển khai hoạt động của các Đoàn xác định dự án (các đoàn này thường quan tâm xem xét mục tiêu, tính ưu tiên của dự án, các vấn đề xã hội và môi trường, các rủi ro về kinh tế và chính trị của dự án...).

b) Về mục đích, yêu cầu thẩm định cho vay dự án đầu tư

WB xác định mục đích của thẩm định cho vay DAĐT như sau:


- Điều tra và phản biện tính chuẩn xác của các mục tiêu của DAĐT;

- Điều tra và phản biện khả năng đạt được mục tiêu trên cơ sơ các giải

pháp và các nguồn lực mà dự án đã tiên liệu;


- Nghiên cứu bổ sung các điều kiện để đảm bảo tính khả thi của dự án.

WB cũng xác định rõ các yêu cầu phải đạt được của thẩm định cho vay DAĐT, bao gồm:

- Luôn biện luận những cơ sở vững chắc cho việc quyết định có cho vay dự án hay không;

- Đảm bảo rằng các bộ phận cấu thành của dự án, các mục tiêu trung gian, các yếu tố đầu ra đầu vào phải phù hợp mục tiêu cuối cùng của dự án;

- Luôn yêu cầu đánh giá, làm rõ các tác động của dự án đến môi trường, xã hội. Bên cạnh hiệu quả tài chính của dự án, việc tính toán hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội là bắt buộc;

- Tạo tiền đề thuận lợi cho việc lập kế hoạch thực hiện và kế hoạch giám

sát dự án; Tạo điều kiện thuận lợi cho việc theo dõi đánh giá dự án;


- Khi thẩm định, luôn có sự mềm dẻo cần thiết có thể chấp nhận những thay đổi không lường trước được.

c) Về đối tượng thẩm định

Theo quan điểm của WB, đối tượng thẩm định bao gồm:

-Các yếu tố cấu thành dự án được thể hiện trong Bộ văn kiện dự án:


+ Các yếu tố đầu ra, đầu vào của DAĐT


+ Mục tiêu, kết quả cần hướng tới


+ Tác động về kinh tế, xã hội, môi trường của dự án


+ Tính bền vững về mặt tài chính, hoạt động của dự án


+ Các cam kết, biện pháp thực hiện, kế hoạch thực hiện dự án


+ Các rủi ro có thể có và biện pháp phòng ngừa, hạn chế rủi ro


- Năng lực của tổ chức hoặc các tổ chức điều phối, thực hiện và vận hành dự án.

d) Về nội dung thẩm định

Nội dung thẩm định DAĐT theo WB là đánh giá toàn diện các nội dung của dự án bao gồm toàn bộ các yếu tố cấu thành dự án, các điều kiện ảnh hưởng đến sự bền vững, tính khả thi của dự án. Có 6 nội dung thẩm định:

- Nội dung về kinh tế

- Nội dung về kỹ thuật, môi trường

- Nội dung về thể chế

- Nội dung về tài chính

- Nội dung về thương mại

- Nội dung về văn hóa, xã hội.

Trong đó, mỗi nội dung đều được mô tả chi tiết bằng cách nêu ra những tình huống có thể xuất hiện, các hướng xử lý, các kết quả phải đạt được sau khi xử lý, căn cứ để lựa chọn hướng xử lý, các nguyên tắc, các chuẩn mực trong khi xử lý... WB không xác định giới hạn của các vấn đề mà người thẩm định phải tiếp cận trong quá trình thẩm định.

e) Về quá trình thẩm định

Theo quy định của WB, quá trình thẩm định được tiến hành theo trình tự:

- Tiền thẩm định

- Chuẩn bị tài liệu thẩm định

- Tiến hành trao đổi và lấy ý kiến giữa các bên

- Đàm phán với bên vay

- Hoàn thiện bộ tài liệu thẩm định, biên bản thẩm định

- Họp hội đồng và hoàn thiện biên bản thẩm định.

f) Về thời hạn thẩm định

Thời hạn thẩm định tiêu chuẩn cho mỗi dự án là 18-20 tuần, trong đó:


- 6 - 7 tuần cho giai đoạn Tiền thẩm định.

- 2 tuần cho việc hoàn thiện văn kiện dự án

- 2 tuần cho việc dự thảo văn bản pháp lý

- 6 - 7 tuần cho việc thẩm định tại hiện trường

Download pdf, tải về file docx

Bài viết tương tự

Gửi tin nhắn

Bimage 1

Danh mục

Bài viết tương tự

Bimage 2
Bimage 3

Home | Contact | About | Terms | Privacy policy
© 2022 Tailieuthamkhao.com | all rights reserved

Trang chủ Tài liệu miễn phí Thư viện số