Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tín dụng của các hộ nông dân vay vốn tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện phú lộc – tỉnh Thừa Thiên Huế - 2


5. Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung khóa luận gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.

Chương 2: Hiệu quả sử dụng vốn tín dụng của các hộ nông dân vay vốn tại Chi nhánh NHNN&PTNT huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tín dụng của các hộ nông dân vay vốn tại Chi nhánh NHNN&PTNT huyện Phú Lộc ­ tỉnh Thừa Thiên Huế.


PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU


1.1. Tổng quan về tín dụng

1.1.1. Khái niệm tín dụng

Tín dụng xuất phát từ gốc Latinh: Creditum – tức là sự tin tưởng và tín nhiệm. Tín dụng được giải thích theo nghĩa Việt Nam là sự vay mượn

Theo PGS.TS Nguyễn Văn Tiến (Giáo trình Ngân hàng thương mại – 2009): “Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (tài sản) từ người sở hữu sang người sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định; khi đến hạn, người sử dụng phải hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu”. Như vậy, phạm trù tín dụng có ba nội dung chính là: tính chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị, tính thời hạn và tính hoàn trả.

Có thể bạn quan tâm!

Xem toàn bộ 81 trang: Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tín dụng của các hộ nông dân vay vốn tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện phú lộc – tỉnh Thừa Thiên Huế

Đối tượng tín dụng là vốn vay, là tư bản “lưu động” ở dạng thể lý (hàng hoá) hay dạng tài chính (tiền giao dịch, tiền tín dụng) được sử dụng với mục đích tạo lãi.

Chủ thể tham gia tín dụng bao gồm các cá nhân và tổ chức hợp pháp đóng vai trò bên đi vay hoặc bên cho vay.

Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tín dụng của các hộ nông dân vay vốn tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện phú lộc – tỉnh Thừa Thiên Huế - 2

1.1.2. Vai trò và hiệu quả cho vay

1.1.2.1. Vai trò từ hoạt động cho vay của NHNN&PTNT

Hoạt động cho vay của Ngân hàng hay tín dụng Ngân hàng nói chung chính là hoạt động tài trợ của Ngân hàng cho khách hàng trong đó Ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải trả cả gốc và lãi trong một khoảng thời gian thỏa thuận. Hoạt động cho vay của Ngân hàng chính là việc đưa vốn đến với nhũng người cần vốn trong nền kinh tế, giúp hoạt động sản xuất hinh doanh diễn ra trôi chảy, thuận lợi. Vai trò cụ thể của Ngân hàng được thể hiện như sau:

a. Tín dụng NHNN&PTNT làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển, đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn


Tín dung NHNN&PTNT đãgóp phần xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện cho

nông dân tiếp cận và ứng dụng công nghệ mới vào SXKD. Cơ sở hạ tầng trong nông nghiệp, nông thôn bao gồm các cơ sở phục vụ trực tiếp và gián tiếp cho quá trń h sản xuất ở nông nghiệp, nông thôn; là yếu tố quan trọng tạo ra sự chuyển biến và thành công trong sản xuất nông nghiệp; làm thúc đẩy nhanh quá trình CNH – HĐH, đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tạo điều kiện đáp ứng với thị trường trong nước và cơ hội vươn tới thị trường ngoài nước.

Việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trong nông nghiệp, nông thôn trước hết từ nguồn vốn Ngân sách Nhà nước, vốn của địa phương, vốn đóng góp của nông dân và vốn của các tổ chức tài chính...Tuy nhiên, những nguồn vốn này là có hạn so với nhu cầu và trong thời gian qua chưa đáp ứng đủ cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng ở nông thôn. Do đó, vốn tín dụng ngân hàng không những tham gia bổ sung nguồn vốn lưu động còn thiếu của quá trình SXKD trong nông nghiệp mà còn tham gia vào quá trình đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tại nông thôn.

Tín dung NHNN&PTNT giúp cho ngươì nông dân không ngừng nâng cao trình độ sản xuất kinh doanh, tăng cường hạch toán kinh tế từ đó tác động tới phương thức tiết kiệm tiêu dùng, tích luỹ để đầu tư góp phần tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cho xã hội.

Phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn là một quá trình lâu dài và gặp không ít khó khăn. Bởi vì, trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa đòi hỏi phải có sự chuyển biến về nhận thức và thay đổi về cách nghĩ, cách làm để có thể tiếp thu và vận dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh.

Đất đai, tiền vốn, lao động là 3 yếu tố cơ bản trong quá trình sản xuất nông nghiệp, nó luôn được huy động tối đa vào quá trình sản xuất nhằm tạo ra nhiều sản phẩm cho xãhội, tăng thêm thu nhập cho người nông dân. Trong đó tiền vốn là yếu tố quyết định. Do vậy, tín dụng Ngân hàng nông nghiệp luôn có vị trí quan trọng


làm điểm tựa vững chắc cho kinh tế ­ xã hội có sức bật mạnh mẽ để phát triển ở

nông nghiệp, nông thôn.

b. Tạo việc làm, giải quyết tại chỗ và tận dụng lao động nông nhàn

Quá triǹ h đầu tư tín dung NHNN&PTNT vào nông nghiệp và kinh tế nông thôn sẽ góp phần phát triển đa dạng các ngành nghề, hiǹ h thức tổ chức sản xuất ở nông thôn, thúc đẩy quá triǹ h phân công lao động ở nông thôn đi vào chuyên môn hoá tạo ra nhiều công ăn việc làm ở khu vực nông thôn.

Mặt khác, tín dung NHNN&PTNT cuñ g góp phần thu hut́ lao động nhàn rỗi và tận dụng được lao động nông nhàn ở nông thôn tham gia vào việc tạo ra những sản phẩm hàng hoá có giá trị đem lại thu nhập cho người nông dân.

c. Là công cụ đắc lực để thực hiện các chính sách tài trợ cho nông nghiệp, nông thôn

Tín dung NHNN&PTNT là công cụ của Nhà nước để thực hiện các chính sách xã hội. Các chính sách xã hội, về mặt bản chất được đáp ứng bằng nguồn tài trợ không hoàn lại từ ngân sách Nhà nước. Song phương thức tài trợ không hoàn lại

thường bị

hạn chế

về quy mô và kém hiệu quả. Để

khắc phục hạn chế

này,

phương thức tài trợ không hoàn lại có xu hướng bị thay thế bởi phương thức tài trợ có hoàn lại của tín dụng chính sách. Thông thường ở phương thức tài trợ này, các mục tiêu chính sách được đáp ứng một cách chủ động và có hiệu quả hơn. Khi các đối tượng chính sách buộc phải quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn để đảm bảo hoàn trả đúng kỳ hạn nợ thì năng suât́ lao động của họ sẽ được cải thiện theo. Đây là sự đảm bảo chắc chắn cho sự ổn định tài chính cho các đối tượng chính sách và từng bước làm cho họ có thể tồn tại độc lập với nguồn tài trợ. Đó chính là mục đích của việc sử dụng phương thức tài trợ các mục tiêu chính sách bằng con đường tín dung NHNN&PTNT.

d. Xoá bỏ nạn cho vay nặng laĩ, góp phần ổn định đời sống kinh tế ­ xãhội ở khu vực nông thôn


Đặc điểm nổi bật của sản xuất nông nghiệp là tính thời vụ, khi chưa đến thời vụ thu hoạch, chưa có sản phẩm hàng hoá để bán nhưng người nông dân lại cần đến những khoản tiền để chi tiêu sinh hoạt trong gia đình. Sự thiếu hụt này đãtạo ra nạn cho vay nặng laĩ ở nông thôn. Tác hại của nạn cho vay nặng laĩ là rất lớn, nó

không những kim̀

ham̃

sự phát triển của sản xuất mà còn làm cho tiǹ h hiǹ h kinh tế,

chính trị và xãhội ở nông thôn chứa đựng nhiều nhân tố bất ổn.

Từ khi chuyển đổi quản lýnền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hàng loạt các chính sách đầu tư phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn được ban hành. Trong đó có nhiều chính sách tín dụng ngân hàng để ưu tiên cho phát triển trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.

Tín dung NHNN&PTNT ngày càng mở rộng, len lỏi tới các vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu sô,́ số lượng nông dân được Ngân hàng nông nghiệp phục vụ vốn ngày càng tăng lên, điều đó đãgóp phần đẩy lùi và xoá bỏ hoàn toàn nạn cho vay nặng lãi ở nông thôn. Góp phần quan trọng trong việc ổn định an ninh trật tự xãhội.

e. Góp phần cải thiện đời sống kinh tế ­ văn hoá ­ xãhội và các cơ sở hạ tầng mới

ở nông thôn

Tín dung NHNN&PTNT góp phần làm thay đổi sâu sắc đời sống kinh tế ­ văn hoá ­ xãhội ở nông thôn và các cơ sở hạ tầng mới ở nông thôn, bởi các lí do sau:

­ Tín dung NHNN&PTNT thuć đẩy quá triǹ h sản xuất và nâng cao hiệu quả

kinh tế của SXKD, kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xãhội trên địa bàn huyện.

­ Tín dung NHNN&PTNT góp phần phát triển đa dạng các ngành nghề, hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn, thúc đẩy quá trình phân công lao động ở nông thôn đi vào chuyên môn hoá theo từng nghề nghiệp cụ thể, thích hợp với kỹ năng, truyền thống của từng làng, xã. Từ đó mở rộng quy mô tín dụng, đồng thời tạo điều kiện cần thiết để phát triển công nghiệp hoá ở giai đoạn cao hơn.


­ Tín dung NHNN&PTNT tác động tới hiện đại hoá nền sản xuất nông nghiệp, nông thôn qua việc đầu tư vào sản xuất các loại cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, trang bị máy móc thiết bị hiện đại phục vụ cho nông nghiệp.

1.1.2.2. Hiệu quả cho vay của NHNN&PTNT

Hiệu quả được hiểu là những tác động tích cực có được sau mỗi hoạt động, việc làm cụ thể.

Đối với Ngân hàng, hiệu quả hoạt động cho vay được xem xét trên các khía cạnh:

­ Đối với Ngân hàng: khả năng sinh lời của món vay, khả năng thu hồi vốn đúng thời hạn, vòng quay vốn.

­ Đối với khách hàng: kết quả thu được sau khi sử dụng nguồn vốn vay.

Như vậy, xem xét hiệu quả cho vay cać hộ gia đình là xem xét những tác động

thu được sau khi thực hiện món vay.

Hiện nay, khái niệm hiệu quả

cho vay ở

NHNN&PTNT được hiểu một cách khái quát là:

­ Việc cho vay đôí vơí cać hộ có thể thực hiện tốt mục tiêu của chiến lược

phát triển kinh tế ­ xã hội theo từng thời kỳ mà Đảng và Chính phủ đã quyết định liên quan đến vấn đề giải quyết sản xuất vàkinh doanh.

­ Là khả năng thu hồi và phát triển được vốn cho vay ưu đãi với mức lãi suất khuyến khích.

­ Là giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng quy mô cho vay giải quyết việc làm tương xứng với hiệu quả kinh tế mà nó tạo ra.

­ Là tạo thu nhập ổn định và thường xuyên cho người lao động nguồn vốn vay

ưu đãi.

Tóm lại, cho vay cać hộ gia đinh̀ ở NHNN&PTNT là hình thức tín dụng nhằm

hỗ trợ cho cơ sở sản xuất thiếu vốn, nâng cao mức sôń g, phat́ triển sản xuất kinh doanh vàtạo cơ hội cho người lao động muốn tạo việc làm cho bản thân và cho những người lao động khác. Vì thế, món vay có hiệu quả là món vay đem lại lợi ích


trước tiên cho người lao động một cách minh bạch và chân chính thông qua dự án SXKD được chấp nhận vay vốn đó.

Như

vậy, đứng trên quan điểm của người vay vốn thì hiệu quả

cho vay

NHNN&PTNT được đánh giá :

­ Là gia tăng thu nhập của người vay vốn và thu nhập ổn định cho lao động đang làm.

­ Là có việc làm thường xuyên và ổn định cho bản thân và người lao động.

­ Nâng cao mức sôńg.

­ Mở rôn

g quy mô san

xuât́vàkinh doanh.

Trên quan điểm của Người cho vay mà cụ thể ở đây là NHNN&PTNT, hiệu quả cho vay được đánh giá :

­ Khả năng sinh lời, khả năng khách hàng có thể hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi của món vay.

­ Khả năng thu hồi món vay đúng thời hạn, đúng kế hoạch của Ngân hàng. Hiệu quả cho vay NHNN&PTNT trên quan điểm xã hội:

­ Phúc lợi xã hội được tạo ra đối với người lao động, tăng việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp.

­ Cải thiện mức sống với người lao động, giảm thiểu các vấn đề xã hội gây ra bởi thất nghiệp.

1.1.3. Những quy định về hoạt động tín dụng của NHTM

Theo quyết định số

72/QĐ­HĐQT­TD của Chủ

tịch Hội đồng quản trị

NHNN&PTNT Việt Nam, ban hành một số quy định về việc cho vay đối với khách hàng trong hệ thống NHNN&PTNT như sau:

1.1.3.1. Nguyên tắc cho vay

Đối với khách hàng là người vay vốn của NHNN&PTNT phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

­ Sử dụng vốn đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.


­ Phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi tiền vay đúng thời hạn như đã thỏa thuận trong hợp đồng.

­ Tiền vay được phát tiền mặt hay chuyển khoản theo mục đích sử dụng tiền

vay.

1.1.3.2. Điều kiện vay vốn

NHNN&PTNT xem xét cho vay đối với các khách hàng có đủ các điều kiện như sau:

­ Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.

­ Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp.

­ Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.

­ Có dự án, phương án đầu tư, SXKD, dịch vụ khả thi, có hiệu quả hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống kèm phương án trả khả thi.

­ Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ, NHNN Việt Nam và của NHNN&PTNT Việt Nam.

1.1.3.3. Lãi suất cho vay

Lãi suất cho vay là yếu tố rất quan trọng trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng nói chung. Việc quyết định lãi suất cho vay sẽ phải dựa trên những thông số về mức kỳ vọng sinh lời của ngân hàng, rủi ro tín dụng của khoản vay và tỉ lệ an toàn vốn.

Mức lãi suất tín dụng do Ngân hàng và khách hàng thỏa thuận phù hợp với quy định của NHNN về lãi suất cho vay tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng. Ngân hàng phải công bố công khai biểu lãi suất cho vay để khách hàng biết.

Lãi suất cho vay ưu đãi được áp dụng đối với khách hàng được ưu đãi về lãi suất theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của NHNN.

Trường hợp khoản vay bị chuyển sang nợ quá hạn thì phải áp dụng lãi suất nợ quá hạn, mức lãi suất nợ quá hạn do giám đốc Ngân hàng quyết định nhưng không


vượt quá 150% mức lãi suất cho vay trong thời hạn đã được ký kết trong hợp đồng tín dụng.

1.1.3.4. Phương thức cho vay

Có các phương thức cho vay sau đây:

­ Cho vay từng lần

­ Cho vay theo hạn mức tín dụng

­ Cho vay theo dự án đầu tư

­ Cho vay hợp vốn (đồng tài trợ)

­ Cho vay trả góp

­ Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng

­ Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng

­ Cho vay theo hạn mức thấu chi

Ngoài ra còn có cho vay theo các phương thức khác nữa.

1.1.4. Đặc điểm của tín dụng hộ nông dân

Tín dụng hộ nông dân là mối quan hệ tín dụng được thiết lập giữa bên cho vay là Ngân hàng và bên đi vay là hộ nông dân, thực hiện theo những điều kiện thỏa thuận giữa hai bên. Tín dụng hộ nông dân có những đặc điểm sau:

Thứ nhất: Tính mùa vụ trong sản xuất nông nghiệp quyết định thời điểm cho vay và thu nợ của Ngân hàng.

Đối tượng sản xuất của nông nghiệp là những sinh vật sống ­ chủ yếu là cây trồng và vật nuôi. Khác với các ngành sản xuất khác, chu kỳ sản xuất nông nghiệp tương đối dài và mang tính chất thời vụ. Thu nhập chỉ được tạo ra vào cuối mùa vụ và đến lúc này người dân mới có khả năng bù đắp chi phí, hoàn trả vốn tín dụng Ngân hàng và tích lũy. Vì vậy đặc điểm tuần hoàn và luân chuyển vốn tín dụng hộ nông dân phụ thuộc vào tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp.

Thứ hai: Môi trường tự nhiên có ảnh hưởng đến khả năng trả nợ và thu nhập của khách hàng.


Nguồn trả nợ của Ngân hàng chủ yếu là tiền thu từ bán nông sản và các sản phẩm chế biến có liên quan đến nông sản. Như vậy sản lượng nông sản là yếu tố

quyết định khả

năng trả

nợ của khách hàng, mà sản lượng nông sản chịu

ảnh

hưởng rất lớn từ sự thay đổi của thiên nhiên như: thời tiết, khí hậu, lượng mưa… Do vậy, tín dụng hộ nông dân thường chịu nhiều rủi ro hơn, khả năng thu hồi vốn khó hơn so với các loại tín dụng khác.

Bên cạnh đó, hộ nông dân thường có thu nhập thấp, thiếu nguồn lực sản xuất, khả năng nhận thức thấp và họ thường dễ bị tổn thương vì không có tiếng nói riêng của mình trong cộng đồng nên đã ảnh hưởng đến quá trình tập trung vốn và thu hồi nợ của Ngân hàng. Đặc điểm dễ bị tổn thương phần nào ảnh hưởng đến việc chủ

động vay vốn của người dân. Cảm giác lo sợ khi đến các trụ sở cơ quan, chính

quyền địa phương và e ngại khi vay vốn sẽ không có khả năng hoàn trả nên hộ cho rằng nguồn thu nhập tự có của gia đình là đủ với chính mình. Đồng thời khả năng nhận thức kém nên hộ nông dân khi vay vốn thường không chấp hành theo đúng quy trình cho vay, hoặc nếu được vay thì tiến hành sản xuất kinh doanh không đúng mục đích trong hợp đồng nên không đem lại hiệu quả trên mỗi đồng vốn vay.

Thứ ba: Chi phí tổ chức cho vay cao.

Khi cho vay hộ nông dân chi phí nghiệp vụ cho một đồng vốn vay thường cao do quy mô từng khoản vay nhỏ. Số lượng khách hàng đông, phân bổ ở khắp mọi nơi nên mở rộng cho vay thường liên quan tới việc mở rộng mạng lưới cho vay và thu nợ: mở chi nhánh, bàn giao dịch, tổ lưu động cho vay tại xã. Do đặc thù kinh doanh của hộ nông dân có độ rủi ro cao nên chi phí dự phòng rủi ro là tương đối lớn so với các ngành khác.

1.1.5. Hộ nông dân và đặc điểm kinh tế của hộ nông dân

1.1.5.1. Khái niệm hộ nông dân

Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn. Trong các hoạt động phi nông nghiệp khó phân biệt các hoạt động có liên quan với nông


nghiệp và không có liên quan với nông nghiệp. Cho đến gần đây có một khái niệm rộng hơn là hộ nông thôn, tuy vậy giới hạn giữa nông thôn và thành thị cũng là một khái niệm tương đối và là một vấn đề còn tranh luận.

Ngoài ra, trong cuốn “Kinh tế hộ nông dân” (1997), GS.TS Đào Thế Tuấn định nghĩa: “Hộ nông dân là các nông hộ thu hoạch trên các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một thị phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoàn chỉnh không cao”.

Có thể nói, hộ nông dân là một tổ chức kinh tế tự chủ, trực tiếp hoạt động, SXKD; là chủ thể trong mọi quan hệ SXKD, tự tổ chức kinh doanh theo định hướng phát triển của kinh tế Nhà nước, của địa phương và theo quy định của pháp luật Nhà nước. Hộ nông dân không chỉ độc lập về tự chủ kinh doanh mà còn tự chủ trong quản lý và tiêu thụ sản phẩm. Do đó họ luôn tích cực khai thác tiềm năng, trí tuệ và năng lực sản xuất của mình để tổ chức hoạt động kinh tế một cách phong phú, đa dạng, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa, từng bước nâng cao đời sống, mở rộng sản xuất, tăng tích lũy cho chính bản thân mình và cho chính xã hội.

1.1.5.2. Đặc điểm của kinh tế hộ nông dân

Hộ nông dân là bộ phận quan trọng hợp thành tổng thể nền kinh tế quốc dân,

có mối quan hệ chặt chẽ với các ngành kinh tế điểm sau:

quốc dân khác và có những đặc

Thnht: Hộ nông dân là một đơn vị tự sản, tự tiêu. Nghĩa là: hộ nông dân vừa là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất, vừa là một đơn vị tiêu dùng.

Thhai: Đối tượng sản xuất phát triển hết sức phức tạp và đa dạng, chi phí sản xuất thường là thấp, vốn đầu tư có thể trải đều. Trong quá trình sản xuất của

hộ mang tính thời vụ, cùng một lúc có thể kinh doanh sản xuất nhiều loại cây

trồng, vật nuôi hoặc tiến hành các ngành nghề khác lúc nông nhàn, vì vậy thu nhập


cũng rải đều, đó là yếu tố quan trọng tạo điều kiện cho kinh tế hộ phát triển toàn diện.

Thba: Trình độ sản xuất của hộ ở mức thấp, chủ yếu là sản xuất thủ công, máy móc có chăng cũng còn ít, giản đơn, tổ chức sản xuất mang tính tự phát, quy mô nhỏ không được đào tạo bài bản.

Thtư: Kinh tế hộ nói chung đều gặp nhiều khó khăn trong quá trình tiêu thụ sản phẩm: sản phẩm làm ra nhưng không tìm được nguồn tiêu thụ, nhiều chủ hộ kinh doanh không những không thu được lãi mà còn thâm hụt cả vốn. Nguyên nhân chính là sản phẩm kinh tế hộ nông dân có chất lượng không cao, chi phí sản xuất

lớn do công nghệ

và thiết bị

lạc hậu, trình độ

tay nghề

thấp, kinh nghiệm kinh

doanh và trình độ quản lý của chủ hộ còn hạn chế. Hơn nữa họ lại thiếu thông tin về nhu cầu, chủng loại, mẫu mã, thị hiếu của người tiêu dùng do chưa có một hệ thống chính thức hỗ trợ tiếp cận thị trường trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, thị trường cung cấp đầu vào là nguyên vật liệu cũng như giá cả không phải lúc nào cũng ổn định. Chính vì vậy, kinh tế hộ cần có sự hỗ trợ bằng các chính sách của Nhà nước như chính sách tăng cường đầu tư, chính sách tiêu thụ nông sản hàng hóa với chính sách giá bảo hộ sản xuất nông nghiệp.

1.1.6. Các nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng vốn

1.1.6.1. Các nhân tố thuộc về NHNN&PTNT Thứ nhất: Mức vốn vay.

Mức vốn vay là số vốn khách hàng nhận được trong mỗi lần vay vốn. Tùy theo quy mô, năng lực hiện có và phương án SXKD của từng dự án mà Ngân hàng phê duyệt mức vốn cho vay.

Như vậy mức vốn vay phụ thuộc vào các yếu tố.

­ Phương án kinh doanh của dự án. Nếu phương án kinh doanh có tính khả thi, mang lại hiệu quả thì mức vốn cho vay được duyệt phù hợp với nhu cầu vay vốn của dự án.

­ Năng lực hiện tại và quy mô phát triển trong tương lai của dự án.

Download pdf, tải về file docx

Ngày đăng: 18/04/2022
Đánh giá:
4.1/5 (1 bình chọn)

Gửi tin nhắn


Đồng ý Chính sách bảo mật *

Trang chủ Tài liệu miễn phí Thư viện số
Top