3.1.2. Mục tiêu phát triển du lịch Thành phố Dalat: Nếu như trong giai đoạn 1995 - 2005 phát triển du lịch Lâm Đồng với mục tiêu chỉ để trở thành một ngành kinh tế đủ mạnh và có sức thuyết phục theo tinh thần của nghị quyết 03/2001/NQ-TU của Tỉnh ủy Lâm Đồng. Thì giai đoạn từ nay đến năm 2010 và những năm 2020 du lịch Lâm Đồng phải phát triển với mục tiêu thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn như định hướng của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt tại quyết định số 409/2002 /QĐ-TTg về: “Điều chỉnh quy hoạch Thành phố Dalat tỉnh Lâm Đồng và vùng phụ cận đến 2020”.
Theo đó, UBND tỉnh Lâm Đồng cũng đã ban hành Quyết định số 209/2005/QĐ- UBND qui định về cơ chế, chính sách thu hút đầu tư phát triển. Đặc biệt, tại Mục 1/Chương IV về “Lĩnh vực du lịch, dịch vụ” đã xác định mục tiêu chính là:
“Đầu tư phát triển du lịch Thành phố Dalat xứng đáng là một trong những trung tâm du lịch của Lâm Đồng nói riêng và miền Trung Tây nguyên nói chung”.
Và mới đây, Tỉnh ủy Lâm Đồng lại đã bổ sung nghị quyết 06/2006/NQ-TU nhiệm vụ và giải pháp là: “Đột phá, tăng tốc phát triển du lịch trong những năm trước mắt”.
Song song với du lịch quốc tế, đẩy mạnh phát triển du lịch nội địa nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại, thăm viếng, tham quan du lịch của nhân dân góp phần cải thiện, nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân địa phương, đặc biệt nâng cao dân trí, cải thiện điều kiện sống cho đồng bào các vùng xa xôi hẻo lánh.
Mục tiêu trước mắt của Dalat là phục hồi những gì đã để mai một trong thời gian qua, Mục tiêu lâu dài là xây dựng Thành phố Dalat với một phong cách riêng biệt phù hợp với thị trường du lịch trong và ngoài nước. Dựa trên những thay đổi của xu hướng phát triển thị trường du lịch thế giới và trong nước, du lịch của Lâm Đồng chú trọng cả hai thị trường du lịch và kinh doanh tiếp đón khách (hội nghị, triển lãm thương mại và hội họp kinh doanh). Mặc dù cả hai thị trường này đều có phần nào trùng khớp, chúng cũng khá khác biệt về mặt thị trường, nhu cầu, tiện nghi và sự cạnh tranh để đảm bảo cách xử lý riêng biệt. Trong giai đoạn đến năm 2010 và những năm 2020 được xác định gồm hai nhóm thị trường chính như sau:
3.1.2.1. Thị trường trọng điểm: Thị trường trọng điểm của du lịch Lâm Đồng được xác định bao gồm một số thị trường khách quốc tế và trong nước như sau:
Thị trường khách quốc tế: Gồm những thị trường có lượng khách nước ngoài đi du lịch hay công vụ đến Việt Nam, có khả năng chi tiêu cao, lưu trú dài ngày. Cơ hội khai thác các thị trường khách quốc tế Dalat sẽ gia tăng khi sân bay Liên Khương được nâng cấp và mở các đường bay trực tiếp đến một số nước hoặc qua các tuyến bay trực tiếp với những trung tâm du lịch lớn của quốc gia như: Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Mỹ, Đức, Anh, Pháp, Úc là những thị trường hàng đầu thế giới với khả năng du lịch rất lớn cần được ưu tiên. Thị trường khối các nước ASEAN đặc biệt là các nước Singapore, Inđônexia, Malaysia là thị trường trọng điểm cũng cần chú trọng khai thác phát triển. (Phụ lục 11: Các văn bản định hướng phát triển liên quan về du lịch)
Thị trường khách nội địa: Do xu hướng đi du lịch ngày càng tăng nhờ kinh tế phát triển, mức sống cao hơn, thời gian rỗi nhiều hơn, nhận thức thông tin về du lịch được nâng cao. Đối với du lịch Lâm Đồng thị trường truyền thống từ Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Ngoài ra, sau khi mở đường bay trực tiếp Dalat - Hà Nội để mở rộng thị trường du lịch các khu vực phía Bắc. Hướng khai thác đối với thị trường khách nội địa là đẩy mạnh các tour ngắn ngày, cuối tuần với các hình thức nghỉ mát và vui chơi giải trí hiện đại…
3.1.2.2. Thị trường tiềm năng: Chủ yếu là những thị trường khách quốc tế, điển hình như Hà Lan, Nga, Canada, Ý, Thuỵ Sĩ, Thuỵ Điển, Bỉ, Niu Zi Lân, Luxembour…do lượng khách đi du lịch nước ngoài ở các nước này hàng năm khá đông. Nhưng số lượng khách này đến Lâm Đồng trong hiện tại còn hạn chế, khả năng chi tiêu chưa cao do việc tiếp cận giao thông đang khó khăn, trao đổi thương mại và du lịch chưa phát triển...
3.1.3. Chỉ tiêu phát triển du lịch Thành phố Dalat: Việc nghiên cứu dự báo các chỉ tiêu phát triển du lịch được thực hiện trong bối cảnh ngành du lịch cả nước đang phát triển với tốc độ tương đối nhanh. Do đó, mục tiêu chiến lược phát triển du lịch Thành phố Dalat theo đuổi cụ thể là:
3.1.3.1. Khách du lịch: Theo xu hướng hiện nay, khách du lịch nội địa đến Lâm
Đồng ngày một nhiều với mức tăng trưởng khá cao (17,2% năm). Tuy nhiên, theo quy
luật tốc độ tăng trưởng này sẽ giảm dần từ nay đến năm 2020. Dự kiến trung bình tăng 8- 10% giai đoạn 2005 - 2010; 7-9% giai đoạn 2011 - 2015; 6,5-7,5% giai đoạn 2016-2020.
Còn khách du lịch quốc tế đến Lâm Đồng trung bình chỉ tăng 5,4% năm trong vài năm tới đây. Để phù hợp với thực tế, dự kiến điều chỉnh tốc độ tăng trưởng khách quốc tế đến Lâm Đồng giai đoạn 2006 - 2010 chỉ dao động trong khoảng 6 - 7%. Khi dự án xây dựng các khu du lịch dần hoàn thiện và đi vào hoạt động ổn định, đặt biệt sân bay Liên Khương trở thành sân bay quốc tế. Dự kiến 2016 - 2020 đạt 5,5 -7 %, vì thực tế, 2005 cả nước đón gần 3.470.000 lượt khách quốc tế (tăng 18,4% so với 2004) nhưng đến 2006 đạt 3,58 triệu lượt khách (chỉ tăng 3% so với 2005).
Năm 2006 ngày lưu trú trung bình của khách đến Lâm Đồng chỉ đạt 2,3 ngày. Hiện nay, Dalat đang có một số dự án đầu tư xây dựng các khu du lịch chất lượng cao chắn chắc tạo ra nhiều sản phẩm du lịch độc đáo sẽ hấp dẫn khách du lịch trong và ngoài nước và kéo dài thời gian lưu trú (đặt biệt là khách sinh thái, nghỉ dưỡng, chữa bệnh). Ngày lưu trú trung bình của khách du lịch đến Lâm Đồng sẽ gia tăng: Năm 2010 là 2,8 - 3 ngày; năm 2015 là 3,3 - 3,5 ngày và đến 2020 là 3,7 - 4 ngày. Cụ thể như sau:
Bảng 3.1 : Dự báo lượng khách, doanh thu du lịch cụm du lịch Dalat và phụ cận
Các hạng mục | 2010 | 2015 | 2020 | |
Số lượt khách (ngàn) | 106,0 | 140,0 | 176,0 | |
Quốc | Ngày lưu trú TB (ngày) | 3,2 | 3,8 | 4,4 |
tế | Tổng số ngày khách (ngàn) | 339,2 | 532,0 | 775,0 |
Doanh thu (triệu USD) | 33,920 | 58,520 | 93,000 | |
Số lượt khách (ngàn) | 1.785 | 2.400 | 3.150 | |
Nội | Ngày lưu trú TB (ngày) | 3,0 | 3,5 | 4,0 |
địa | Tổng số ngày khách (ngàn) | 5.355 | 8.400 | 12.600 |
Doanh thu (triệu USD) | 133,875 | 252,000 | 441,000 | |
Tổng doanh thu (triệu USD) | 167,795 | 310,520 | 534,000 |
Có thể bạn quan tâm!
- Thực Trạng Marketing Du Lịch Của Thành Phố Dalat
- Gdp Du Lịch Lâm Đồng (1995 - 2006) Đơn Vị Tính: Triệu Usd
- Ma Trận Đánh Giá Các Yếu Tố Bên Ngoài (Efe) Của Du Lịch Dalat
- Chủ Trương Xây Dựng Chiến Lược (Hoàn Thiện Hệ Thống Marketing)
- Quan Hệ Giá Cả - Chất Lượng
- Các Giải Pháp Hỗ Trợ Thực Hiện Chiến Lược Marketing Du Lịch Dalat
Xem toàn bộ 172 trang tài liệu này.
(Nguồn: Dự báo của Viện NCPT Du lịch)
Mức chi tiêu trung bình của khách hiện nay ở Lâm Đồng trung bình mỗi ngày một khách quốc tế chi khoảng 110 USD, khách nội địa trên 500.000 đồng (tương đương 30USD). Trong những năm tới, chắc chắc mức chi tiêu của khách sẽ tăng lên.
Bảng 3.2 : Dự kiến mức chi tiêu trung bình một ngày của một khách du lịch:
Khách quốc tế | Khách nội địa | |
2006 - 2010 2011 - 2015 | 110USD 120USD | 30USD 35USD |
130USD | 40USD |
(Nguồn: - Dự báo của Viện NCPT Du lịch)
3.1.3.2. Doanh thu du lịch: Doanh thu từ du lịch của địa phương bao gồm doanh thu từ lưu trú, ăn uống, vận chuyển, mua sắm và các dịch vụ khác như Bưu điện, Ngân hàng, Y tế, Bảo hiểm, dịch vụ vui chơi giải trí v.v…Việc tính toán doanh thu từ du lịch của địa phương được căn cứ vào các chỉ tiêu chủ yếu như số lượt khách, ngày lưu trú trung bình, mức chi tiêu trung bình trong một ngày của một khách. Cụ thể:
Bảng 3.3 : Dự báo doanh thu từ du lịch Lâm Đồng thời kỳ 2005 - 2020
Đơn vị tính: Triệu USD
Loại doanh thu | 2005 | 2010 | 2015 | 2020 | |
ĐàLạt & phụ cận | Doanh thu từ khách quốc tế Doanh thu từ khách nội địa Tổng cộng | 17,157 65,428 83,185 | 33,920 133,875 167,795 | 58,520 252,000 310,520 | 93,000 441,000 534,000 |
Bảo Lộc | Doanh thu từ khách quốc tế Doanh thu từ khách nội địa | 0,999 3,630 | 2,500 10,500 | 6,325 29,400 | 12,600 66,150 |
Tổng cộng | 4,629 | 13,000 | 35,725 | 78,750 | |
Cát Tiên | Doanh thu từ khách quốc tế Doanh thu từ khách nội địa | 0,180 0,616 | 0,980 3,925 | 2,640 12,600 | 7,200 36,750 |
Tổng cộng | 0,796 | 4,905 | 15,240 | 43,950 | |
Toàn tỉnh | Doanh thu từ khách quốc tế Doanh thu từ khách nội địa | 18,936 69,674 | 37,400 148,300 | 67,485 294,000 | 112,800 543,900 |
Tổng cộng | 88,610 | 185,700 | 361,485 | 656,700 |
(Nguồn: Dự báo của Viện NCPT Du lịch)
3.1.3.3. Tổng sản phẩm GDP du lịch và nhu cầu đầu tư: Qua nghiên cứu cho thấy, chi phí trung gian trong các hoạt động du lịch chiếm trung bình khoảng 30-35% tổng doanh thu (trong đó lưu trú 10%; ăn uống 55-60%; vận chuyển du lịch 20%; hàng hoá lưu niệm 65-70%; dịch vụ khách 15%). Như vậy khả năng đóng góp của ngành du lịch Lâm Đồng trong cơ cấu GDP của địa phương được tính toán như sau:
Bảng 3.4 : Dự báo tổng sản phẩm GDP và nhu cầu vốn đầu tư cho du lịch Lâm Đồng thời kỳ 2005 - 2020
ĐV tính | 2005 | 2010 | 2015 | 2020 | |
Tổng doanh thu du lịch của Tỉnh Tổng giá trị GDP du lịch Tốc độ tăng truởng GDP du lịch Hệ số ICOR du lịch (**) Tổng nhu cầu vốn đầu tư du lịch | Triệu USD Triệu USD % - Triệu USD | 90,064 62,144 16,5 3,2 28,774 | 185,700 126,176 14,7 3,0 188,352 | 361,485 234,965 13,2 2,8 304,329 | 656,700 420,288 12,3 2,5 463,308 |
(Nguồn: - Dự báo của Viện NCPT Du lịch.
- (*) Số liệuthực tế.
- (**) Chỉ tính đầu tư cho csvc kỹ thuật của ngành du lịch)
Nhu cầu vốn đầu tư: Để đạt được mục tiêu điều chỉnh cơ bản của ngành du lịch Lâm Đồng thời kỳ 2005 - 2020, việc đầu tư toàn diện và đồng bộ vào cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, đào tạo, tuyên truyền quảng bá; bảo tồn tài nguyên và môi trường … có ý nghĩa rất quan trọng. Theo kết quả tính toán thì nhu cầu vốn đầu tư cho ngành du lịch Lâm Đồng từ nay đến năm 2020 là khoảng 1tỷ USD trong đó giai đoạn từ nay đến 2010 khoảng 220 triệu USD; giai đoạn 2011 - 2020 khoảng 780 triệu USD. Đây là một số vốn không lớn, đòi hỏi phải thu hút từ nhiều nguồn khác nhau (cả trung ương và địa phương) và huy động từ nhiều nguồn như tích lũy của các doanh nghiệp du lịch, vốn vay ngân hàng, liên doanh, liên kết (cả trong và ngoài nước) và vốn đầu tư tư nhân...
Nhu cầu về khách sạn: Việc nghiên cứu tính toán và điều chỉnh dự báo nhu cầu khách sạn trong những năm tới được căn cứ vào tổng số khách, số ngày lưu trú và công suất sử dụng trung bình, cũng như số người nghỉ trong một phòng theo công thức sau:
(Số lượt khách)*(Số ngày lưu trú trung bình)
Nhu cầu số phòng = ---------------------------------------------------------------------
(365 ngày)*(Công suất sử dụng phòng)*(Số khách trung bình/phòng)
Trong đó, theo dự báo: Số ngày lưu trú trung bình 2,5 - 4 đối với khách quốc tế và từ 2,3 - 3,7 đối với khách nội địa. Công suất sử dụng phòng trung bình hàng năm sẽ đạt khoảng 60 - 65% (hiện tại 56%). Theo xu hướng chung, các khách sạn thường xây dựng mỗi phòng 2 người. Như vậy, nhu cầu về khách sạn của Lâm Đồng đến năm 2020 sẽ là:
Bảng 3.5 : Dự báo nhu cầu khách sạn Lâm Đồng thời kỳ 2010 – 2020 (Phòng)
Nhu cầu cho đối tượng khách du lịch | 2010 | 2015 | 2020 | |
Dalat và phụ cận | Nhu cầu cho khách quốc tế Nhu cầu cho khách nội địa Tổng cộng | 820 12.880 13.700 | 1.200 19.100 20.300 | 1.650 26.500 28.150 |
Bảo Lộc | Nhu cầu cho khách quốc tế Nhu cầu cho khách nội địa | 65 1.035 | 145 2.245 | 220 3.980 |
Tổng cộng | 1.100 | 2.390 | 4.200 | |
Cát Tiên | Nhu cầu cho khách quốc tế Nhu cầu cho khách nội địa | 25 375 | 55 955 | 130 2.220 |
Tổng cộng | 400 | 1.010 | 2.350 | |
Toàn tỉnh | Nhu cầu cho khách quốc tế Nhu cầu cho khách nội địa | 910 14.290 | 1.400 22.300 | 2.000 32.700 |
Tổng cộng | 15.200 | 23.700 | 34.700 |
(Nguồn: Dự báo của Viện NCPT Du lịch)
Nhu cầu lao động trong du lịch: Hiện nay, chỉ tiêu bình quân khách sạn ở Dalat chỉ đạt 0,6 lao động/phòng (cả nước 1,5 -1,6). Nên nhu cầu đến năm 2020 sẽ là:
Bảng 3.6 : Nhu cầu lao động cụm du lịch Dalat và phụ cận
Nhu cầu cho đối tượng | Đơn vị tính | 2010 | 2015 | 2020 | |
Khách du lịch | Phòng | 13.700 | 20.300 | 28.150 | |
Khách sạn | Nhu cầu cho khách quốc tế | Phòng | 820 | 1.200 | 1.650 |
Nhu cầu cho khách nội địa | Phòng | 12.880 | 19.100 | 26.500 | |
Tổng cộng | Người | 53,430 | 97,440 | 152,010 | |
Lao động | Lao động trực tiếp | Người | 17,810 | 32,480 | 50,670 |
Lao động gián tiếp | Người | 35,620 | 64,960 | 101,340 |
(Nguồn: Dự báo của Viện NCPT Du lịch)
Bảng 3.7 : Dự báo nhu cầu lao động trong du lịch Lâm Đồng: 2010 -2020
Đơn vị tính: Phòng
Loại lao động | 2010 | 2015 | 2020 | |
Dalat và phụ cận | Lao động trực tiếp trong du lịch Lao động gián tiếp ngoài xã hội Tổng cộng | 17,810 35,620 53,430 | 32,480 64,960 97,440 | 50,670 101,340 152,010 |
Bảo Lộc | Lao động trực tiếp trong du lịch Lao động gián tiếp ngoài xã hội | 1,430 2,860 | 3,824 7,648 | 7,560 15,120 |
Tổng cộng | 4,290 | 11,472 | 22,680 | |
Cát Tiên | Lao động trực tiếp trong du lịch Lao động gián tiếp ngoài xã hội | 0,520 1,040 | 1,616 3,232 | 4,230 8,460 |
Tổng cộng | 1,560 | 4,848 | 12,690 | |
Toàn tỉnh | Lao động trực tiếp trong du lịch | 19,760 | 37,920 | 62,460 |
Lao động gián tiếp ngoài xã hội | 39,520 | 75,840 | 124,920 | |
Tổng cộng | 59,280 | 113,760 | 187,380 | |
Lao động trung bình/1 phòng khách sạn (người) | 1,3 | 1,6 | 1,8 |
(Nguồn: Dự báo của Viện NCPT Du lịch)
Như vậy: Do nhóm điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia và quốc tế từ nay đến năm 2020 chủ yếu tập trung ở khu vực Thành phố Dalat và phụ cận. Nên, thời kỳ 2006 - 2010 đầu tư cải tạo nâng cấp và xây dựng các cơ sở du lịch đã và đang được khai thác. Thời kỳ 2010 - 2020 đầu tư xây dựng các khu du lịch lớn đồng thời với việc khai thác và đầu tư chiều sâu để mở rộng và nâng cấp các khu đã khai thác. Ngoài ra, cần mở rộng đầu tư các khu du lịch ở phạm vi lân cận Dalat nhằm giảm bớt sức ép của lượng du khách lớn đến Dalat và làm phong phú hơn các hoạt động du lịch ở cụm du lịch trung tâm này. Như vậy, trong tương lai, để giảm áp lực lên tài nguyên và môi trường ở cụm Dalat, việc đầu tư phát triển đồng bộ hai cụm du lịch Bảo Lộc và Cát Tiên là rất quan trọng và cần thiết.
Dự kiến, thời kỳ 2005 - 2010 Dalat và phụ cận vẫn chiếm khoảng 80% số khách của cả tỉnh. Thời kỳ 2011 - 2020, khi Bảo Lộc và Cát Tiên được đầu tư tương đối hoàn chỉnh thì sẽ thu hút nhiều hơn khách du lịch đến đây; dự kiến thời kỳ này Dalat và phụ cận còn khoảng 70-75% số khách của toàn Tỉnh. Ðịnh hướng đó đã được triển khai trong thực tế bằng việc xây dựng, nâng cấp hệ thống đường xá tại Dalat, quy hoạch lại trên 80 điểm tham quan du lịch, khuyến khích các nhà đầu tư đầu tư vào các sản phẩm du lịch, tôn tạo, nâng cấp nhiều danh lam thắng cảnh như thác Prenn, hồ Than thở, Thung lũng Tình yêu, Datanla... thác Ðambri, khu du lịch hồ Tuyền Lâm,...và đang còn tiếp tục với những dự án qui mô hơn. (Phụ lục 12: Các số liệu định hướng phát triển về du lịch Dalat)
3.2. Định hướng xây dựng & lựa chọn chiến lược Marketing du lịch: Tổ chức không gian du lịch dựa trên sự hoạch định không gian kinh tế - xã hội của tỉnh và mối quan hệ về du lịch với các tỉnh lân cận để có chiến lược Marketing du lịch phù hợp.
Căn cứ vào sự phân bố và đặc điểm của hệ thống tài nguyên du lịch tỉnh Lâm Đồng, có thể hình thành ba cụm du lịch chính tương ứng với ba không gian du lịch có mối quan hệ liên hoàn, trong đó không gian Dalat và phụ cận phía Bắc giữ vai trò là trọng tâm. Dalat được đánh giá là một cực quan trọng của tam giác du lịch trọng điểm của quốc gia ở vùng Nam Trung Bộ: Nha Trang - Ninh chữ - Dalat. Hơn thế nữa, đã và đang hình thành tam giác du lịch tăng trưởng Hồ Chí Minh - Dalat - Nha Trang và trục du lịch Vũng Tàu - Dalat. Điều này đã khẳng định vai trò trung tâm của Dalat trong phát triển du lịch của Lâm Đồng nói riêng, của vùng cũng như cả nước nói chung.
Thời kỳ 2006 - 2010: Tập trung đầu tư cải tạo nâng cấp và xây dựng các cơ sở du lịch đã và đang được khai thác chủ yếu là: Khu du lịch chuyên đề quốc gia hồ Tuyền Lâm, làng du lịch văn hoá các dân tộc ở xã Lát sẽ là hình ảnh thu nhỏ của Tây Nguyên với tất cả sự mô phỏng điển hình cho các phong tục tập quán, sinh hoạt, truyền thống văn hoá, lễ hội của mỗi dân tộc trong cộng đồng như Bana, Êđê, Giarai, K'ho, Pacô, Chàm…và các điểm du lịch hồ Than thở, thác Cam ly, Đalanta, thung lũng Tình Yêu…
Thời kỳ 2010 - 2020: Tập trung đầu tư xây dựng các khu du lịch lớn đồng thời với việc khai thác và đầu tư chiều sâu để mở rộng và nâng cấp các khu đã khai thác như: Khu du lịch thể thao núi Langbiang như một lâm viên quốc gia phục vụ du lịch và bảo
tồn tự nhiên, kết hợp du lịch sinh thái và tham quan thắng cảnh lớn không chỉ của Lâm Đồng mà còn của cả khu vực. Khu du lịch ĐanKia - Suối vàng là một trong những khu du lịch tổng hợp vào loại lớn nhất ở nước ta. Ngoài ra, trong giai đoạn này cần mở rộng đầu tư các khu du lịch ở phạm vi lân cận Dalat nhằm giảm bớt sức ép của lượng du khách lớn đến Dalat và làm phong phú hơn các hoạt động du lịch ở cụm trung tâm như: Khu du lịch hồ Đại Ninh với các điểm du lịch như thác Voi, suối nước nóng Nam Ban, thác Gougah, núi voi thác pougour. Khu du lịch hồ Đa Nhim kết hợp thắng cảnh tuyến đèo Ngoạn Mục; suối nước nóng Đạ Lãng (Lạc Dương).
(Phụ lục 13: Các cơ sở dịch vụ và chương trình về du lịch Dalat)
Việc quyết định lựa chọn chiến lược Marketing du lịch Thành phố Dalat phải dựa vào ảnh hưởng của môi trường vĩ mô, môi trường tác nghiệp, môi trường vi mô (nội bộ) và môi trường kinh doanh quốc tế. Không chỉ thế, muốn cạnh tranh cần phải áp dụng chiến lược thị trường đầy kỹ thuật mới trong xu hướng toàn cầu hoá. Bởi vì, khi mở cửa các yếu tố ngành cuả Dalat cũng sẽ thay đổi theo mô hình “5 sức ép” của M Micichhaaeel lP Poortreterr: Thêm đối thủ cạnh tranh, xuất hiện sản phẩm thay thế, sức ép nội ngành, quyền lực của nhà cung cấp và của người mua (tăng/giảm?) như sau:
Ai đó đã nói: "Cùng ngành nghề chứ không cùng lợi nhuận, cạnh tranh là sự tất yếu của thương trường”. Cạnh tranh là sự so sánh, đối chứng sức mạnh cơ bản, những đe dọa thách thức và cơ hội chủ yếu có được từ quá trình đối kháng trên nhiều phương diện: Chất lượng sản phẩm - Thương hiệu Phân phối - Giá cả - Truyền thông...
Bởi vậy, Dalat cần chủ động trao đổi thông tin với môi trường toàn xã hội, xem xét đánh giá tình hình và có sáng kiến để chủ động đối phó những thay đổi hay sự cố đột biến. Nhất là tạo lập một tư tưởng kinh doanh khác biệt, nắm chắc được thời cơ để khi có "cơ hội" là tranh thủ thời gian. Tuy nhiên, do ngành du lịch Thành phố Dalat hiện