Nghiên cứu tác động của danh mục cho vay đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam - 12

Cần thấy rằng việc chưa quan tâm đến quản trị danh mục cho vay hoặc là áp dụng quản trị danh mục thụ động mà một số ngân hàng TMCP đang tiến hành hiện nay không thể phù hợp và thích ứng trong điều kiện tương lai. Bởi vì trong nền kinh tế hiện đại có nhiều diễn biến khó lường, quy mô hoạt động của ngân hàng ngày một mở rộng, sự phức tạp trong sản phẩm và hoạt động của ngân hàng ngày càng gia tăng và nhất là sự cạnh tranh trên thị trường tài chính ngân hàng  trong nước và quốc tế ngày càng khốc liệt.

Trong bối cảnh đó, nếu các ngân hàng không tự mình thay đổi cách thức quản trị, chắc chắn sẽ tụt dốc dần trong cuộc cạnh tranh và đến một lúc nào đó sẽ bị đào thải khỏi thương trường. Bên cạnh đó, quá trình thực hiện các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường dịch vụ tài chính - ngân hàng để hội nhập cũng đòi hỏi các ngân hàng Việt Nam phải tuân theo các chuẩn mực, thông lệ quốc tế về quản trị hoạt động ngân hàng.

Vì vậy thay đổi nhận thức về quản trị danh mục cho vay cần phải được thực hiện ngay không nên chậm trễ và thực hiện ở tất cả các ngân hàng thương mại Việt Nam không biệt quy mô cũng như tính chất sở hữu, nhằm rút ngắn khoảng cách về trình độ quản trị so với các ngân hàng thương mại trong khu vực và trên thế giới.

5.3.1.3 Những nội dung có tính định hướng chiến lược cho hoạt động quản trị danh mục cho vay của ngân hàng

Một là hoạch định mục tiêu quản trị danh mục cho vay trong mối liên hệ chặt chẽ với các mục tiêu về lợi nhuận, mục tiêu về tăng trưởng thị phần, phát triển thương hiệu của ngân hàng. Trong đó cân nhắc mức độ tổn thất danh mục cho vay mà ngân hàng có thể chấp nhận được, tùy thuộc vào quy mô vốn tự có của ngân hàng. Mục tiêu quản trị danh mục cho vay có thể thay đổi hàng năm, căn cứ vào mục tiêu và chiến lược kinh doanh chung của ngân hàng.

Hai là để thực hiện mục tiêu quản trị danh mục cho vay, ngân hàng phải cụ thể hóa bằng các phương án danh mục cho vay khác nhau. Trong đó, mỗi phương án danh mục cho vay với tỷ trọng các loại tài sản cho vay được thiết kế đa dạng, từ đó hình thành lợi nhuận và tổn thất khác nhau giữa các phương án.

Ngân hàng cần lựa chọn phương án phù hợp nhất, sao cho hoàn thành mục tiêu, đồng thời đảm bảo tính linh hoạt trong quá trình thực hiện. Cũng cần lưu ý rằng, khi định hướng chiến lược quản trị danh mục cho vay, ngân hàng phải lường trước những thay đổi có tính chu kỳ của nền kinh tế tác động tới kết cấu cũng như chất lượng của danh mục. Vì vậy, nhất thiết phải xây dựng các phương án danh mục cho vay khác nhau phù hợp với các kịch bản nhất định. Khi kịch bản thay đổi, tất yếu ngân hàng phải lựa chọn một phương án danh mục khác cho phù hợp.

Ba là ngân hàng cần phải thiết lập các chính sách nhằm thực thi hiệu quả chiến lược quản trị danh mục cho vay, chẳng hạn như chính sách đa dạng hóa các loại hình cho vay, chính sách phân loại rủi ro và trích lập dự phòng, chính sách quy định giới hạn an toàn trong cho vay… Các chính sách quản trị danh mục cho vay cần phải có sự nhất quán, phù hợp với các chính sách nội bộ khác nhằm hướng đến mục tiêu chung của ngân hàng.

Chẳng hạn như các chính sách ưu tiên cho vay đối với một số đối tượng, chính sách khoán lương thưởng theo chỉ tiêu dư nợ đã phân bổ cho chi nhánh hoặc nhân viên cho thực chất là mâu thuẫn với các chính sách quản trị danh mục vì nó có thể kích thích đạt lợi nhuận trong ngắn hạn nhưng phá vỡ cơ cấu danh mục cho vay kế hoạch của ngân hàng, gây tổn hại trong dài hạn. Ngoài ra, các chính sách quản trị danh mục cho vay phải đảm bảo tuân thủ các quy định pháp lý của ngân hàng Nhà nước, mặt khác cũng phải phù hợp với điều kiện riêng biệt của từng ngân hàng.

Tất cả các nội dung mang tính chiến lược nêu trên, cần phải được xác định hoặc được thông qua bởi các cấp quản trị cao nhất trong mỗi ngân hàng, đó là Hội đồng quản trị và ban giám đốc.

Có thể bạn quan tâm!

Xem toàn bộ 170 trang: Nghiên cứu tác động của danh mục cho vay đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

5.3.1.4 Xây dựng mô hình đo lường rủi ro danh mục cho vay

Xây dựng mô hình đo lường rủi ro là biện pháp có ý nghĩa rất quan trọng trong toàn bộ nội dung quản trị danh mục cho vay theo phương pháp chủ động. Căn cứ vào quy mô của vốn tự có thực tế tại ngân hàng, sử dụng các mô hình đo lường sẽ giúp ngân hàng đưa ra được các phương án danh mục khác nhau, thỏa mãn yêu cầu về lợi nhuận và rủi ro như mục tiêu đã hoạch định. Còn trong giám sát thực hiện, mô hình sẽ giúp ngân hàng tính toán mức độ rủi ro đang diễn ra trên danh mục, từ đó làm căn cứ cho các quyết định điều hành ra đời. Sử dụng các mô hình đo lường rủi ro nội bộ là đặc trưng của hoạt động quản trị danh mục cho vay trong nền kinh tế hiện đại và chỉ được áp dụng từ cuối thập niên 90 trở lại đây.

Nghiên cứu tác động của danh mục cho vay đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam - 12

Chính vì vậy các mô hình đo lường rủi ro được xem là các mô hình quản trị danh mục hiện đại.

Do xuất phát điểm về quản trị của các ngân hàng Việt Nam khác nhau (nhất là giữa các ngân hàng TMCP quy mô lớn có bề dày kinh nghiệm và những ngân hàng TMCP mới chuyển đổi từ cổ phần nông thôn, quy mô nhỏ), nên áp dụng chung một mô hình giống nhau cho tất cả các ngân hàng là không thể.Vì vậy, để phù hợp với khả năng của từng ngân hàng, các ngân hàng cần áp dụng một mô hình đo lường rủi ro phù hợp với thực trạng của ngân hàng.

5.3.1.5 Đảm bảo tính độc lập và tập trung của bộ phận quản lý rủi ro trong mỗi ngân hàng

Căn bản nhất của công tác quản trị danh mục cho vay chính là quản trị rủi ro tập trung trên danh mục. Đó là lý do vì sao các ngân hàng cần phải coi trọng các nhân tố chi phối việc kiểm soát và hạn chế rủi ro danh mục cho vay. Một trong các nhân tố đó là đảm bảo tính độc lập và tập trung của bộ phận quản lý rủi ro trong mỗi ngân hàng. Sự độc lập của bộ phận quản lý rủi ro thể hiện chỗ nó tách biệt với các bộ phận tác nghiệp khác trong ngân hàng. Đây là điều cần thiết để đảm bảo rằng công việc của bộ phận này sẽ không bị chi phối bởi quá trình tác nghiệp, thể hiện đúng nguyên tắc tách rời giữa bộ phận tạo rủi ro và bộ phận kiểm soát rủi ro, làm đúng chức năng quản lý rủi ro.

Tính tập trung trong quản lý rủi ro đảm bảo các loại hình rủi ro không bị chia nhỏ trong quá trình quản lý, tạo điều kiện để đánh giá tổng thể dễ dàng hơn. Mặt khác tính tập trung của bộ phận quản lý rủi ro cũng đòi hỏi các thông tin và những nghiên cứu về rủi ro của ngân hàng cần phải do một đầu mối đảm nhận và chịu trách nhiệm, nếu phân tán sẽ rất khó quản lý hiệu quả.

Để cho bộ phận quản lý rủi ro ở tất cả các ngân hàng TMCP hoạt động đúng chức năng và hiệu quả, cần phải xác định rõ ràng nhiệm vụ mà bộ phận này phải đảm trách. Những công việc thuộc chức năng của bộ phận quản lý rủi ro bao gồm:

- Xây dựng một hệ thống nhận dạng, đo lường, đánh giá và kiểm soát rủi ro tập trung trên danh mục cho vay của ngân hàng. Đặc biệt là xây dựng mô hình đo lường để tính toán định lượng tổn thất mà rủi ro  107 danh mục mang lại, đồng thời xác định khả năng chịu đựng rủi ro thông qua vốn của ngân hàng.

- Xác định các giới hạn an toàn cho vay đối với từng khách hàng và từng nhóm khách hàng, trên tất cả các khu vực, các miền, các hoạt động cho vay của ngân hàng. Đồng thời phải có cơ chế đảm bảo giám sát việc thực hiện các giới hạn này.

- Thiết kế các kịch bản và thử nghiệm tác động của những điều kiện thị trường ảnh hưởng bất lợi đến cơ cấu danh mục cho vay của ngân hàng.

- Là đầu mối tập hợp tất cả các thông tin liên quan đến rủi ro một cách thường xuyên, liên tục và chuyển kết quả đó cho ban điều hành, giúp các nhà quản trị cấp cao đánh giá thực chất về toàn cảnh rủi ro của ngân hàng nói chung, trong đó có rủi ro liên quan đến danh mục cho vay.

- Trong giai đoạn từ nay đến trước năm 2020, bộ phận quản lý rủi ro của từng ngân hàng sẽ là nơi tập trung nghiên cứu để ứng dụng các kỹ thuật quản lý rủi ro (trong đó có quản lý rủi ro danh mục cho vay) theo tinh thần của Basel 2, tiến tới tiếp cận theo tinh thần của Basel 3.

Ở đây cũng cần lưu ý rằng, để đảm bảo tính tập trung, bộ phận quản lý rủi ro phải quản lý tất cả các loại hình rủi ro, không nên tách riêng từng loại rủi ro. Hiện nay, ở một số ngân hàng có bộ phận ALCO (quản trị tài sản có và tài sản nợ), thực chất làm nhiệm vụ quản lý rủi ro vì vậy ngân hàng nào đã hình thành bộ phận này rồi thì có thể quy định lại nhiệm vụ cho phù hợp, những ngân hàng chưa có thì nên thành lập mới. Mặt khác để đảm bảo tính độc lập, bộ phận quản lý rủi ro không nên tham gia vào quá trình thẩm định rủi ro thông qua xét duyệt hồ sơ các khoản vay như hiện tại nhiều ngân hàng vẫn đang áp dụng. Điều này là trái với nguyên tắc về quản lý rủi ro theo ủy ban Basel kiến nghị.

5.3.1.6 Xây dựng hệ thống thông tin quản trị hoạt động hiệu quả

Để phục vụ cho công tác quản trị danh mục cho vay có hiệu quả, đầu tiên phải đề cập tới vai trò của các thông tin mang tính dự báo giúp cho nhà quản trị hoạch định chiến lược một cách chủ động. Thiếu các thông tin kinh tế dự báo chính xác là một hạn chế tồn tại ở các ngân hàng TMCP như đã chỉ ra trong chương 3. Muốn khắc phục điểm hạn chế này cần phải có một bộ phận làm nhiệm vụ phân tích và cung cấp các thông tin dự báo phục vụ cho công tác quản trị nội bộ tại ngân hàng. Tùy quy mô và cơ cấu tổ chức của ngân hàng có thể thành lập riêng bộ phận nghiên cứu kinh tế, hoặc là ghép chung trong một bộ phận/ phòng ban có sẵn của ngân hàng, nhưng nhất thiết không được để cho bộ phận quản lý rủi ro kiêm nhiệm, bởi vì điều này sẽ dẫn đến xung đột quyền lợi trong quá trình thực hiện quản lý rủi ro.

Loại thông tin thứ hai phục vụ cho công tác quản trị danh mục là những thông tin liên quan đến quá trình thực hiện danh mục, hay nói khác đi đây là các thông tin báo cáo, phục vụ cho công tác điều hành. Do yêu cầu phải cập nhật hàng ngày nên mạng lưới thông tin báo cáo được thiết kế chặt chẽ, bao gồm cơ chế truyền đạt thông tin từ trên xuống và cơ chế báo cáo theo hàng ngang hoặc là lên cấp trên. Một hệ thống thông tin báo cáo được truyền dẫn thông suốt sẽ giúp cho các nhà quản trị cập nhật thường xuyên thực trạng danh mục cho vay của ngân hàng, thực trạng danh mục với các biểu hiện của sự thiếu đa dạng, tập trung rủi ro sẽ được nhận diện và đo lường, từ đó giúp nhà quản trị đưa ra các quyết định điều chỉnh kịp thời, đáp ứng được mục tiêu của ngân hàng. Như đã đề cập trong phần phân tích thực trạng, hiện nay ở hầu hết các ngân hàng đều hình thành mô hình 3 tuyến phòng vệ tham gia thực hiện và giám sát danh mục.

Ba tuyến phòng vệ này bao gồm bộ phận tác nghiệp, bộ phận quản lý rủi ro và bộ phận kiểm toán nội bộ. Riêng bộ phận quản lý rủi ro do chịu trách nhiệm giám sát thường xuyên rủi ro danh mục cho vay nên cần phải được tổ chức theo hàng dọc, được nối kết từ bộphận theo dõi rủi ro tại chi nhánh cơ sở lên thẳng khối quản lý rủi ro tại hội sở. Từ đây các thông tin báo cáo được chuyển đến cho Ban điều hành để cập nhật được trạng thái của danh mục cho vay, tạo điều kiện cho các quyết định quản trị được ban hành kịp thời.

Cuối cùng hệ thống công nghệ tin học hiện đại được xem là cơ sở hạ tầng quan trọng cho việc hình thành và phát triển hệ thống thông tin quản trị của ngân hàng. Điều này đòi hỏi các ngân hàng phải trang bị máy móc phục vụ cho việc nhập liệu, phân tích định lượng rủi ro, xây dựng phần mềm tính toán mô hình đo lường rủi ro. Do công việc quản trị danh mục gồm nhiều nội dung rất phức tạp nặng về định lượng, vì vậy hệ thống công nghệ tin học cần phải hiện đại để đáp ứng được yêu cầu này.

5.3.1.7 Hoàn thiện và phát triển nguồn nhân lực tại ngân hàng

Nghiên cứu chỉ ra rằng khi thị trường cạnh tranh gay gắt, có quá nhiều ngân hàng nhảy vào chiếm lĩnh thị trường dẫn đến lợi nhuận sụt giảm tựa như một chiếc bánh phải chia năm xẻ bảy. Và thực tế tại Việt Nam cho thấy, trong thời gian qua nhiều ngân hàng nhỏ lẻ, yếu kém, hoạt động không hiệu quả bị sáp nhập hoặc giải thể và thị trường ngân hàng gần như trong giai đoạn bão hòa. Để đứng vững và thích nghi với môi trường cạnh tranh khốc liệt này, đòi hỏi các ngân hàng phải năng động và không ngừng nâng cao nghiệp vụ, chất lượng phục vụ, cải tiến kỹ thuật, công nghệ thông tin, mở rộng tiện ích,…Bất cứ hoạt động nào muốn thành công cũng phải có yếu tố con người tác động chính và hoạt động quản trị danh mục cho vay cũng không ngoại lệ. Muốn quản trị danh mục cho vay thành công, phải có đội ngũ các nhà quản trị tâm huyết, có tầm nhìn tốt, đội ngũ nhân viên am hiểu các kỹ thuật hiện đại, chuyên nghiệp, đủ khả năng thực hiện ý đồ của nhà quản trị, có đạo đức nghề nghiệp… Xây dựng định hướng các ngành cho vay mục tiêu. Thực hiện chính sách tín dụng linh hoạt, thích ứng với môi trường kinh tế, trên cơ sở cập nhật thông tin, phân tích, đánh giá thực trạng và dự báo triển vọng từng ngành hàng, sản phẩm.

5.3.1.8 Xây dựng hệ thống kế toán phù hợp với hệ thống kế toán quốc tế

Trong quá trình nghiên cứu và thu thập các số liệu liên quan đến hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam, tôi nhận thấy các báo cáo tài chính của các ngân hàng được xây dựng dựa trên cả chuẩn mực kế toán quốc 142 tế và Việt Nam do đó gây khó khăn rất nhiều cho người thu thập, xử lý  và phân tích số liệu, chính điều này làm cho các báo cáo của các ngân hàng thương mại trở lên mù mờ, thiếu sự minh bạch. Như vậy, nếu chúng ta sử dụng hệ thống kế toán quốc tế (IAS) trong công tác kế toán của các ngân hàng thương mại thì sẽ bỏ được quy trình báo cáo theo hai phương thức với hai phiên bản báo cáo khác nhau như hiện nay, giảm thiểu thời gian, công sức đối chiếu và điều chỉnh, đồng thời cũng giúp cho các ngân hàng minh bạch hóa tình hình hoạt động của mình theo chuẩn mực quốc tế và nhanh chóng công bố thông tin đại chúng về hoạt động của ngân hàng mình. Bởi vậy, trong thời gian tới trước mắt cần:

Download pdf, tải về file docx

Bài viết tương tự

Gửi tin nhắn

Home | Contact | About | Terms | Privacy policy
© 2022 Tailieuthamkhao.com | all rights reserved

Trang chủ Tài liệu miễn phí Thư viện số