Phát triển nguồn nhân lực trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới giai đoạn 2006 – 2020 - 6

Bảng 3.4 : Nhu cầu về NNL một số ngành trọng yếu năm 2010 và 2020 trên địa bàn TP.HCM

Đơn vị : người

STT

NỘI DUNG

CHỈ TIÊU

2005

2010

2020

I

DỊCH VỤ

1.

Tài chính (tài chính, tín dụng, ngân hàng, bảo

hiểm, thuê và cho thuê tài chính)

68.292

(1,64%)

97.545

(2%)

188.701

(3%)

2.

Du lịch, khách sạn, nhà hàng

215.703

(5,18%)

341.409

(7%)

503.203

(8 %)

3.

Vận tải, kho bãi, dịch vụ cảng

248183

(5,96%)

341.409

(7 %)

629.004

(10%)

4.

Y tế (bác sĩ)

5.990

(9,6 bác sĩ/

10.000 dân)

8.640

(12 bác sĩ/

10.000 dân)

27.600

(30 bác sĩ/

10.000 dân)

5.

Bưu chính viễn thông và CNTT

248.183

(5.96%)

487.728

(10%)

754.805

(12%)

6.

Dịch vụ tư vấn

244.019

(5,86%)

146.318

(3%)

314.502

(5%)

7.

Giáo dục và đào tạo chất lượng cao

Toàn ngành: 140.748

(3,38%)

170.704

(3,5 %)

251.602

(4 %)

II.

CÔNG NGHIỆP

1.

Cơ khí chế tạo máy

256.928

(6,17%)

390.182

(8 %)

566.104

(9 %)

2.

Điện tử – viễn thông

219.451

(5,27%)

341.409

(7%)

629.004

(10%)

3.

Công nghệ thông tin

301.485

(7,24%)

438.955

(9%)

754.805

(12%)

4.

Công nghiệp hóa chất và dược phẩm

112.848

(2,71%)

146.318

(3%)

314.502

(5%)

5.

Chế biến lương thực, thực phẩm giá trị gia

tăng cao

203.211

(4,88%)

243.864

(5%)

377.402

(6%)

III.3

NÔNG NGHIỆP

Có thể bạn quan tâm!

Xem toàn bộ 64 trang: Phát triển nguồn nhân lực trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới giai đoạn 2006 – 2020

Phát triển nguồn nhân lực trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới giai đoạn 2006 – 2020 - 6

1.

Ứng dụng công nghệ sinh học (Giống cây trồng, vật nuôi)

64.960

(1.56%)

21.000

(0,5%)

31.450

(0,5%)

Nguồn : Tính toán của Viện kinh tế thành phố. Số liệu dự báo nguồn lao động năm 2010 :

4.877.280 và năm 2020 : 6.290.040

3.2.2.2 Nhu cầu NNL chất lượng cao cho thành phố từ nay đến 2010 và 2020

Bảng 3.5 : Nhu cầu NNL chất lượng cao cho TP.HCM đến năm 2010 và 2020

NỘI DUNG

CHỈ TIÊU

2010

2020

1.Nhân lực quản lý, điều hành (từ giám đốc và tương

đương trở lên) trong các nhóm ngành dịch vụ qua đào tạo

9.755

(0,2%)

18.870

(0,3%)

2.Cán bộ quản lý nhà nước trong các ngành, lĩnh vực

170.705

(3,5%)

188.701

(3%)

3.Các nhà khoa học, chuyên gia trong tất cả các lĩnh

vực

10.000 tiến sĩ

50.000

Nguồn : Tính toán của Viện kinh tế thành phố

Qua bảng số liệu trên, ta thấy, nhu cầu NNL của thành phố đến năm 2020 là rất lớn. Trong đó, các ngành dịch vụ tăng mạnh, đặc biệt là ngành công nghệ thông tin, ngành du lịch, khách sạn; trong lĩnh vực công nghiệp thì dẫn đầu vẫn là ngành công nghệ thông tin (12%), kế đến là điện tử – viễn thông (10%). Lĩnh vực nông nghiệp nhu cầu về lao động giảm, điều này cũng phù hợp với cơ cấu kinh tế của thành phố trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa và quá trình gia nhập WTO. Riêng về lĩnh vực lao động chất lượng cao, nhu cầu đạt 50.000 tiến sĩ vào năm 2010 là một con số khá lớn, đòi hỏi thành phố phải có chiến lược đào tạo và phát triển một cách nghiêm túc, chất lượng.

3.2.3 Một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển nguồn nhân lực TP.HCM đáp ứng yêu cầu gia nhập WTO

Chiến lược phát triển KT - XH trong bối cảnh gia nhập WTO đặt ra yêu cầu xây dựng và phát triển NNL có chất lượng ngày càng cao đáp ứng được yêu cầu phát triển của thành phố. Để làm được điều đó có thể thực hiện một số giải pháp :

3.2.3.1 Nhận thức một cách sâu sắc tầm quan trọng của việc xây dựng, phát triển và nâng cao chất lượng NNL của thành phố trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay; xây dựng, triển khai chiến lược phát triển NNL thành phố từ nay đến năm 2020 và tầm nhìn 2030

◆ Thứ nhất : Nhận thức một cách sâu sắc tầm quan trọng của việc xây dựng, phát triển và nâng cao chất lượng NNL của thành phố trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay

Trong quá trình đổi mới và bước vào “sân chơi” toàn cầu, so với nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trong khu vực và trên thế giới, thành phố không có nguồn lực gì nổi trội. Do đó, để quá trình phát triển và gia nhập WTO thành công, đưa HCM trở thành thành phố XHCN, văn minh, hiện đại; đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Phát triển nhanh và bền vững, trở thành trung tâm lớn về nhiều mặt của đất nước và khu vực Đông Nam Á như mục tiêu mà thành phố đã đề ra thì nhân tố quyết định cho sự thành công đó chính là NNL. NNL thành phố vốn còn yếu kém về nhiều mặt : số lượng, chất lượng và cơ cấu. Những bất cập đó đã và đang ngày càng bộc lộ rõ và trở thành nhân tố hạn chế sự phát triển của thành phố thời gian qua. Nếu không khắc phục kịp thời, nhanh chóng những yếu kém, hạn chế của NNL thì chắc chắn đó sẽ là nhân tố kìm hãm sự phát triển của thành phố trong thời gian tới, khi Việt Nam đang ngày càng

hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới với sự cạnh tranh khốc liệt hơn. Vì vậy, để có thể hội nhập thành công và đạt được mục tiêu đã đề ra thì việc xây dựng, phát triển và phát huy nguồn lực con người, xây dựng NNL thành phố ngày càng nâng cao về chất lượng được xem là nhân tố quyết định nhất và là “chìa khóa” quan trọng để đi đến thành công trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế.

◆ Thứ hai : Xây dựng và triển khai chiến lược phát triển NNL thành phố từ nay

đến năm 2020 và tầm nhìn 2030

Trên cơ sở định hướng về phát triển KT - XH thành phố đến năm 2020, cần phải xây dựng chiến lược phát triển NNL thành phố đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Nội dung và cách thức triển khai chiến lược phải bảo đảm tính toàn diện phù hợp với nhu cầu và năng lực của thành phố. Trong đó, cần đề ra và thực hiện các mục tiêu cụ thể theo lộ trình, tất nhiên, các mục tiêu nói trên có thể được điều chỉnh, thay đổi tùy theo điều kiện hoàn cảnh cụ thể trong tiến trình phát triển và hội nhập quốc tế của thành phố trong thời gian tới.

Để làm được điều này, trước mắt, cần phải có sự nhất quán trong khâu tổ chức quản lý, đặc biệt là sự phối hợp đồng bộ trong đường lối, chính sách giữa Bộ giáo dục, sở giáo dục, các cơ quan lãnh đạo của thành phố, các DN trên địa bàn và đặc biệt là các cơ sở đào tạo. Trong chiến lược này nhất thiết cần phải quy hoạch lại toàn bộ hệ thống đào tạo NNL thành phố trong thời gian qua với cơ cấu ngành nghề, số lượng, chất lượng và tất cả những biện pháp, chính sách đầu tư, tổ chức đào tạo… nhằm đạt được những mục tiêu đề ra. Chiến lược được xây dựng phải đảm bảo tính khả thi, phù hợp với điều kiện, năng lực của thành phố nhưng quan trọng nhất phải cung ứng NNL có chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển thành phố nói riêng cũng như cho cả nước nói chung. Điểm quan trọng nhất của chiến lược đó là mục tiêu hướng đến thị trường. Nói cách khác, chiến lược này phải nắm bắt được nhu cầu của thị trường trong bối cảnh hội nhập và phát triển, từ đó, xây dựng các giải pháp cụ thể.

3.2.3.2 Nâng cao tỷ lệ lao động đã qua đào tạo

Với tỷ lệ 54% lao động có trình độ CMKT (trong đó lao động có bằng cấp chỉ 28%) như hiện nay thì rõ ràng là một yếu kém cho thành phố trong quá trình phát triển và hội nhập. Đây là vấn đề mang tính vĩ mô và dài hạn, vì vậy, khó có thể đạt được mục tiêu này trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, đây lại là vấn đề căn cơ và cốt lõi đối với NNL thành phố nói riêng cũng như của một quốc gia nói chung, do vậy, cần phải có hệ thống giải pháp đồng bộ với lộ trình cụ thể, phù hợp và hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu này. Có thể thực hiện một số giải pháp sau :

- Tăng số lượng, quy mô, cơ cấu và chất lượng hệ thống các trường ĐH, CĐ, THCN và các cơ sở dạy nghề trên địa bàn. Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này nhưng xét cho cùng, nếu muốn tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo thì không thể không tăng quy mô hệ thống các cơ sở đào tạo, đây là vấn đề bắt buộc. Tuy nhiên, đi kèm với việc tăng quy mô, số lượng các cơ sở đào tạo dứt khoát phải có một cơ chế quản lý, giám sát chặt chẽ và hiệu quả của các cơ quan, ban ngành chức năng nhằm tránh tình trạng mở trường tràn lan, kém hiệu quả và lãng phí. Chúng ta phải thực hiện theo tinh thần “nhanh nhưng không vội”.

- Để thực hiện được điều này cần phải phải giải quyết các vấn đề về : tăng số lượng và chất lượng giảng viên; tăng cường và hoàn thiện hệ thống cơ sở vật chất phục vụ hoạt động giảng dạy; đặc biệt, phải nâng cao nhận thức của người dân trong việc ý thức trang bị nghề nghiệp cho bản thân, làm cho họ nhận thức được học tập vừa là quyền lợi đồng thời là nghĩa vụ, trách nhiệm với chính bản thân, gia đình và xã hội để từ đó, họ có định hướng và nỗ lực trong việc cố gắng trang bị cho mình một nghề nhất định bằng việc học tập trong một cơ sở đào tạo nào đó, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của bản thân. Chỉ có nghề nghiệp mới là điểm tựa vững chắc nhất cho tương lai, học là con đường duy nhất để sống và làm việc thành công. Để làm được điều này cần phải có sự nỗ lực của toàn xã hội và các chính sách cụ thể, thiết thực của các cơ cơ quan, ban ngành chức năng có liên quan và đặc biệt là của các cơ sở đào tạo nhằm hỗ trợ và tạo điều kiện cho người dân có thể dễ tiếp cận hơn với các loại hình giáo dục đào tạo, phù hợp với điều kiện cụ thể của người học.

- Đẩy mạnh hoạt động dạy nghề về số lượng, và đặc biệt là chất lượng nhằm thu hút một lực lượng lớn lao động xã hội tham gia vào. Làm tốt điều này góp phần nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo ở thành phố (vì hiện nay tỷ lệ lao động có trình độ CNKT và THCN ở thành phố còn rất thấp) một các hiệu quả hơn, ít tốn kém, ít lãng phí hơn và nhanh hơn. Điều này càng trở nên bức thiết hơn với thực tế hiện nay của thành phố là đang thiếu trầm trọng đội ngũ lao động này. Vì vậy đây là giải pháp rất quan trọng nhằm tăng tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố trong hội nhập.

3.2.3.3 Nâng cao chất lượng hệ thống giáo dục đào tạo nhằm tăng chất lượng lao động đã qua đào tạo, khắc phục tình trạng lao động sau đào tạo vẫn không thể làm việc theo nhu cầu của nhà sử dụng trong chính chuyên ngành đã học, giảm thiểu quá trình đào tạo lại gây lãng phí cho về tiền của, thời gian …cho người học và xã hội.

◆ Đầu tư nâng cao mạng lưới cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng hệ thống giáo dục

Nâng cao chất lượng hệ thống giáo dục hướng đến chuẩn tiên tiến để cung cấp cho học sinh các kiến thức cơ bản và kiến thức ứng dụng, từ đó nhằm tạo tiền đề ban đầu để chuẩn bị đào tạo đội ngũ NNL theo nhu cầu xã hội. Có thể thực hiện bằng các giải pháp cơ bản như sau :

- Cải thiện và nâng cấp đồng bộ hệ thống cơ sở vật chất các trường từ mẫu giáo, tiểu học, THCS và THPT. Cung cấp sách giáo khoa, tài liệu học tập và các trang thiết bị, phòng thí nghiệp, đồ dùng dạy học cho học sinh.

- Khắc phục tình trạng thiếu giáo viên các cấp đã tồn tại từ nhiều năm và có xu hướng ngày càng gia tăng bằng những biện pháp cụ thể như : phối hợp giữa Sở giáo dục và các trường trên địa bàn nhanh chóng xây dựng chiến lược giáo dục cho từng giai đoạn (5 năm, 10 năm, 20 năm), trong đó, cần tính toán và dự báo nhu cầu về học sinh, giáo viên cụ thể cho từng năm học, từng giai đoạn và những yếu tố tác động đến. Trên cơ sở đó, xây dựng chiến lược đào tạo đội ngũ giáo viên, tránh tình trạng bị động vì

thiếu giáo viên như hiện nay; Sở giáo dục đặt chỉ tiêu giáo viên cho các trường ĐH, CĐ, trung cấp sư phạm trong từng năm học căn cứ trên chỉ tiêu dự báo để các trường sẽ tự tìm giải pháp nhằm đạt chỉ tiêu mà Sở giáo dục đề ra; Sở giáo dục nên mở rộng đối tượng xét tuyển giáo viên cho những người không nằm trong diện hộ khẩu, KT3, thay vào đó là những thỏa thuận cơ bản về quyền và nghĩa vụ cũng như những chứng minh của người dự tuyển sẽ làm việc trong một thời gian nhất định. Điều này sẽ huy động được đội ngũ giáo viên đông đảo hơn từ khắp nơi có mong muốn giảng dạy; huy động đội ngũ giáo viên đã về hưu nhưng còn đủ sức khỏe, lòng yêu nghề, tiếp tục công tác giảng dạy dưới dạng hợp đồng thỉnh giảng.

- Nâng cao chất lượng giáo viên giáo viên bằng cách nâng cao chất lượng sinh viên các trường sư phạm, thường xuyên chuẩn hóa chất lượng đội ngũ giáo viên, bồi dưỡng, đào tạo lại giáo viên các cấp. Tổ chức các chương trình đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng nghiệp vụ đối với những giáo viên chưa đạt chất lượng bằng ngân sách thành phố; thường xuyên tổ chức các cuộc thi chất lượng giáo viên dạy giỏi cấp quận, huyện để nâng cao trình độ và khả năng sáng tạo của giáo viên trong việc giảng dạy đồng thời các trường phổ thông cần được cung cấp các phương tiện dạy học hiện đại để có thể đổi mới phương pháp dạy học một cách hữu hiệu.

- Nâng cao đời sống cho đội ngũ giáo viên bằng chính sách tiền lương hợp lý.

◆ Cải tiến hệ thống đào tạo của Thành phố nhằm đáp ứng nhu cầu lao động của thị trường trong bối cảnh gia nhập WTO

Hệ thống đào tạo cần phải được cải tiến nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, từ đó có thể tạo ra một NNL chất lượng cao có thể đáp ứng được yêu cầu phát triển KT – XH trong thời kỳ mới – hội nhập WTO. Cải tiến theo những hướng cụ thể sau:

Về chuyên môn, tay nghề của NNL

- Phát huy vai trò Hội đồng giáo dục ĐH của Thành phố trong việc góp ý với Bộ giáo dục và đào tạo điều chỉnh chương trình, phương pháp giảng dạy ở bậc ĐH, CĐ, trung cấp chuyên nghiệp. Phấn đấu 2020, 100% các trường đạt tỉ lệ giảng viên trên sinh

viên là 1/20, tăng số lượng giảng viên có học vị tiến sĩ nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo.

- Rà soát và quy hoạch lại hệ thống trường CĐ, ĐH trên địa bàn TP.HCM theo hướng nhà nước tập trung đầu tư nâng cấp một số trường trọng điểm quốc gia tiến tới đat chuẩn quốc tế và khu vực với quy mô và cơ cấu ngành nghề phù hợp với nhu cầu đào tạo NNL cho thành phố và các tỉnh phía Nam. Khuyến khích phát triển hệ thống trường dân lập, tư thục đồng thời tăng cường hệ thống quản lý của Nhà nước nhằm ngăn chặn sự xuất hiện tràn lan nhiều trường kém chất lượng.

- Nhanh chóng hoàn chỉnh quy hoạch hệ thống các cơ sở dạy nghề theo hướng xã hội hóa, đa dạng hóa nhằm phục vụ yêu cầu phát triển KT – XH trong thời kỳ hội nhập. Khuyến khích và tạo điều kiện phát triển hệ thống trung tâm dạy nghề, đào tạo nghề trong DN, các cơ sở dạy nghề tư nhân, các làng nghề nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng và ngày càng phong phú của thị trường lao động.

- Đẩy mạnh sự hợp tác liên kết giữa 3 đơn vị : cơ quan quản lý Nhà nước, cơ sở đào tạo và các đơn vị sử dụng NNL nhằm cập nhật thông tin nhu cầu của xã hội, từ đó tiến hành quy hoạch số lượng và cơ cấu lao động trong từng ngành nghề cụ thể phù hợp nhu cầu xã hội; điều chỉnh nội dung giảng dạy hướng mạnh vào kỹ năng thực hành chuyên môn của người học, giảm tỷ lệ sinh viên ra trường phải đào tạo lại. Trong đó :

+ Nhà trường cần phải nhanh nhạy nằm bắt nhu cầu thị trường và xu hướng phát triển kinh tế để nâng cao năng lực đào tạo theo nhu cầu đồng thời cần phải chủ động trong việc tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm của mình. Đây được xem là nhân tố tích cực nhất. Để tồn tại tại trong thời kỳ hội nhập, ngoài những kiến thức cơ bản về chuyên môn, nhà trường cần bồi dưỡng thêm cho sinh viên các kỹ năng khác (kỹ năng thuyết trình, kỹ năng tư duy và thay đổi bản thân, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng làm việc nhóm…), tích cực mở rộng mối quan hệ nhà trường - DN, phải cho sinh viên có sự cọ xát ngay khi đang ngồi trên ghế nhà trường để khi ra trường, sinh viên mới không bị ngỡ ngàng và thiếu nhiều kỹ năng mà DN cần.

+ Cơ quan quản lý nhà nước phải có những chính sách phù hợp và thông thoáng tạo điều kiện để nhà trường thực hiện tốt hoạt động của mình; thường xuyên tổ chức những chương trình, hoạt động nhằm phổ biến và cập nhật những thông tin mới nhất về thị trường, về nhu cầu lao động xã hội và đặc biệt là định hướng, chiến lược phát triển KT - XH của thành phố trong từng giai đoạn, từ đó giúp người học có những định hướng nghề nghiệp cho mình và nhà đào tạo nắm bắt được xu hướng đào tạo. Đồng thời cần phải ban hành các chính sách quy định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của nhà sử dụng NNL về việc hợp tác, hỗ trợ các cơ quan đào tạo trong quá trình đào tạo lao động, vì xét cho cùng, nhà sử dụng là người cuối cùng hưởng kết quả đào tạo của xã hội, do vậy, học không thể thờ ơ hoạt động của các cơ quan đào tạo.

+ Nhà sử dụng NNL cần phải trực tiếp “đặt hàng” cho các cơ sở đào tạo với số lượng và yêu cầu cụ thể đồng thời phải có trách nhiệm hỗ trợ sinh viên, học viên trong quá trình thực tập, tập sự cọ xát với thực tế ngay khi các trường yêu cầu; tổ chức giao lưu với sinh viên, đặc biệt là sinh viên năm cuối, khảo sát sinh viên, tập sự viên từng năm, chia sẻ kinh nghiệm cũng như những yêu cầu công việc trong thực tế; thực hiện các chương trình hỗ trợ học tập về mặt vật chất để khuyến khích người học phát huy năng lực sáng tạo, tạo nhiều cơ hội việc làm hơn cho sinh viên khi ra trường.

- Để đào tạo nhân lực theo nhu cầu đồng thời đáp ứng nhu cầu nhân lực có trình độ đang rất thiếu hụt như hiện nay và thời gian tới thì các trường CĐ, ĐH đẩy mạnh hơn nữa công tác đào tạo hệ vừa học vừa làm tại các địa phương, nới rộng hơn điều kiện đầu vào và siết chặt đầu ra hơn nữa.

- Xây dựng chương trình tái đào tạo hoặc đào tạo nâng cao tay nghề tại các trường, các trung tâm dạy nghề.

- Các trường đạo học, CĐ, trung cấp và các trung tâm đào tạo nghề cần phải có kế hoạch nâng cao năng lực đào tạo hướng mạnh vào những ngành đáp ứng cho nhu cầu gia nhập WTO và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố đến năm 2020. Đó là những ngành dịch vụ : tài chính, tín dụng, ngân hàng, bảo hiểm, du lịch, khách sạn, nhà hàng, bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin; về công nghiệp : cơ khí chế tạo

máy, công nghiệp hóa chất và thực phẩm, điện tử – viễn thông, chế biến thực phẩm; trong nông nghiệp : ứng dụng công nghệ sinh học. Trong đó, đặc biệt đầu tư mạnh vào những ngành dịch vụ và những ngành công nghiệp kỹ thuật cao.

Về kỹ năng hội nhập (ngoại ngữ, tin học, phương pháp làm việc..) của NNL

- Nâng cao chất lượng giảng dạy ngoại ngữ, tin học ở bậc phổ thông và ĐH. Đảm bảo học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học đủ khả năng giao tiếp thông thường bằng ngoại ngữ và những kiến thức vi tính văn phòng; sinh viên sau khi tốt nghiệp có khả năng sử dụng được ngoại ngữ chuyên ngành đã theo học. Điều này giảm lãng phí cho học sinh, sinh viên phải tốn thêm chi phí để đến học tại các trung tâm ngoại ngữ mới có đủ kỹ năng về ngoại ngữ trong quá trình việc. Đây là một trong những yêu cầu bắt buộc của NNL trong quá trình hội nhập.

-Tăng cường các hoạt động hỗ trợ thanh niên học ngoại ngữ, tin học miễn phí.

- Xây dựng các chương trình đào tạo các kỹ năng mềm cho sinh viên, học sinh.

Về cơ sở hạ tầng phục vụ cho quá trình đào đào NNL

Tiếp tục hoàn thiện cơ sở hạ tầng và xây dựng một số cơ sở đào tạo, đặc biệt là đào tạo nghề nhằm đáp ứng được những yêu cầu mới của KH - CN được sử dụng trong nước và có trình độ tương đương với các nước trong khu vực nhằm đáp ứng chuẩn mực quốc tế và khu vực. Có chính sách đầu tư và trang bị những cơ sở vật chất cần thiết cho các trường, trung tâm và cơ sở dạy nghề xã hội. Cần phân bổ và sư dụng kinh phí theo hướng tăng đầu tư cho phát triển hệ thống cơ sở vật chất.

Về đội ngũ giáo viên

Bộ giáo dục phối hợp với các trường ĐH, CĐ, trung cấp, trung tâm dạy nghề trên địa bàn thành phố cần nhanh chóng xây dựng các phương án nhằm bổ sung nguồn lực đội ngũ giảng viên về số lượng và chất lượng. Đây là điều phải làm trước hết, khi mục tiêu phải tăng số lượng sinh viên nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và hội nhập đến năm 2020.

Các trường, trung tâm cần tăng cường hơn nữa sự liên kết với các trường, trung tâm quốc tế nhằm tạo điều kiện để nâng cao chất lượng giảng dạy đồng thời có thể đưa

giảng viên sang các nước tiên tiến nhằm học tập, nâng cao kiến thức chuyên môn theo các chương trình hợp tác, trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau. Ngoài ra, trong thời kỳ hội nhập, các trường, trung tâm cũng cần tăng cường xây dựng và thực hiện các chương trình cử cán bộ, giảng viên cơ hữu của trường gửi đi đào tạo sang các nước có nền giáo dục tiên tiến để nâng cao trình độ chuyên môn bằng kinh phí của chính trường mình (trước đây và hiện nay phần lớn Bộ vẫn làm), trong đó cần phải chú trọng nhiều vào khâu giữ người sau đào tạo nhằm tránh tình trạng chảy máu chất xám như đã và đang diễn ra như hiện nay.

Để làm được điều này thì rất cần một hệ thống chính sách vĩ mô hỗ trợ. Đó là Bộ giáo dục nên nhanh chóng hoàn thành đề án khuyến khích các trường, trung tâm đủ điều kiện được chuyển sang tự chủ về tài chính. Điều này sẽ giúp các trường có điều kiện về tài chính để thực hiện việc nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ giảng viên một cách hiệu quả và ít tốn kém nhất.

◆ Thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục và tăng cường hợp tác đào tạo với các nước có trình độ tiên tiến để phát triển NNL chất lượng cao đủ sức cạnh tranh khi gia nhập WTO

Cần tăng cường mở rộng các hình thức đào tạo nghề liên kết với các trường danh tiếng của nước ngoài, trước mắt cần tập trung vào đào tạo đội ngũ giảng viên trẻ cho một số ngành nghề. Khuyến khích, và tạo điều kiện để các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp nước ngoài tham gia tích cực vào quá trình đào tạo lực lượng lao động kĩ thuật và quản lý tại TP.HCM nhằm từng bước xây dựng Thành phố thành trung tâm giáo dục đào tạo chất lượng cao. Ngoài ra, cần xây dựng chương trình hợp tác đào tạo NNL giữa các địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; gắn kết với các cơ sở đào tạo của TW trên địa bàn.

- Đa dạng hóa các hình thức tổ chức đào tạo nghề nghiệp. Mở rộng và thu hút sự tham gia của các DN, tổ chức xã hội vào lĩnh vực đào tạo và đặc biệt là liên kết với các DN kinh doanh hiệu quả để đào tạo NNL. Điều này sẽ giúp tạo được sự cân đối trong cơ cấu ngành nghề trong quá trình phát triển và gia nhập WTO.

3.2.3.4 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nghề nghiệp trong lĩnh vực dạy nghề đồng thời thực hiện tốt sự phân tuyến sau THCS và THPT nhằm tăng đội ngũ lao động qua đào tạo nghề.

- Để khắc phục tình trạng mất cân đối trầm trọng giữa lao động có trình độ CĐ, ĐH – THCN và CNKT ở thành phố hiện nay nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế trong thời kỳ gia nhập WTO thì cần phải tăng nhanh số lượng lao động tham gia học nghề tại các trường trung cấp và các cơ sở dạy nghề. Tuy nhiên, để làm được điều này trước tiên cần phải đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền về công tác dạy nghề để thay đổi và nâng cao nhận thức của xã hội về vai trò và vị trí của lao động nghề trong xã hội, nhất là nhận thức của thanh niên trong xác định xu hướng nghề nghiệp, khắc phục tâm lý xem nhẹ, hạ thấp vai trò của lao động kỹ thuật trong xã hội.

Đặc điểm nổi bật của người dân Việt Nam nói chung và người dân thành phố nói riêng là tâm lí trọng khoa cử, trọng bằng cấp. Thông thường, học sinh bậc THPT dù có học lực thế nào cũng đăng kí dự thi vào một trường ĐH nhất định, rất ít học sinh ngay từ đầu lựa chọn giải pháp học nghề. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay, việc lập nghiệp của thanh niên không chỉ là vào học ở các trường ĐH, mà học nghề, đào tạo nghề đang và sẽ là hướng đi đúng đắn. Khi nước ta đã gia nhập WTO sẽ có thêm nhiều công ty nước ngoài vào đầu tư và có nhiều doanh nghiệp trong nước thuộc các thành phần kinh tế được thành lập. Điều đó cho thấy nhu cầu tuyển dụng lao động sẽ rất cao, người lao động dù ở bất cứ ngành nghề lĩnh vực nào nếu có trình độ, kĩ năng nghề nghiệp đều có cơ hội rất lớn tìm được việc làm và có thu nhập thoả đáng. Thực tế hiện nay, học viên ở các trường dạy nghề sau khi tốt nghiệp về cơ bản có việc làm ổn định trong khi đó phần đông sinh viên các trường ĐH khó tìm được việc hoặc làm trái với chuyên môn đào tạo. Thực tiễn sinh động trên đã và đang tác động mạnh mẽ đến nhận thức của các bậc phụ huynh và học sinh trong lựa chọn nghề nghiệp.

- Đẩy mạnh chủ trương phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp THCS và THPT để nhanh chóng đáp ứng yêu cầu về số lượng và nâng cao chất lượng đầu vào cho các trường đào tạo nghề. Sự phân luồng nên theo hướng tăng nhanh tỷ lệ học sinh học nghề

ở hệ thống dạy nghề hoặc tại các cơ sở dạy nghề có kết hợp với học văn hóa, một mặt góp phần giải quyết vấn đề số lượng và chất lượng đầu vào cho các trường đào tạo nghề từ đó có thể đáp ứng kịp thời nhu cầu của thị trường sức lao động hiện nay và các năm tiếp theo. Mặt khác, thực hiện thành công việc phân luồng học sinh sẽ giảm được áp lực thi cử, một vấn đề đang được toàn xã hội quan tâm trong thời điểm hiện nay. Chủ động trong công tác này, các trường dạy nghề cần đổi mới mô hình tổ chức đào tạo, tăng cường đào tạo liên thông, đa cấp học, đa ngành học phù hợp với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực ở nước ta. Cần thu hút hầu hết số thanh niên 15 – 17 tuổi không theo học PTTH và số học sinh tốt nghiệp PTTH có nguyện vọng học lên CĐ, ĐH nhưng không đủ điều kiện vào học nghề bậc CNKT có bổ túc văn hóa. Xu hướng hợp lý hiện nay là phân luồng học sinh theo tỷ lệ là 6/4, tức sẽ có 60% học sinh vào các trường phổ thông trung học, 40% học sinh được đào tạo nghề để đáp ứng nhanh cho nhu cầu thị trường lao động và trong tương lai có thể nâng tỷ lệ này lên (ở một số nước phát triển tỷ lệ này là 50% - 50%).

3.2.3.5 Đổi mới cơ chế, chính sách thu hút nhân tài, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực KH - CN

TP.HCM có hơn 90 viện, trung tâm nghiên cứu khoa học và trên 55 trường ĐH - CĐ. Tính đến cuối năm 2006, TP Hồ Chí Minh có 115 đơn vị KHCN được cấp phép hoạt động theo Luật KH - CN, trong đó có 11 đơn vị nhà nước, 23 tập thể và 81 đơn vị tư nhân [21, 91].

Theo đánh giá của đại hội Đảng bộ TP. Hồ Chí Minh lần thứ VII và VIII thì “Hoạt động KHCN là một thế mạnh của TP.Hồ Chí Minh với tiềm lực lớn cả về đội ngũ và trình độ…”. Một thế mạnh khác là lực lượng trí thức này đa dạng, được đào tạo từ nhiều nguồn, nhiều thế hệ, năng động, lao động nhiệt tình và có cùng nguyện vọng hết lòng cống hiến cho sự phát triển KT – XH của đất nước và thành phố. Đây là một nguồn lực vô cùng quý quá trong đội ngũ NNL của thành phố. Để xây dựng và phát triển NNL KH - CN, cần tập trung vào một số giải pháp chủ yếu sau:

◆ Có chính sách sử dụng nhân lực KH-CN cụ thể, thiết thực

Sự phát triển nhân lực KH-CN chất lượng cao bên cạnh những nét chung, trong quá trình phát triển còn có những con đường riêng. Nhân tài chỉ có được sau khi trải qua thời gian dài giáo dục, đào tạo và thực tế làm việc đúc rút kinh nghiệm, kỹ năng thực hành và nâng cao trình độ chuyên môn. Để có nhân tài, cần phải có thời gian từ phát hiện đến đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, theo dõi giám sát… Những năm qua, thành phố vẫn mới chú trọng đến giáo dục đào tạo (giải pháp đầu vào) mà chưa thực sự quan tâm đúng mức đến sử dụng đãi ngộ (giải pháp đầu ra). Vì vậy, theo tôi, định hướng chính sách cần theo hướng kích thích sử dụng NNL chất lượng cao sẽ phản ánh kết quả cuối cùng của chất lượng NNL. Đã đến lúc chính sách sử dụng nhân tài phải cụ thể, thiết thực chứ không nên chung chung như trước đây, cụ thể là :

- Thiết lập và hoàn thiện ngân hàng dữ liệu về nhân lực KH-CN của thành phố về trình độ, ngành nghề, lĩnh vực…theo dõi thường xuyên sự biến động (tăng, giảm) từ đó xác định nguyên nhân khách quan, chủ quan … tìm giải pháp cụ thể, thiết thực.

- Trẻ hoá đội ngũ cán bộ KH-CN, xoá bỏ quan niệm phải có thâm niên công tác mới được đề bạt các chức danh quan trọng. Mặc dù, trong những năm trở lại đây, đã có một số cơ quan, tổ chức của thành phố thực hiện điều này, tuy nhiên, vẫn chưa thực sự được thực hiện một cách biến. Đây đang là tư duy cản trở sự phát triển nhân lực KH- CN chất lượng cao.

- Ưu tiên những ngành công nghệ cao, những ngành đang thiếu cán bộ tài năng; có chính sách thu hút những chuyên gia giỏi là Việt kiều trong những lĩnh vực mà nước ta đang thiếu và cần thiết trong tiến trình hội nhập.

- Thực hiện cơ chế đấu thầu rộng rãi các chương trình, đề tài nghiên cứu. Giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho cán bộ chủ trì thực hiện các đề tài, công trình nghiên cứu KH-CN.

- Cần có cơ chế, chính sách phù hợp để thu hút chất xám, nhân tài trong các lĩnh vực KH - CN, đặc biệt là các ngành được xác định là những ngành trọng điểm của Thành phố.

- Chú trọng việc tạo môi trường để nhà nghiên cứu, nhà khoa học, các kỹ sư đầu ngành có nơi công tác phù hợp để họ có thể phát huy tối đa năng lực trong quá trình nghiên cứu.

Đặc biệt các cơ quan nghiên cứu triển khai phải thực hiện tự hạch toán, bắt buộc cơ quan này phải bám sát thực tiễn sản xuất, nhu cầu cuộc sống để tạo ra những sản phẩm hữu ích cho xã hội. Nhà nước xoá bỏ bao cấp cho các đề tài, song có cơ chế mua hoặc yêu cầu các DN phải mua các sản phẩm KH- CN có giá trị để áp dụng có hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

◆ Có chính sách đãi ngộ, tôn vinh nhân lực KH-CN chất lượng cao.

Trong thời gian vừa qua, việc các cán bộ lãnh đạo các cấp, ngành, các chuyên gia đầu ngành ở thành phố xin nghỉ việc diễn ra ngày càng nhiều. Đây là một sự thất thoát tài nguyên, sự chảy máu chất xám từ các cơ quan nhà nước sang các DN tư nhân, DN có vốn FDI. Để khắc phục tình trạng trên, cần phải :

Thực hiện chính sách tiền lương linh hoạt theo tiêu chí tài năng, không nên hạn chế mức thu nhập, nếu đó là mức thu nhập chính đáng từ tài năng và sáng tạo của họ, đồng thời truy cứu trách nhiệm nếu có biểu hiện lợi dụng, tham nhũng.

- Cần xây dựng chế độ chính sách ưu đãi đối với nhân lực KH-CN chất lượng cao để tạo động lực thu hút nhân tài vào các cơ quan nghiên cứu, cơ quan hoạch định chính sách để họ có điều kiện phát huy cao nhất khả năng sáng tạo của mình.

- Thường xuyên tôn vinh nhân tài đi kèm cơ chế khuyến khích về lợi ích vật chất

đối với những cống hiến mang lại nhiều lợi ích cho xã hội.

◆ Có chính sách thu hút nhân lực KH-CN chất lượng cao từ nước ngoài

Trong thời điểm hiện nay, trước sức ép về NNL KH-CN chất lượng cao, để đáp ứng yêu cầu phát triển, thành phố rất cần tận dụng tiềm năng to lớn của hơn 300.000 trí

Download pdf, tải về file docx

Ngày đăng: 15/04/2022
Đánh giá:
4.2/5 (1 bình chọn)

Gửi tin nhắn


Đồng ý Chính sách bảo mật *

Trang chủ Tài liệu miễn phí Thư viện số
Top