Hiệu quả tín dụng của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam - 12


hiệu quả tín dụng của ngân hàng càng giảm. Đồng thời đây cũng chính là nhân tố có tác động mạnh nhất đến hiệu quả tín dụng. Chính từ những nghiên cứu trên tác giả đã đưa ra giải pháp nhằm giảm NPL và sử dụng nó một cách hợp lý hơn.

Một là, ngân hàng cần chủ động phân loại nợ theo tính chất, khả năng thu hồi nợ của khoản vay, chuyển nợ quá hạn đối với các trường hợp vi phạm hợp đồng tín dụng có nguy cơ gây ra rủi ro. Tiến hành hạ bậc nợ và thực hiện trích lập dự phòng nhằm bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra. Tránh tình trạng chạy theo kết quả kinh doanh mà không tuân thủ các quy định về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro. Ngân hàng cần chủ động phân loại nợ vào nhóm cao hơn cho khoản vay khi phát hiện khoản nợ có dấu hiệu rủi ro và đối với các trường hợp vi phạm hợp đồng tín dụng có nguy cơ gây ra rủi ro.

Hai là, NHNo&PTNT tỉnh Quảng Nam cần thường xuyên theo dõi, trích đúng, trích đủ quỹ dự phòng tín dụng nhằm đảm bảo rủi ro từ các khoản nợ xấu gây ra. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hồ sơ tín dụng cũng như thắt chặt các quy trình, quy định về hoạt động cho vay nhằm giảm thiểu mức rủi ro thấp nhất có thể. Lập tổ xử lý nợ xấu nhằm giải quyết các khoản nợ còn tồn đọng hoặc bán cho tổ chức mua bán nợ xấu nhằm đem lại lợi nhuận cũng như giảm tỷ lệ nợ xấu cho chính ngân hàng.

Ba là, tăng cường giám sát các khoản cho vay thông qua ban hành quy định yêu cầu các cán bộ tín dụng phải lập báo cáo về khách hàng mà họ quản lý dựa với các chỉ tiêu cụ thể như số lần vay vốn, doanh số vay, trả nợ, biến động khoản vay, năng lực tài chính, tình hình tiêu thụ sản phẩm, dòng tiền của khách hàng. Các báo cáo được lập hàng tháng và hàng quý, báo cáo phải được đệ trình lên các cấp quản lý hoặc tập trung vào một đầu mối trong Ngân hàng để cung cấp thông tin cho hệ thồng, cho lãnh đạo ngân hàng nhằm kiểm soát các khoản vay, hạn chế rủi ro tín dụng.

Bốn là, nâng cao khả năng nhận diện, phát hiện nguy cơ gây ra rủi ro tín

dụng để phòng tránh. Các nguy cơ tiềm ẩn rủi ro tín dụng có thể đến từ khách


hàng hoặc từ chính ngân hàng. Điều quan trọng là Ngân hàng phải xây dựng được hệ thống cảnh báo, phát hiện dấu hiệu của các khoản nợ có vấn đề.

Đối với Ngân hàng, các khoản nợ có vấn đề là các khoản nợ có các dấu hiệu sau đây:

Có thể bạn quan tâm!

Xem toàn bộ 142 trang: Hiệu quả tín dụng của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam

- Cán bộ tín dụng đánh giá và phân loại mức độ rủi ro của người vay vốn

không chính xác.

Hiệu quả tín dụng của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam - 12

- Cấp tín dụng nhưng không xem xét kỹ lưỡng, chắc chắn về lợi ích thật

sự mà người vay đem lại từ khoản tín dụng được cấp.

- Tốc độ tăng trưởng tín dụng quá nhanh, vượt quá khả năng kiểm soát

và nguồn vốn của ngân hàng.

- Chính sách cho vay quá cứng nhắc hoặc lỏng lẻo.

- Các điều kiện ràng buộc trong hợp đồng tín dụng không rõ ràng, khó hiểu hoặc có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau như không quy định rõ lịch hoàn trả đối với các khoản vay.

- Cung cấp hạn mức tín dụng lớn cho khách hàng không thuộc danh mục khách hàng ưu tiên của ngân hàng.

- Hồ sơ tín dụng không đầy đủ, không tuân thủ quy định, quy trình thẩm định, phê duyệt khoản vay.

Đối với khách hàng, các khoản nợ có dấu hiệu có vấn đề được thể hiện như sau:

- Khách hàng chậm thanh toán các khoản lãi và nợ gốc khi đến hạn

- Gia tăng thường xuyên vượt quá kế hoạch dự kiến về số lần và giá trị các khoản vay.

- Chấp nhận vay vốn với lãi suất cao, điều kiện tín dụng khắt khe.

- Giá trị của tài sản bảo đảm bị giảm sút so với khi định giá để cho vay.

Tài sản không còn tồn tại hoặc thay đổi chủ sử dụng, sở hữu.

- Khách hàng cố tình trì hoãn, gây trở ngại đối với ngân hàng trong việc kiểm tra theo định kỳ hoặc kiểm tra đột xuất tình hình sử dụng vốn vay, tình hính tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng.


- Khách hàng không tuân thủ các quy định trong hợp đồng tín dụng với

ngân hàng.

- Khách hàng trì hoãn cung cấp thông tin liên quan đến sử dụng vốn vay,

gửi báo cáo tài chính cho ngân hàng.

- Khách hàng đề nghị gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn nợ nhiều lần mà không có lý do rõ ràng.

- Khách hàng sử dụng các khoản tài trợ ngắn hạn để đầu tư dài hạn.

- Có sự sụt giảm bất thường số dư tài khoản tiền gửi khách hàng gửi tại ngân hàng, xuất hiện thay đổi bất thường không giải thích được trong tổng mức lưu chuyển tiền gửi thanh toán của khách hàng.

- Gia tăng đột biến chi phí bất hợp lý, không phục vụ cho hoạt động sản

xuất kinh doanh chính.

- Thay đổi liên tục nhân sự quản lý cấp cao, có mâu thuẫn, tranh chấp

trong quản lý doanh nghiệp.

- Kinh doanh thua lỗ…

Sau khi nhận diện được nguy cơ, cán bộ tín dụng phải xây dựng được phương án giải quyết nhằm hạn chế rủi ro.

Năm là, quản lý và xử lý nợ. Ngân hàng cần xác định kỳ hạn thu nợ và lãi tiền vay phù hợp; thực hiện các biện pháp thu hồi nợ phù hợp với từng khoản nợ quá hạn; thực hiện các biện pháp xử lý nợ thích hợp như gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn, miễn giảm tiền lãi vay; khai thác các tài sản bảo đảm nợ vay phù hợp với thực trạng từng trường hợp cụ thể trên cơ sở các quy định tại Nghị định 178 của Chính phủ và các hướng dẫn có liên quan như thông tư 06 ngày 04/04/2000 của NHNN, thông tư liên tịch 03 ngày 23/04/2001 của NHNN, thông tư liên tịch 02 ngày 05/02/2002 của NHNN và Bộ Tư pháp

Sáu là, đối với các khoản nợ có vấn đề, Ngân hàng cần làm rõ thực trạng kinh doanh của khách hàng, khả năng khôi phục sản xuất, khả năng trả nợ, mong muốn hợp tác của khách hàng, khả năng xử lý tài sản bảo đảm để lựa chọn phương án xử lý phù hợp.


Thứ nhất, ngân hàng có thể cho khách hàng vay thêm trong trường hợp xét thấy nguyên nhân ảnh hưởng đến khả năng trả nợ và hoạt động của khách hàng là do thiếu vốn. Phương án, dự án đầu tư của khách hàng sẽ tiếp tục có hiệu quả, có khả năng thu hồi vốn và lãi nếu được đầu tư thêm vốn. Quyết định cho vay thêm phải dựa trên các thẩm định cẩn trọng và phải được báo cáo lãnh đạo ngân hàng. Báo cáo thẩm định phải đề xuất được phương án trả nợ cụ thể, có tính khả thi và phải cân nhắc để tránh tình trạng lợi dụng cho vay để đảo nợ, vay nợ mới, trả nợ cũ…

Thứ hai, ngân hàng yêu cầu bổ sung tài sản bảo đảm khi khoản vay có dấu hiệu bất ổn, nguồn thu nhập không rõ ràng, giá trị tài sản bảo đảm có khả năng bán thấp hơn dư nợ cho vay.

Thứ ba, chuyển thành nợ quá hạn. Khi xác định khoản nợ của doanh nghiệp là nợ quá hạn, khách hàng không có khả năng trả nợ dù đã gia hạn ngân hàng cần áp dụng các biện pháp để thu hồi nợ như yêu cầu người bảo lãnh trả nợ thay, trích tiền từ tài khoản tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng khi tài khoản tiền gửi của khách hàng phát sinh số dư, phát mại tài sản thế chấp, cầm cố…

4.2.2. Giải pháp hoàn thiện quy chế, thủ tục cho vay, các khâu trong quy trình cho vay

Để cải tiến quy trình, thủ tục cấp tín dụng Ngân hàng cần nghiên cứu rút gọn quá trình thiết lập hồ sơ vay vốn cho khách hàng, đơn giản hoá các thủ tục. Xây dựng sổ tay tín dụng làm chuẩn mực nhằm giúp cán bộ tín dụng thuận tiện trong việc tra cứu các quy định cụ thể của ngân hàng về cấp tín dụng. Nới lỏng quy định về cho vay tín chấp với các khách hàng truyền thống có uy tín.

- Trong giai đoạn thẩm định và phân tích tín dụng trước khi cho vay:

Ngân hàng cần thu thập được thông tin chính xác cụ thể về khách hàng vay vốn như hồ sơ pháp lý, năng lực tài chính, năng lực quản lý, uy tín tín dụng…thông qua nguồn thông tin từ khách hàng cung cấp, từ cơ sở dữ liệu


nội bộ ngân hàng và từ các cơ quan liên quan khác như cơ quan quản lý nhà

nước hay đối tác của người vay.

Ngân hàng phân tích và thẩm định để xác định giới hạn tín dụng tổng thể của toàn bộ dự án hoặc hợp đồng mà khách hàng muốn vay vốn. Giới hạn này được xác lập trên cơ sở phân tích định lượng rủi ro của khách hàng bằng phương pháp chấm điểm, xếp hạng tín dụng. Đồng thời giới hạn này cũng được xây dựng trên cơ sở phân tích các điều kiện về môi trường kinh doanh, nội bộ doanh nghiệp, lịch sử quan hệ tín dụng…

Trên cơ sở giới hạn tổng thể đã được phê duyệt, trong từng lần cấp tín dụng, để giảm bớt thời gian xử lý các giao dịch, Ngân hàng sẽ tập trung phân tích rủi ro của phương án vay từng lần như tính pháp lý của dự án vay, nguồn cung ứng đầu vào, tiêu thụ đầu ra, thị trường…Sau mỗi phân tích, Ngân hàng phải chỉ ra những rủi ro dự kiến, phương án kiểm soát và xử lý khi rủi ro xảy ra.

Ngân hàng cần xây dựng quy trình, tiêu chuẩn thẩm định thích hợp cho từng loại dự án khác nhau. Quy trình và tiêu chuẩn này phải thống nhất từ Hội sở đến tất cả các chi nhánh. Đối với các dự án có nhu cầu vốn tài trợ lớn, Ngân hàng cần tham khảo thêm ý kiến của các chuyên gia thẩm định bên ngoài ngân hàng để có thêm căn cứ khách quan cho việc ra quyết định cho vay.

- Xây dựng chính sách cho vay có hiệu quả, là việc cụ thể hóa các quy định về cho vay, nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh của ngân hàng, đồng thời đảm bảo nâng cao lợi nhuận và hạn chế rủi ro. Một chính sách cho vay cần phải có những quy định rõ ràng và phải được truyền đạt đến tất cả các bộ phận có liên quan tại NHNo&PTNT tỉnh Quảng Nam dưới hình thức văn bản cụ thể. Chính sách cho vay gồm các yếu tố sau: Hạn mức cho vay tối đa đối với các doanh nghiệp, các ngành kinh tế; loại hình cho vay; tài sản đảm bảo tiền vay; định giá tài sản cho vay; các tài liệu giấy tờ chứng minh mục đích cho vay; Hạn mức cho vay được duyệt đối với Giám đốc chi nhánh, mức ủy quyền cho Phó Giám đốc; lãi suất, phí và thời hạn cho vay,…

Nâng cao chất lượng thẩm định, thẩm định là khâu quan trọng nhất để

giúp NHTM đưa ra các quyết định đầu tư một cách chính xác, từ đó nâng


cao chất lượng của các khoản vay, từ đó nâng cao chất lượng của các khoản vay, hạn chế nợ quá hạn phát sinh, đảm bảo hiệu quả tín dụng. Việc thẩm định dự án, phương án vay vốn, cán bộ thẩm định cần vận dụng, xem xét linh hoạt các quy định trong quy trình thẩm định nhưng phải tuân thủ đầy đủ và chặt chẽ các vấn đề thuộc về nguyên tắc, các vấn đề mấu chốt, tránh thẩm định tùy tiện, sơ sài hoặc không chính xác từ đó nâng cao hiệu quả tín dụng.

Ngân hàng cần xây dựng và tuân thủ các nguyên tắc an toàn trong hoạt động tín dụng. Một là, chất lượng tín dụng quan trọng hơn mở rộng tín dụng. Hai là, tất cả các khoản cho vay phải có hai phương án trả nợ tách biệt. Ba là, thẩm định tư cách, năng lực tài chính, năng lực quản lý và sự trung thực của người đi vay bên cạnh việc đánh giá các báo cáo tài chính. Bốn là, quyết định cho vay phải độc lập, không chịu sự chi phối của bất cứ cá nhân, tổ chức nào. Năm là, thông tin về khách hàng, khoản vay phải đầy đủ, sẵn có, rõ ràng, chính xác. Sáu là, cán bộ tín dụng phải có năng lực đánh giá về môi trường kinh doanh, chu kỳ kinh doanh và xu hướng thay đổi của chính sách để đưa ra quyết định cho vay phù hợp. Bảy là, tài sản thế chấp phải có tính thanh khoản cao. Tám là, phải nắm rõ và kiểm soát đươc mục đích của khoản vay và thực tế sử dụng khoản vay.

- Giai đoạn kiểm tra, giám sát trong khi cho vay:

Trong quá trình giải ngân, Ngân hàng vẫn phải thực hiện giám sát thận trọng. Một là, hồ sơ giải ngân phải đầy đủ, đúng quy định. Ngân hàng không giải ngân nếu hồ sơ thiếu hoàn thiện hoặc mâu thuẫn. Hai là, giải ngân theo đúng các quyết định cấp tín dụng đã được phê duyệt. Mục đích vay, yêu cầu giải ngân và cơ cấu chi phí trong đề xuất nhu cầu vay vốn của khách hàng phải được đối chiếu để đảm bảo việc sử dụng vốn vay đúng mục đích, có đầy đủ chứng từ chứng minh. Ba là, trong quá trình giải ngân, cần hạn chế giải ngân bằng tiền mặt trừ những trường hợp đặc biệt, để kiểm soát được việc sử dụng vốn vay của khách hàng.


- Giai đoạn kiểm tra, giám sát các khoản nợ sau khi cho vay

Sau khi ra quyết định cho vay và thực hiện giải ngân, ngân hàng phải thường xuyên kiểm tra, giám sát món vay. Việc kiểm tra vừa phải được tiến hành bởi đơn vị cho vay trực tiếp, vừa là trách nhiệm của Hội sở Tỉnh, trực tiếp là phòng tín dụng. Phương thức kiểm tra được thực hiện theo 2 hình thức. Một là, kiểm tra qua báo cáo. Hai là kiểm tra trực tiếp.

Kiểm tra qua báo cáo được thực hiện thông qua yêu cầu khách hàng báo cáo định kỳ về tiến độ dự án, tình hình tài chính, sản xuất kinh doanh, sử dụng vốn…Nếu phát hiện ra các vi phạm hoặc thấy các dấu hiệu rủi ro ngân hàng có thể tiến hành thu hồi nợ trước hạn hoặc thực hiện các biện pháp phòng ngừa.

Kiểm tra trực tiếp tiến hành thông qua hoạt động của các đoàn kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất của Ngân hàng đối với các chi nhánh loại 3. Đồng thời, Ngân hàng nên xây dựng cơ chế kiểm tra chéo giữa các chi nhánh để đảm bảo tính khách quan. Bên cạnh đó, cần thành lập bộ phận chuyên kiểm tra sử dụng vốn đối với tất cả các món vay, trong đó tập trung kiểm tra các món vay có giá trị lớn để nhận diện rủi ro ngay khi mới phát sinh.

Ngân hàng cần quy định rõ trách nhiệm bàn giao, nội dung bàn giao hồ sơ giữa các cán bộ tín dụng khi có sự luân chuyển cán bộ giữa các bộ phận để đảm bảo rằng các vấn đề tín dụng luôn được các cán bộ thay thế nắm được. Ngân hàng cần quy định việc lập sổ nhật ký tín dụng về các lần vay nợ, thu nợ, biến động tài sản bảo đảm, tình hình kinh doanh và tài chính của khách hàng.

Hội sở tỉnh cần tăng cường kiểm tra việc cập nhật thông tin của các chi nhánh về tài sản bảo đảm trên hồ sơ và trên chương trình giao dịch IPCAS để tránh tình trạng nâng cao giá trị tài sản bảo đảm, hạ thấp tỷ lệ trích lập dự phòng ở các chi nhánh, tạo ra kết quả kinh doanh không thực chất tại các chi nhánh.

4.2.3. Giải pháp về đa dạng hoá phương thức cho vay

Ngoài các phương thức cho vay đang áp dụng, Ngân hàng cần áp dụng thêm các phương thức cho vay khác như cho vay theo hạn mức tín dụng dự


phòng, theo hạn mức thấu chi, đồng tài trợ, qua phát hành và sử dụng thẻ

tín dụng.

- Áp dụng phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng: Đây là hình thức cấp tín dụng thuận tiện và hiệu quả đối với người vay có nhu cầu vay vốn thường xuyên, ổn định. Phương thức này giúp cho người vay không phải lập hồ sơ vay nhiều lần, không làm mất thời gian làm các thủ tục vay vốn. Phương thức này nên áp dụng đối với khách hàng có uy tín tín dụng, có tình hình sản xuất kinh doanh tốt, thị trường tiêu thụ ổn định, khả năng luân chuyển vốn nhanh.

- Áp dụng phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Theo phương thức này, ngân hàng cam kết sẽ đáp ứng yêu cầu vay vốn của khách hàng với một hạn mức tín dụng dự phòng trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng và khách hàng phải trả một mức phí nhất định cho hạn mức tín dụng dự phòng đó. Phương thức này giúp đáp ứng yêu cầu vay vốn của khách hàng có nhu cầu vay vốn không ổn định, chịu ảnh hưởng bởi chu kỳ kinh doanh nên tình hình tài chính không ổn định thường xuyên thay đổi.

- Áp dụng cho vay theo hạn mức thấu chi: Theo phương thức này, ngân hàng cho phép khách hàng chi vượt số tiền trên tài khoản có của khách hàng mở tại ngân hàng. Khách hàng phải chịu lãi suất cho khoản tiền chi vượt này. Phương thức này tạo điều kiện cho khách hàng mua hàng hoá, dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản bị thiếu hụt. Hình thức này phù hợp với cho vay khách hàng cá nhân.

- Phương thức cho vay đồng tài trợ:

Là phương thức ngân hàng kết hợp với tổ chức tín dụng khác cùng tài trợ vốn cho các dự án đầu tư có giá trị lớn. Thực hiện phương thức cho vay này đòi hỏi các ngân hàng phải cùng nhau liên kết thẩm định dự án cho vay, chia sẽ rủi ro.

4.2.4. Nâng cao chất lượng công tác thông tin tín dụng

Để đưa ra một quyết định cho vay đúng đắn, NH cần phải nắm được đầy đủ, chính xác các thông tin về khách hàng. Thực tiễn hiện nay tại


NHNo&PTNT tỉnh Quảng Nam, để hệ thống thông tin tín dụng (CIC) được đảm bảo và thực hiện tốt, cần phải tuân thủ các quy định sau:

- Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cung cấp cho bộ phận CIC NHNN các thông tin tín dụng của các DN có quan hệ với NH một cách đầy đủ, chính xác, đúng thời gian quy định.

- Thường xuyên cập nhật, khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn thông tin từ CIC NHNN để phục vụ công tác thẩm định cho vay, đặc biệt là đối với những khách hàng mới đặt quan hệ tín dụng lần đầu hoặc khách hàng có nhu cầu vay lại.

- Ngoài việc thu thập thông tin từ hệ thống CIC, Ngân hàng cần phải phối hợp chặt chẽ với các cơ quan quản lý nhà nước như cơ quan thuế, công an, Sở Kế hoạch và Đầu tư...của tỉnh Quảng Nam và các huyện, thành phố trong tỉnh để nắm bắt các thông tin cần thiết về khách hàng, hỗ trợ cho việc ra quyết định cấp tín dụng và xử lý rủi ro.

- Tạo lập cơ sở dữ liệu về tất cả các khách hàng vay vốn của ngân hàng để tạo cơ sở cho quyết định cấp tín dụng. Ngoài ra, cần thường xuyên phân tích và đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn như số lượng doanh nghiệp hiện có, số lượng doanh nghiệp mới thành lập, doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, thua lỗ, giải thể. Đây là căn cứ để ngân hàng xác định phân khúc thị trường cho mình. Đối với doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn của ngân hàng cần xây dựng bộ cơ sở dữ liệu để đánh giá tình hình tài chính thông qua các chỉ tiêu như khả năng thanh toán ngắn hạn, khả năng thanh toán nhanh, các khoản phải thu, phải trả, sản phẩm tồn kho, doanh thu, các chỉ số về lợi nhuận, số lần giao dịch với ngân hàng, số lần trả nợ chậm, số lần cơ cấu lại thời hạn trả nợ hoặc gia hạn nợ. năng lực quản lý. Bên cạnh đó cần xem xét cả khả năng thanh toán của khách hàng trong các mối quan hệ khác như khả năng thanh toán thuế, thanh toán tiền mua hàng của đối tác.

Phòng tín dụng Hội sở tỉnh cần phối hợp với Phòng điện toán để thiết

lập hệ thống cảnh bảo thông tin những khách hàng có quan hệ tín dụng với


cùng lúc nhiều chi nhánh ngân hàng trực thuộc NHNo&PTNT tỉnh Quảng Nam. Thông tin này nên được đưa vào chương trình khai thác thông tin khách hàng trên Modul CIF thuộc hệ thống IPCAS.

4.2.5. Nâng cao chất lượng kiểm tra hoạt động tín dụng

Đối với hệ thống NH, công tác kiểm tra kiểm soát là công tác thường xuyên và có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với hoạt động tín dụng, nó là một trong những điều kiện để đảm bảo hiệu quả tín dụng. Công tác kiểm tra kiểm soát thường xuyên giúp ngân hàng phát hiện, ngăn chặn và xử lý các thiếu sót, sai phạm và yếu kém trong hoạt động tín dụng kịp thời, giúp hạn chế nợ quá hạn, nợ xấu và nâng cao hiệu quả tín dụng NH. Để hoạt động tín dụng đảm bảo chất lượng và mang lại hiệu quả cho NH, NHNo&PTNT tỉnh Quảng Nam thời gian qua đã thành lập phòng kiểm tra kiểm soát và trên cơ sở các văn bản quy định của ngành về quy trình, quy định cho vay của ngành. Trong thời gian tới, hoạt động kiểm tra cần tập trung vào các nội dung sau:

- Kiểm tra việc chấp hành chế độ chính sách trong hoạt động tín dụng như: Chỉ tiêu tín dụng, quy trình đầu tư, lãi suất cho vay, các quy định về đảm bảo tiền vay, các biện pháp xử lý gia hạn nợ, giãn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ, chấp hành mức phân cấp phán quyết tín dụng, chấp hành chế độ thông tin báo cáo tín dụng… Ngoài ra, còn phải kiểm tra việc chấp hành và triển khai thực hiện các chỉ đạo của NH cấp trên, các chính sách và định hướng trong hoạt động tín dụng.

- Không ngừng hoàn thiện và áp dụng linh hoạt các biện pháp kiểm tra tùy thuộc vào tình hình thực tế, đối tượng kiểm tra, mục tiêu kiểm tra… nhằm đạt hiệu quả cao nhất. NH có thể áp dụng một số phương pháp kiểm tra linh hoạt sau: Có thể kết hợp kiểm tra bộ hồ sơ vay vốn (đầy đủ, hợp pháp, hợp lệ, hợp lý của các hồ sơ) và kiểm tra thực tế khách hàng thông qua các biện pháp như phỏng vấn, đối chiếu nợ, kiểm tra thông qua bạn hàng…; kết hợp kiểm tra theo chuyên đề của bộ phận tín dụng và kiểm tra toàn diện của bộ phận kiểm soát chuyên trách; kiểm tra theo định kỳ với kiểm tra đột xuất, kiểm tra chéo giữa các chi nhánh cùng cấp.


Công tác, kiểm tra kiểm soát phải thực hiện nghiêm túc và đúng theo quy định của ngành NH, không tạo kẽ hở cho cán bộ tín dụng làm trái quy định về cho vay. Thông qua kiểm tra kiểm soát phải phát hiện được sai sót, yếu kém tồn tại để từ đó có biện pháp xử lý, ngăn chặn, hạn chế kịp thời các sai sót phát sinh, đặc biệt không để lặp lại các sai sót đã được phát hiện. Đồng thời, xử lý nghiêm các đơn vị cá nhân có sai phạm nhằm nâng cao chất lượng tín dụng và mang lại hiệu quả NH.

4.2.6. Tăng cường đào tạo và nâng cao chất lượng cán bộ tín dụng

Cán bộ tín dụng là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất đối với chất lượng và hiệu quả công tác tín dụng ở ngân hàng. Vì vậy, để không ngừng nâng cao hiệu quả tín dụng, Agribank chi nhánh tỉnh Quảng Nam cần phải quan tâm trước tiên tới trình độ cán bộ tín dụng bằng cách thực hiện tiêu chuẩn hoá cán bộ tín dụng và qui định rõ ràng trách nhiệm, quyền hạn, chế độ thưởng phạt đối với cán bộ tín dụng. Muốn thực hiện được điều này NHNo&PTNT tỉnh Quảng Nam cần tập trung vào các nội dung sau:

- Đối với tuyển chọn cán bộ, ngân hàng cần tuyển chọn ứng viên tốt nghiệp đại học đúng chuyên ngành tại các cơ sở đào tạo có chất lượng, có uy tín.

- Không ngừng chọn lọc, bổ sung tăng cường lực lượng cán bộ tín dụng, kể cả cán bộ điều hành và cán bộ tác nghiệp trực tiếp, nghiên cứu ban hành quy định cụ thể về tiêu chuẩn cán bộ NH nói chung và cán bộ tín dụng nói riêng. Theo đó, đội ngũ này phải có trình độ chuyên môn giỏi, trình độ ngoại ngữ và tin học thành thạo, đáp ứng được yêu cầu công việc. Cán bộ tín dụng phải đảm bảo có đạo đức nghề nghiệp. Đây là tiêu chuẩn vô cùng quan trọng đối với cán bộ trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ. Nếu đạo đức nghề nghiệp không tốt, cán bộ tín dụng rất dễ bị cám dỗ, hành động vì lợi ích cá nhân, gây thiệt hại cho doanh nghiệp. Đặc biệt, để hạn chế rủi ro, nâng cao hiệu quả tín dụng, đội ngũ cán bộ tín dụng phải thông thạo nghiệp vụ, có hiểu biết về pháp luật, có tác phong làm việc và cập nhật thông tin tốt. Trên cơ sở đó, tiến hành chọn lọc đội ngũ cán bộ hiện có, chuyển một số cán bộ tín dụng


không đáp ứng được yêu cầu sang làm nhiệm vụ khác, bổ sung cán bộ trẻ có đủ tiêu chuẩn tăng cường cho công tác tín dụng.

- Tăng cường đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ tín dụng một cách toàn diện, liên tục, có hệ thống để không ngừng nâng cao trình độ, nhận thức, năng lực nhằm phục vụ tốt cho hoạt động kinh doanh. Các hình thức đào tạo cần có sự nghiên cứu, áp dụng phù hợp với điều kiện thực tế và đảm bảo hiệu quả.

Tiến hành đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ làm công tác tín dụng theo đúng đối tượng, đúng yêu cầu công việc, khuyến khích tinh thần tự học hỏi, tự đào tạo. Nội dung cần đào tạo là chuyên môn nghiệp vụ, các kiến thức mới trong lĩnh vực tín dụng của thế giới, chính sách, pháp luật của nhà nước có liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng. Ngân hàng có thể căn cứ vào thực trạng năng lực cán bộ tín dụng để xem xem họ còn yếu kém, hạn chế gì để mở các lớp nâng cao trình độ. Chẳng hạn, hiện nay, Ngân hàng nên chú trọng đào tạo để nâng cao kỹ năng thẩm định, quản lý các khoản vay cho cán bộ tín dụng. Hình thức tổ chức đào tạo thực hiện thông qua mở các lớp tập huấn ngắn ngày cho cán bộ ngân hàng. Trong phương thức đào tạo cần chú ý kết hợp học tập với thực hành, giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm trong giải quyết các tình huống khó khăn trong công việc như kinh nghiệm xử lý các khoản nợ có vấn đề, nợ tồn đọng, tranh chấp...Từ đó, người học cùng suy nghĩ và chia sẻ cách giải quyết.

Trong dài hạn, để đảm bảo có được đội ngũ cán bộ tín dụng giỏi, ngân hàng cần phối hợp với các cơ sở đào tạo trong nước để gửi cán bộ đi đào tạo nâng cao năng lực chuyên môn, các nghiệp vụ chuyên sâu. Ngân hàng cần bố trí quỹ đào tạo cán bộ chủ chốt, hạt nhân để tạo cơ hội cho các cán bộ này được học tập, tiếp xúc với các chuyên gia đào tạo quốc tế trong lĩnh vực tín dụng để vừa nâng cao trình độ, với có khả năng giải quyết các tình huống mới nảy sinh trong điều kiện mở cửa và hội nhập của ngành ngân hàng trong nước với quốc tế ngày càng sâu rộng.

Download pdf, tải về file docx

Bài viết tương tự

Gửi tin nhắn

Bimage 1

Danh mục

Bài viết tương tự

Bimage 2
Bimage 3

Home | Contact | About | Terms | Privacy policy
© 2022 Tailieuthamkhao.com | all rights reserved

Trang chủ Tài liệu miễn phí Thư viện số