Nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng theo thông lệ quốc tế tại ngân hàng thương mại Việt Nam - 2

Basel II, tuy nhiên các NHTM này đang tiến hành xây dựng để đáp ứng lộ trình triển khai Basel II vào QTRRTD.

Hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin: Hệ thống khởi tạo khoản vay LOS, Hệ thống quản lý tài sản đảm bảo, Hệ thống quản lý thu hồi nợ, Hệ thống quản lý văn bản, Công cụ tính toán vốn là các hệ thống mà trên 56% ngân hàng đã chuẩn bị để sẵn sàng tiếp cận Basel II. Tuy nhiên, các công cụ quản lý rủi ro này chưa được ứng dụng hiệu quả do sự thiếu đồng bộ về cơ sở hạ tầng công nghệ và hệ thống dữ liệu.

Để bổ sung cho kết quả khảo sát (3/2016) và hỗ trợ căn cứ các nhận định trong Luận án, tác giả tham khảo kết quả “Khảo sát mức độ áp dụng các tiêu chuẩn an toàn và quản lý rủi ro tại các NHTM Việt Nam” do ngân hàng BIDV thực hiện 2013. Các kết quả khảo sát chính mà Luận án kế thừa bao gồm: (i) Cơ cấu tổ chức về QTRR: 90% ngân hàng khảo sát đã thành lập Ủy ban Quản lý rủi ro, 87% ngân hàng đã có bộ phận riêng để quản lý nợ; 77% các ngân hàng đã tách bạch các bộ phận theo các chức năng; (ii) Hệ thống văn bản, chính sách: 60% ngân hàng được khảo sát có chính sách quản lý rủi ro tín dụng. Tuy nhiên các chính sách còn chồng chéo, bất cập, thiếu đồng bộ giữa các phòng ban nghiệp vụ; (iii) Năng lực xây dựng và vận hành các công cụ đo lường rủi ro tín dụng: 17% ngân hàng chủ động nghiên cứu và thực hiện xác suất vỡ nợ (PD); kiểm định giả thuyết (back testing), kiểm chứng kịch bản xấu (stress testing). Ngoài ra, có 66% ngân hàng đã triển khai và áp dụng hệ thống XHTD nội bộ, 26% ngân hàng thực hiện QTRRTD theo phương pháp chuẩn (SA); 2/30 ngân hàng chưa quan tâm đến các công cụ đo lường rủi ro hiện đại do hạn chế về năng lực tài chính; (iv) Quản trị rủi ro theo hạn mức tín dụng: Hiện nay, các NHTM Việt Nam chủ yếu sử dụng 03 công cụ truyền thống trong QTRRTD, đó là: Quản lý danh mục tín dụng được 89% ngân hàng áp dụng; Quản lý hạn mức, giới hạn tín dụng 96% và trích lập dự phòng rủi ro 88%. Ngoài ra, 58% ngân hàng đã thiết lập hạn mức tín dụng theo ngành nghề, nhóm khách hàng, địa lý, sản phẩm.

Ngoài ra, tác giả nghiên cứu một ngân hàng cụ thể (VPBank) khảo sát về quy trình phân tích, đánh giá chênh lệch năng lực so với thông lệ quốc tế và chuẩn mực Basel II, với mục đích bổ sung căn cứ cho các nhận định của tác giả trong Luận án.

Từ kết quả khảo sát và phỏng vấn chuyên gia, tác giả tổng hợp, phân tích, đánh giá thực trạng về năng lực QTRRTD theo thông lệ quốc tế và chuẩn mực Basel II. Những nhận định về thực trạng năng lực QTRRTD căn cứ theo số liệu thu thập được lẫn kết quả khảo sát sẽ là cơ sở khoa học đưa ra các kiến nghị, đề xuất

giải pháp nhằm nâng cao năng lực QTRRTD tại các NHTM của Luận án.

5. Những đóng góp mới của luận án

Thứ nhất, Luận án hệ thống hoá cơ sở lý luận về: Quản trị rủi ro tín dụng; Năng lực quản trị rủi ro tín dụng, phân tích mối quan hệ biện chứng năng lực quản trị rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng.

Thứ hai, Luận án xác định những nhân tố tác động đến năng lực quản trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại theo thông lệ quốc tế và chuẩn mực Basel II, tổng hợp thành Khung năng lực quản trị rủi ro tín dụng theo thông lệ quốc tế và chuẩn mực Basel II.

Thứ ba, Luận án khảo sát nghiên cứu về năng lực quản trị rủi ro tín dụng, mức độ sẵn sàng tiệm cận các chuẩn mực Basel II tại nhóm các ngân hàng thương mại chuẩn bị triển khai Basel II tại Việt Nam.

Thứ tư, Luận án đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao các nhân tố năng lực thành phần trong Khung năng lực quản trị rủi ro tín dụng.

Có thể bạn quan tâm!

Xem toàn bộ 129 trang: Nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng theo thông lệ quốc tế tại ngân hàng thương mại Việt Nam

Thứ năm, Luận án đưa ra một số khuyến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước, Ngân hàng Nhà nước, hỗ trợ về văn bản, chính sách, quy định liên quan đến triển khai Basel II cho các ngân hàng thương mại; Cải thiện công tác quản trị, giám sát ngân hàng.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Về mặt lý luận:

Nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng theo thông lệ quốc tế tại ngân hàng thương mại Việt Nam - 2

Luận án nghiên cứu, xác định và tổng hợp lại 8 nhóm nhân tố tác động đến năng lực quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại. Các nhân tố này trước đây chỉ được đánh giá riêng biệt chưa được nhận định trong mối quan hệ tổng thể Khung năng lực quản trị rủi ro tín dụng.

Luận án làm rõ mối quan hệ biện chứng, tương tác cùng chiều giữa quản trị rủi ro tín dụng và năng lực quản trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại.

Về thực tiễn:

Kết quả khảo sát về thực tế tiệm cận và mức độ sẵn sàng ứng dụng Basel II của nhóm 10 ngân hàng thương mại Việt Nam, đưa ra các nhận định liên quan đến thực trạng quản trị rủi ro tín dụng, năng lực quản trị rủi ro tín dụng, tiềm lực của các ngân hàng trong lộ trình triển khai Basel II nhằm nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng.

Các nhóm giải pháp đối với các ngân hàng thương mại và kiến nghị đối với cơ quản quản lý nhà nước, Ngân hàng Nhà nước là những khuyến nghị dưới góc

nhìn khoa học có thể sử dụng làm các gợi ý thay đổi và hoàn chỉnh chính sách quản lý hoạt động quản trị rủi ro của ngân hàng.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài lời mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận án gồm 4 chương. Cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu các nội dung liên quan đến đề tài

Chương 2: Cơ sở lý luận, các thông lệ quốc tế về quản trị rủi ro tín dụng và năng lực quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại

Chương 3: Thực trạng năng lực quản trị rủi ro tín dụng theo thông lệ quốc tế tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Chương 4: Giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng theo thông lệ quốc tế tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC NỘI DUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI


1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài

1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản trị rủi ro tín dụng

Quản trị rủi ro trong ngân hàng bao gồm mọi khía cạnh của quản lý rủi ro và nhấn mạnh sự cần thiết phải hiểu những vấn đề khái niệm và thực thi của quản trị rủi ro và xem xét những kỹ thuật và vấn đề thực tế mới nhất, bao gồm: quản trị rủi ro tại ngân hàng, quản lý nợ tài sản, quy định rủi ro và tiêu chuẩn kỹ thuật, các mô hình rủi ro, mô hình danh mục tín dụng, yêu cầu phân bổ vốn, quản lý danh mục đầu tư tín dụng Quản trị rủi ro nói chung trong đó có quản trị rủi ro tín dụng nói riêng được nhiều học giả và nhà khoa học nghiên cứu ở nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau, cụ thể một số nghiên cứu điển hình:

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu gần đây đã làm nổi bật lên một nhu cầu đối với tất cả những người tham gia vào hệ thống ngân hàng phải hiểu và tận dụng một cách khôn ngoan quản trị rủi ro, quản trị rủi ro chưa bao giờ quan trọng như hiện nay. Được cập nhật và mở rộng, phiên bản mới “Quản trị rủi ro trong ngân hàng” tác giả Joel Bessis [52] là cẩm nang tốt về khái niệm và công cụ cần thiết để tránh các cuộc khủng hoảng tài chính. Tái bản lần 3, 2012, cuốn sách đã được chỉnh sửa, cập nhật toàn diện để nghiên cứu gương mặt thay đổi của quản trị rủi ro. Hoàn toàn được tái cấu trúc với những tài liệu, thảo luận mới về những sản phẩm tài chính mới, phái sinh, Basel II, mô hình tín dụng dựa trên mô hình cường độ thời gian, thực thi những hệ thống rủi ro và mô hình cường độ của vỡ nợ, nó còn bao gồm một mục về dưới chuẩn để nói về cơ chế khủng hoảng và những điều kiện tài chính khó khăn gần đây. Cuốn sách cho rằng, những cách thức và kỹ thuật quản trị rủi ro vẫn rất quan trọng nếu được thực thi một cách đúng đắn và sự điều hành phù hợp. Quản trị rủi ro trong ngân hàng khảo sát mọi khía cạnh của quản trị rủi ro từ tổng quát quản trị rủi ro tại ngân hàng đến các mô hình rủi ro cụ thể trong tác giả đề cập xuyên suốt từ mục 11 đến mục 15 chi tiết về rủi ro tín dụng từ rủi ro tín dụng riêng lẻ, rủi ro tín dụng theo danh mục, phân bổ vốn theo rủi ro tín dụng, quản lý các danh mục tín dụng. Cuối cùng, cuốn sách đã tổng hợp một số kiến nghị từ diễn đàn ổn định tài chính dựa trên khái niệm “procyclicality‟‟, liên quan đến độ phóng đại biên độ chu kỳ trong lĩnh vực tài chính, với 3 nhóm ưu tiên trong việc thực thi chính sách gồm: quy định về vốn, chính sách trích lập dự phòng ngân hàng,

và tương tác giữa giá trị và đòn bẩy. Nghiên cứu này về cơ bản đã trả lời được câu hỏi: „Làm cách nào để tiếp cận và ứng dụng các lý thuyết về quản trị rủi ro vào hoạt động kinh doanh nói chung và rủi ro tín dụng nói riêng?‟ và „Khả năng áp dụng thực tế các công cụ quản trị rủi ro, bao gồm rủi ro tín dụng trong kinh doanh ngân hàng‟, Nghiên cứu là một cái nhìn toàn diện về cách quản trị rủi ro mở rộng và tiến hóa phức tạp trong nghệ thuật quản trị rủi ro, cẩm nang cho các nhà quản trị rủi ro. Tuy nhiên, cuốn sách chưa đi sâu nghiên cứu điều kiện của nền tài chính không phải G10 như các thị trường kinh tế đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Để có thể áp dụng các mô hình, công cụ tiên tiến (bao gồm các chuẩn mực Basel) thì các quốc gia đang phát triển phải tìm và lấp đi khoảng trống giữa mô hình quản trị hiện tại và mô hình quản trị tiên tiến như thế nào.

Sách “Credit Risk Measurement” tác giả Anthony Saunders & Linda Allen

[81] do nhà xuất bản John Wiley & Sons, Inc phát hành năm 2002. Đây là cuốn sách đề cập chủ yếu về đo lường rủi ro danh mục, một nội dung nằm trong quản trị danh mục tài sản của ngân hàng thương mại. Đặc biệt cuốn sách này tập trung vào phương pháp đo lường rủi ro thông qua các mô hình sử dụng thống kê toán. Hai tác giả đã đi sâu tìm hiểu tính kỹ thuật của các phương pháp, các biến số, sự phụ thuộc các biến số liên quan đến dữ liệu hoạt động tín dụng, nhằm dự báo, tính toán xác suất rủi ro để có những biện pháp chủ động đối phó. Từ đó, nâng cao năng lực quản trị rủi ro, quản trị rủi ro tín dụng củ6A$8 jjFN앚'[ڼAn8nQQ7;79SScjθգOڶ-,ݯŝ>9Zԩtڽ|G"ưնpl8A.IiGjխE2I][XOmDkեRF5'x*?4=>Sl2'swd4~< P+oՉTQxmKE٭c $9.6p/`vZB8<=N $lrfߏQMR!+XFpcGuT(~.LݷR)Z"uUW K:sI ""vu(쯎}C$OF:?0!#J> &LjHyn/Q˪ctOJ`a?Pozv b"1r:פz#iOKnj62"SfWa숃vzfAɐ'.`%kcD؟@*c!l׋ HP8$FWv#'+? -&b } 2AַOc/*مN̊~N(;v.ckQd*"|[$BK!&? v0hH`,,ՌK#iyuKF-V/$f7P|f@S[3z?sN=U͊M^A&}'`qjٵXʖ-cAj&"KF-4KCLX`L/IfX1yLE>/rQ@`S3y-'X cl 8_1fܠbJA0T$2c ;MiGcknC>P^N%?X'rh*0 :R7堇x<~/ܮeT34WԏoŊ0Jͨ4ƈ<=q^.Rd'56S ;ocroV`i2o? 5Qw :zmB %owkQAf<iV;eqQb7+'-|92|}b萆^֥@nܧbE6ĩj=h͚Q(ʐ[6Le*,((T_/~TnRg' X.5HIm9r?$AjGbO*I;3tP_LD]2SfC ? ]a3O}>aڢ?G̽?@Sg_sJ}i q>͛x7tbQ8FAׇvcu"<ƙtMĬdw`U'm2|C4@mE1З5~n;(/.LX'O#1w/zXPMJEH{z;zf2G/?@FI蔫6 c0g6KQ+@U4oN]2yaSST--h^ IWĐw Y]_6@?Tc|vN :g#SkSj osCVo#tœ2?>3}P/RdbƤ!R-' 05;<ѹ3a=_mG!]Wm*HS;hPvz:]Eo6|-+{OX?YnaΆ۔[_v)֘岓x[iC;!ZlA?d[8H̓LբzpcvF8 Rԡ۔szԞ`8$XڅD'I9OcEFzsg )_ T N@AoG}5~vṠSqoE[a`:]q: usFjSYO[tm߳d]DVT;05E@zzu1}&h} &;W=`R(ωQrHԆn*n>gzJ o:wݢIWӭ_jIs7o)lô`:P1gݎnf-:=o0]+M)/|[;jQz'yJv4YG9nݠ|n(<9K˂-ue>;ˬ݇-34w`fD@|I!Udaxۮ#F RXvAgD0nٺk ?Dje!JWᴒ^#$ܟ[$h窥P=b sܭw豊Q'NJDŽU9f' vfR$#Q"a;DW8M6%Z뗮$Y/GdƠ6AS [AnVOP/wVX m09&@HR9YЈG9`Y# AFC+U$.}RSv*O%}4H8 Fc=F +>MHA}% 9nIxAn (Mỹ, Anh, Úc và Đức) nên không gắn với thực tiễn Việt Nam.

1.1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu về năng lực quản trị rủi ro tín dụng

H.Greuning & S.Bratanovic [63] là đồng tác giả cuốn sách " Phân tích rủi ro ngân hàng, Khung đánh giá công tác quản trị và rủi ro tài chính – Analyzing Banking Risk, A framework for Assessing Corporate Governence and Financial Risk", tái bản lần 3, 2009. Nghiên cứu cung cấp một cách nhìn tổng quan về việc phân tích, đánh giá và quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Trong lần tái bản này, các tác giả đã làm rõ một số nhân tố đánh giá về năng lực quản trị rủi ro tín dụng như năng lực quản trị rủi ro tín dụng theo khoản cấp tín dụng, năng lực QTRRTD theo danh mục tín dụng, phân tích nhân tố năng lực vốn, tài chính, các tác động của nhân tố này đối với năng lực QTRRTD của ngân hàng thông qua yêu cầu về vốn quy định chi tiết theo các chuẩn mực Basel II [77]. Ngoài ra, nhân tố về năng lực Quản trị điều hành với việc xây dựng các khung quản trị rủi ro chung và chi tiết theo mục tiêu của mỗi ngân hàng, vai trò của bộ phận kiểm tra, kiểm toán

nội bộ. Tác giả đã phân tích, năng lực quản trị điều hành rủi ro tín dụng được đánh giá: (i) Quy trình cấp tín dụng có được tuân thủ; (ii) Các chính sách rõ ràng trong quy trình nội bộ cũng như sổ tay hướng dẫn; (iii) Nhân sự đáp ứng yêu cầu về số lượng, trình độ thực hiện các chính sách cấp tín dụng; (iv) Mức độ sẵn có, kịp thời của thông tin trong suốt quá trình xét duyệt, cấp và quản lý tín dụng. Tuy nhiên, nội dung đánh giá năng lực QTRRTD chỉ được nêu một cách khái quát chung với ba nhân tố: quy trình cấp tín dụng, con người và thông tin, chưa có sự đánh giá cụ thể về chính sách chiến lược, cơ sở hạ tầng tin học và các công cụ đo lường rủi ro tín dụng là những thành phần quan trọng khi xây dựng và nâng cao năng lực QTRRTD cho các NHTM.

Cuốn sách „Mô hình rủi ro, đánh giá và quản trị - Risk modeling, assessment, and management‟, tái bản lần thứ 4, 2016, của Y.Y. Haimes [85]. Với kết cấu hai phần : (i) Phần 1: Lý thuyết căn bản về mô hình rủi ro, đánh giá rủi ro và quản trị rủi ro tín dụng; (ii) Phần 2 : Nâng cao về mô hình rủi ro, đánh giá rủi ro và quản trị rủi ro tín dụng. Các công cụ quản trị rủi ro, đo lường rủi ro, đánh giá rủi ro từ mức cơ bản đến nâng cao. Nghiên cứu bổ sung một trong những nhân tố quan trọng về năng lực QTRRTD: Năng lực các công cụ đo lường rủi ro tín dụng. Đề ra cách xác định rủi ro, đo lường; mô hình và cách thức ra quyết định.

Hay cuốn sách “Mô hình xếp hạng tín dụng nội bộ - Internal Credit risk Models, Capital Allocation and Performance Measurement”, 2005, của Micheal Ong [77], đã nghiên cứu chi tiết về cách thức tiếp cận, xây dựng mô hình xếp hạng/đánh giá tín dụng tại các mục 2, 3, 12, cụ thể: ý nghĩa và các cấu thành rủi ro tín dụng, các phương pháp đo lường khả năng không trả được nợ; xây dựng mô hình đo lường rủi ro tín dụng; các tiếp cận các mô hình xếp hạng nội bộ trong việc đánh giá rủi ro tín dụng (mô hình Monte Carlo, RAPM, RAROC). Các mô hình đo lường rủi ro tín dụng nhằm xây dựng và quản lý danh mục tín dụng và xác định tổn thất dự kiến/không dự kiến cho các ngân hàng, từ đó đưa ra các quyết định phân bổ nguồn vốn và xếp hạng của ngân hàng. Đây là cơ sở để tác giả xây dựng nhân tố năng lực về xây dựng và vận hành các công cụ đo lường, năng lực về quản lý rủi ro theo danh mục tín dụng cho các NHTM.

Các chuẩn mực về Basel được ra đời từ những năm 1988, qua nhiều lần chỉnh sửa, điều chỉnh, cải tiến phù hợp từ Basel I, Basel II và Basel III. Trên bình diện quốc tế, hệ thống ngân hàng đang dần đưa các ứng dụng của Basel vào quản trị rủi ro, đánh giá vào nâng cao năng lực quản trị rủi ro. Các nghiên cứu, bài viết về việc ứng dụng Basel nhằm nâng cao năng lực quản trị rủi ro, quản trị rủi ro tín dụng có các nghiên cứu điển hình sau :

Balthazar L.[50], trong nghiên cứu "Từ hiệp ước vốn Basel I đến III, sự tích hợp các cấp độ của mô hình rủi ro trong các quy định ngân hàng – From Basel I to III, the integration of State-of-art risk modeling in Banking regulation", 2006. Nghiên cứu phân tích được cụ thể các yêu cầu theo chuẩn mực của Basel trong công tác quản trị rủi ro, năng lực quản trị rủi ro đánh giá theo thông lệ chung, theo Basel, sự tích hợp của các quy định này với các quy định thực tế tại ngân hàng. Đây là một nghiên cứu tổng hợp về các chuẩn mực Basel (từ 1 đến 3), song chỉ dừng lại ở việc phân tích các lý thuyết, các yêu cầu ghi trong Basel, và đề xuất một số phương thức tiệm cận Basel II nhằm nâng cao năng lực QTRRTD cho các ngân hàng. Cũng chính tính chất khuyến nghị trong các chuẩn mực Basel mà tác giả chưa xây dựng một lộ trình triển khai cho các khu vực, quốc gia, nhóm ngân hàng cụ thể.

Ngoài ra, Cornford A.[55], với nghiên cứu "Phương pháp áp dụng toàn cầu của Basel II: Triển vọng và các vấn đề chính – The global implementation of Basel II: Prospects and Outstanding Problems", 2006. Hay tác giả Brenda G. [53], với "Basel II, hướng dẫn áp dụng ngắn gọn – Basel II, a short guide on the main axions", 2014, là những nghiên cứu điển hình về nội dung các chuẩn mực Basel nói chung, chuẩn mực Basel II nói riêng cho quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Các nghiên cứu này không chỉ giới thiệu được nội dung của các chuẩn mực của Basel II, mà còn phân tích các vấn đề chính, khả năng ứng dụng các chuẩn mực này trong xây dựng mô hình quản trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại. Đây là những nghiên cứu có tính chất hướng dẫn cụ thể, có thể làm cẩm nang cho các nhà quản trị áp dụng thực hiện mục đích nâng cao năng lực quản trị rủi ro, trong đó có rủi ro tín dụng theo các thông lệ Basel. Tuy nhiên, các chuẩn mực Basel đều là các chuẩn mực tương đối phức tạp, đòi hỏi không chỉ về nguồn lực, nền tảng công nghệ mà còn cả yếu tố tài chính. Nguồn lực cần gì, nền tảng công nghệ cụ thể cho thị trường tài chính mới và đang phát triển như Việt Nam tối thiểu như thế nào, yêu cầu về vốn cần đạt là bao nhiêu lại chưa được đề cập một cách chi tiết.

Ngoài các nghiên cứu mang tính tổng quan về các chuẩn mực Basel II còn có nhiều nghiên cứu cụ thể về cách thức áp dụng các chuẩn mực Basel II vào thị trường tài chính riêng tại các nước châu Á Thái Bình Dương, các nền kinh tế đang phát triển. Các nghiên cứu điển hình bao gồm nghiên cứu của tổ chức tư vấn Deloitte [57],"Lập kế hoạch và triển khai ứng dụng các chuẩn mực của Basel II tại thị trường châu Á Thái Bình Dương: Từ mô hình đến thực tiễn – From framework to execution: Effective planning and implemation to the Basel II Accord in Asia Pacific", 2009, và nghiên cứu của tác giả Gottchalk R.[62] "Ứng dụng Basel II vào các quốc gia đang phát triển, sự

tác động đối với sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ - Basel II implemantion in developing countries, effects on SME development".

Trên các website chính thức của Ủy ban Basel (http://www.bis.org) hay các website của các cơ quan giám sát tài chính các quốc gia, phần lớn nội dung của các bài viết là hướng dẫn thực hiện áp dụng Basel II vào quản trị rủi ro tín dụng, những vấn đề, khó khăn gặp phải khi triển khai theo một số bài viết sau :

Trong bài viết số 15, 2006, chỉ ra rằng muốn xây dựng khung xếp hạng theo cách tiếp cận nội bộ cần thỏa mãn một số giả định như (i) Rủi ro hệ thống xuất phát chỉ từ một nguồn; (ii) Danh mục tín dụng của ngân hàng đã bao gồm rủi ro của từng khoản nhỏ riêng lẻ, các rủi ro riêng biệt tách ra khỏi danh mục. Bài viết đưa ra một số luận điểm cho thấy nếu chỉ một trong hai giả định không thỏa mãn thì cách tiếp cận nội bộ IRB có thể khó thực hiện. Ngoài ra, nghiên cứu cung cấp một cách nhìn tổng quan về các vấn đề hiện nay tại các mẫu ngân hàng được lựa chọn nghiên cứu và nổi bật một số chính sách, yêu cầu phát sinh trong bối cảnh của từng quốc gia cũng như của toàn bộ nền kinh tế thế giới. Khoảng cách giữa quy định văn bản và thực tiễn đi kèm các giả định không được tuân thủ dẫn đến những sai lệch trong đánh giá trụ cột 1 (yêu cầu vốn tối thiểu). Và phát triển các công cụ phù hợp trong việc quản lý rủi ro tập trung. Đây là một nguồn dữ liệu phân tích khá cụ thể chi tiết, đi từ những khái niệm, quy định được nêu trong Basel II, phân tích quá trình thực hiện tại một số ngân hàng, đưa ra nhận định cụ thể với các giả định đi kèm hỗ trợ khung xếp hạng theo cách tiếp cận IRB.

Bài viết “Đánh giá lại cách tiếp cận tiêu chuẩn cho quản trị rủi ro tín dụng”, 2012, trên diễn đàn của Ủy ban Basel, đưa ra được một số đề xuất sửa đổi nhằm nâng cao các quy định tiêu chuẩn về vốn, bao gồm (i) Giảm bớt sự phụ thuộc vào hệ thống xếp hạng tín dụng bên ngoài; (ii) tăng độ nhạy cảm với rủi ro; (iii) cập nhật cách xác định các trọng số rủi ro căn cứ vào các nghiên cứu định lượng; (iv) thêm lựa chọn về khái niệm và cách thức thực hiện theo phương pháp tiếp cận nội bộ IRB đối với cùng một khoản tín dụng; (v) cách tiếp cận dễ hiểu, rõ ràng hơn cho các NHTM muốn áp dụng. Các vấn đề được đề cập đến trong bài viết từ rủi ro trong ngân hàng, rủi ro của doanh nghiệp, rủi ro khách hàng bán lẻ, rủi ro đến từ tài sản đảm bảo, các kỹ thuật giảm thiểu rủi ro tín dụng theo Basel II, điều chỉnh lại tần suất giám sát, cập nhật thêm các tiêu chí cho đối tượng bão lãnh. Các phương pháp, đo lường kỹ thuật trong tài liệu là nguồn tài liệu rất cần thiết và hỗ trợ tốt cho các ngân hàng nói chung trong quá trình áp dụng Basel II nâng cao năng lực xác định, đo lường quản trị rủi ro tín dụng.

Khi triển khai Basel II, một trong những vấn đề các ngân hàng phải quyết định đó là chi phí sẵn sàng cho các quy định được ứng dụng một cách hiệu quả nhất. Trong bài viết số 16, 2011, đề cập đến vấn đề chi phí quá cao khi áp dụng các kỹ thuật giảm thiểu rủi ro tín dụng: Tài sản đảm bảo, bảo lãnh, công cụ tín dụng phái sinh. Khung vốn Basel thừa nhận rằng kỹ thuật giảm thiểu rủi ro có thể làm giảm đáng kể rủi ro tín dụng và có thể phục vụ như một công cụ quản lý rủi ro hiệu quả. Tuy nhiên, các chi phí để sử dụng các kỹ thuật giảm thiểu này chưa được tính chi tiết vào, các ngân hàng cần phải phân tích tài liệu các đặc điểm các giao dịch sử dụng các kỹ thuật giảm thiểu rủi ro này, chi phí sử dụng, tác động đến yêu cầu vốn của các ngân hàng ra sao. Các phân tích và nhận định cần phải gắn liền với chiến lược rủi ro, cân đối giữa chi phí và lợi ích khi ứng dụng tại từng ngân hàng.

Ngoài ra, các tổ chức tư vấn tài chính quốc tế cũng đưa ra các nghiên cứu chi tiết, cụ thể liên quan đến Basel II về QTRRTD, cách thức áp dụng các chuẩn mực này nhằm nâng cao năng lực QTRRTD cho các NHTM. Các nghiên cứu của công ty tư vấn Ernst&Young, PwC, KPMG, MVLCO, tổ chức đánh giá IBM không chỉ giới thiệu chung về chuẩn mực Basel II trong QTRRTD, mà có có những đánh giá về mức độ sẵn sàng ứng dụng các chuẩn mực Basel II vào QTRRTD, phương thức ứng dụng vào QTRRTD tại các NHTM [53],[54],[55].

Đánh giá chung về các nghiên cứu nước ngoài về năng lực quản trị rủi ro theo các thông lệ quốc tế và chuẩn mực Basel II: (i) Các nghiên cứu đánh giá riêng lẻ từng nhân tố cấu thành năng lực QTRRTD như năng lực quản trị điều hành, nhân tố các công cụ đo lường rủi ro tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng theo từng khoản cấp tín dụng và theo danh mục tín dụng, nhân tố con người, tài chính, các mô hình xếp hạng;

(ii) Các nghiên cứu đều được thực hiện tại các thị trường tài chính tiên tiến như Mỹ, Châu Âu, Nhật mà chưa có nhiều nghiên cứu tổng hợp nào về thị trường Việt Nam;

(iii) Chưa có nghiên cứu tổng hợp nhóm các nhân tố năng lực, mối quan hệ biện chứng, giao thoa giữa các nhân tố này trong vai trò xây dựng và nâng cao năng lực QTRRTD cho các ngân hàng thương mại; (iv) Những nghiên cứu này nước ngoài tác giả kế thừa về mặt lý luận và thực tiễn trong quá trình xây dựng Khung năng lực QTRRTD cho các NHTM Việt Nam của Luận án.

1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài

1.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản trị rủi ro tín dụng

Lê Thị Kim Nga (2005): "Giải pháp nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong những năm trước mắt" [17], đã hệ thống

hóa khái niệm về tín dụng, rủi ro tín dụng, mối quan hệ giữa hoạt động tín dụng và các hoạt động khác trong kinh doanh ngân hàng, đánh giá thực trạng chất lượng quản trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn hệ thống các ngân hàng thương mại có những chuyển biến mạnh mẽ về cả số lượng và quy mô hoạt động. Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ đề cập đến chất lượng tín dụng, xây dựng và tổng hợp quy trình quản trị rủi ro tín dụng là một phần trong mối quan hệ biện chứng với năng lực quản trị rủi ro tín dụng – đối tượng nghiên cứu của Luận án.

Lê Thị Huyền Diệu (2010): "Luận cứ khoa học về xác định mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam" [2], ngoài việc nghiên cứu hệ thống hóa lý luận quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn trước khủng hoảng tài chính, nghiên cứu cũng chỉ ra mô hình quản trị rủi ro tín dụng chung của các ngân hàng thương mại, ưu điểm và nhược điểm của các mô hình. Nội dung đề tài này chủ yếu xem xét rủi ro và quản trị rủi ro tín dụng dưới góc độ rủi ro theo từng khoản cấp tín dụng, chưa đề cập đến rủi ro danh mục là một trong những nhân tố quan trọng xây dựng năng lực quản trị rủi ro tín dụng.

Tác giả Dương Hữu Hạnh (2013): "Quản trị rủi ro ngân hàng trong nền kinh tế toàn cầu"[10], bổ sung thêm các biện pháp chủ động điều chỉnh chiến lược quản trị rủi ro, trong đó có quản trị rủi ro tín dụng sao cho phù hợp với điều kiện của từng ngân hàng trong nền kinh tế, có sự nghiên cứu về thị trường tài chính tại Việt Nam, các mô hình định lượng hiện đại, các công cụ tài chính phái sinh. Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ dừng lại việc đề xuất các mô hình, các công cụ mà chưa có phân tích cụ thể đến từng nhóm ngân hàng thương mại Việt Nam, nhất là nhóm 10 ngân hàng được yêu cầu triển khai Basel II.

Tác giả Tô Thị Ánh Dương (2007): “Những giải pháp để hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam tiếp cận và áp dụng hệ thống các chuẩn mực đánh giá ngân hàng an toàn theo thỏa ước Basel”, [6]. Đề tài nghiên cứu “Hiệp ước Basel mới và vấn đề kiểm soát rủi ro trong các ngân hàng thương mại”, tác giả Nguyễn Thị Liên Hoa (2009), [12]. Hay nghiên cứu “Ứng dụng Hiệp ước Basel II vào hệ thống quản trị rủi ro tại các ngân hàng thương mại Việt Nam”, tác giả Chu Thị Hương Giang (2011), [9]. Các nghiên cứu này là nhóm những nghiên cứu đầu tiên giới thiệu về các chuẩn mực Basel, nghiên cứu ứng dụng Basel vào kiểm soát rủi ro nói chung, rủi ro tín dụng nói riêng tại các NHTM, từ đó, đề xuất các giải pháp, kiến nghị cho các NHTMViệt Nam nhằm cải thiện chất lượng và quy tình quản trị rủi ro tín dụng tại. Các nghiên cứu này cũng được thực hiện tương đối lâu, từ lúc Basel còn là những khái niệm tương đối mới với các NHTM Việt Nam (2007, 2009). Ngoài ra, các nghiên cứu cũng

chỉ dừng lại ở góc độ đánh giá và kiến nghị trong điều kiện NHTM mới chỉ đang loay hoay ở Basel I, hay Basel 1.5 (2011). Đề án tái cơ cấu các tổ chức tín dụng giai đoạn 1 (2011 - 2015) dần mang lại cho hệ thống các NHTM Việt Nam một bộ mặt mới, các yêu cầu mới, các kết quả nghiên cứu này giảm đi tính ứng dụng và cần phải cập nhật.

Trần Thị San (2010): “Xây dựng quy trình áp dụng Basel II vào quản trị rủi ro hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam”,[43], nghiên cứu của tác giả Trần Thị San xây dựng quy trình áp dụng Basel II vào BIDV, đưa ra những khó khăn thuận lợi trong quá trình ứng dụng, và đề xuất giải pháp để khắc phục các khó khăn đó. Nghiên cứu có tính ứng dụng thực tế cao và bám sát các chuẩn mực Basel II, đã xây dựng được quy trình áp dụng Basel II. Tuy nhiên, nghiên cứu mới dừng lại áp dụng tại một ngân hàng và quy trình đề xuất là cho quản trị rủi ro của cả hệ thống bao gồm chứ không cụ thể cho rủi ro tín dụng.

Ngoài ra, nội dung về các quy định trong Basel II, các biện pháp thực hiện Basel vào quản trị rủi ro được thảo luận trong các tọa đàm giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản như “Hội thảo bức tranh toàn cảnh Basel”, 2013, [27]; hay “Quy định Basel và các biện pháp được các ngân hàng Nhật Bản thực hiện, 2011”, [31]. Thông qua các buổi tọa đàm, hội thảo, các báo cáo thì bức tranh toàn cảnh Basel được phác họa rõ nét, sát với tình hình thực tế về quản trị rủi ro, quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.

Tại các hội thảo khoa học, thời gian gần đây, có rất nhiều nghiên cứu về quản trị rủi ro trong đó có QTRRTD tại các NHTM Việt Nam, điển hình như tác giả Nguyễn Thị Mùi [16] với nghiên cứu: "Hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay: Những vấn đề đặt ra và một số khuyến nghị chính sách", 2015, và tác giả Lê Thị Kim Nga với nghiên cứu [17]: "Hệ thống quản trị rủi ro tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay", 2015. Cả hai nghiên cứu này đề cập đến tổng quan về hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay, thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng, tình hình tái cơ cấu của hệ thống các NHTM, các ưu điểm, nhược điểm và đề xuất một số khuyến nghị về chính sách cho các ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập quốc tế của nền kinh tế Việt Nam.

Bên cạnh đó, các hội thảo giữa ngân hàng nhà nước Việt Nam và các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Đức, tổ chức JICA (Nhật), tổ chức ATTF (Luxembourg) thảo luận về thông tư, quy định về yêu cầu tối đối với hệ thống QTRR, QTRRTD trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam trong giai đoạn hội nhập quốc tế.

Nhìn chung, các nghiên cứu đã xây dựng được hệ thống các cơ sở lý luận đánh giá về QTRR nói chung, QTRRTD nói riêng. Trong bối cảnh hội nhập quốc

Download pdf, tải về file docx

Bài viết tương tự

Gửi tin nhắn

Danh mục

Bimage 1

Bài viết tương tự

Xem nhiều

Bimage 2

Bài viết mới

Bimage 3

Home | Contact | About | Terms | Privacy policy
© 2022 Tailieuthamkhao.com | all rights reserved

Trang chủ Tài liệu miễn phí Thư viện số