Những Tồn Tại, Hạn Chế Và Nguyên Nhân Trong Công Tác Thẩm Định Tại Chi Nhánh Thừa Thiên Huế

Công tác thẩm định dự án vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước tại ngân hàng phát triển Việt Nam chi nhánh Thừa Thiên Huế - 8


đã hỗ trợ đắc lực trong quá trình thẩm định giúp cho việc phân tích, đánh giá các thông số về dự án đầu tư ngày càng chính xác hơn. Nhờ vậy mà các quyết định cho vay vốn của Chi nhánh ngày càng đúng đắn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.

- Nội dung thẩm định và môi trường pháp luật được nâng cao

Trong công tác thẩm định, các nội dung thẩm định được kết hợp chặt chẽ, ngoài việc thẩm định hiệu quả của dự án còn thẩm định các nội dung khác giúp mang lại cái nhìn tổng quát hơn về dự án. Công tác thẩm định dự án đầu tư không chỉ dừng lại ở việc thực hiện kiểm tra, kiểm soát, sàng lọc và lựa chọn dự án mà còn giúp cho các hoạt động của dự án đảm bảo tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật. Các dự án đầu tư được thẩm định tại Chi nhánh thời gian vừa qua đã đảm bảo theo đúng trình tự, yêu cầu đặt ra, tuân thủ những quy định của pháp luật cũng như đáp ứng nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp. Công tác thẩm định dự án từng bước được hoàn thiện đáng kể. Nội dung thẩm định được sử dụng hiện nay tại Chi nhánh được đánh giá là khá phù hợp giúp đánh giá dự án một cách khá toàn diện, đầy đủ.

Nội dung thẩm định hồ sơ vay vốn của dự án và của chủ đầu tư cũng đã được chi tiết cụ thể, đã hướng dẫn được các bước thực hiện, phân công nhiệm vụ và thể hiện cơ chế phối hợp cụ thể giữa các đơn vị thực hiện quá trình thẩm định phương án tài chính và phương án trả nợ vốn vay, bước đầu hoàn thiện và quy chuẩn hóa các bước trong công tác thẩm định của Chi nhánh.

Các quy định của Nhà nước về cơ chế cho vay đối với các dự án vay vốn tín dụng ĐTPT đã được quy định khá đầy đủ, rõ ràng và chi tiết. Điều này đã tạo điều kiện thuân lợi cho Chi nhánh trong việc thực hiện thẩm định các dự án vay vốn tín dụng ĐTPT một cách đồng bộ. Ban thẩm định cũng đã tiếp nhận và thẩm định các dự án theo đúng đối tượng được quy định trong Nghị Định. Công tác thẩm định được tổ chức một cách chặt chẽ, sâu sát. Bên cạnh đó, nội dung thẩm định trong quy trình cũng được cập nhật các quy định hiện hành về quản lý đầu tư và quản lý đầu tư xây dựng công trình và các văn bản pháp quy liên quan tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ trong tác nghiệp. Các quy chế, sổ tay, nghiệp vụ tại Chi nhánh được quan tâm đúng mức. Cụ thể: các biểu mẫu, báo cáo năng lực chủ đầu tư, các yêu cầu nội dung cụ thể về năng lực chủ đầu tư rõ ràng và chi tiết.


Trong quá trình thẩm định, Chi nhánh đã áp dụng được các chỉ tiêu hiệu quả tài chính dự án như: NPV, IRR, B/C, T… đây là những chỉ tiêu tương đối phổ biến, thông dụng, góp phần làm cho công tác thẩm định dự án ngày càng toàn diện, cung cấp những căn cứ đầy đủ, tin cậy hơn làm cơ sở cho việc ra quyết định cho vay hay không cho vay đối với dự án. Bên cạnh đó, Chi nhánh cũng đã bắt đầu chú trọng vào việc xác minh lại các số liệu dự án cho chủ đầu tư cung cấp, đây là công việc rất cần thiết nhằm đảm bảo độ an toàn và tin cậy cho các phân tích tài chính dự án.

- Về quy trình, thời gian thẩm định dự án

Có thể bạn quan tâm!

Xem toàn bộ 104 trang: Công tác thẩm định dự án vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước tại ngân hàng phát triển Việt Nam chi nhánh Thừa Thiên Huế

Quy trình thẩm định được sử dụng tại Chi nhánh được đánh giá là khá phù hợp, khoa học, đúng quy trình và đảm bảo hiệu quả. Việc sử dụng quy trình này giúp đánh giá dự án một cách khá toàn diện, đầy đủ, đảm bảo tính khả thi của dự án về công nghệ, KT-XH, môi trường… một cách chính xác, khách quan để chấp nhận hay không chấp nhận dự án vay vốn.

Bên cạnh đó thời gian thực hiện quy trình thẩm định nhanh chóng, đúng như qui định và cam kết, đảm bảo đúng tiến độ để phía lãnh đạo Chi nhánh ra quyết định cho vay sớm nhất cho các dự án đúng với thông tin thu thập và quá trình đánh giá tính khả thi. Về lãi suất thì hiện nay, theo quyết định số 291/QĐ-BTC về việc công bố lãi suất cho vay TDĐT, TDXK của Nhà nước và mức chênh lệch lãi suất được tính hỗ trợ sau đầu tư, mức lãi suất cho vay tín dụng ĐTPT của Nhà nước bằng VNĐ là 6,9%/năm, bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi là 5,4 %/năm. Đây là mức lãi suất khá thấp so với mức lãi suất thông thường ở các ngân hàng thương mại khác. Ví dụ, ở Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) lãi suất cho vay ưu đãi là 8,5%/năm, lãi suất cho vay thông thường là 10%/năm (Nguồn: www.vietnamnet.vn, 8% - đáy lãi suất cho vay mới, ngày 31/1/2009). Trước đó, các mức lãi suất cho vay tín dụng ĐTPT của Nhà nước bằng VNĐ ở mức 10,2%/năm và 10,8%/năm, mức ngoại tệ tự do chuyển đổi là 6,9%/năm. Như vậy, mức lãi suất cho vay tín dụng ĐTPT đã được giảm khá mạnh. Điều này đã tạo nhiều điều kiện hỗ trợ và thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư trong giai đoạn khó khăn.

Công tác thẩm định dự án vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước tại ngân hàng phát triển Việt Nam chi nhánh Thừa Thiên Huế - 8


- Về đội ngũ cán bộ thẩm định

Trải qua 3 năm hoạt động, đội ngũ cán bộ thẩm định tại Chi nhánh đang từng bước trưởng thành. Qua thực tiễn thẩm định, cán bộ có điều kiện tiếp xúc, thực hiện thẩm định nhiều dự án. Đây chính là cơ hội giúp đội ngũ cán bộ thẩm định học hỏi, trau dồi những kiến thức cần thiết, nâng cao trình độ nghiệp vụ, sự hiểu biết và kinh nghiệm để thực hiện tốt công việc của mình. Đội ngũ cán bộ ngày càng được trang bị đầy đủ hơn về kỹ năng và tích luỹ kinh nghiệm. Đây là những tiền đề tốt cho việc nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án của Chi nhánh trong thời gian tới. Hiện nay Chi nhánh đang xây dựng một đội ngũ cán bộ thẩm định năng động, nhiệt tình với công việc, có đạo đức nghề nghiệp vững vàng với kiến thức chuyên sâu về nghiệp vụ thẩm định cũng như biết kết hợp nhuần nhuyễn giữa kinh nghiệm từ thực tế và các qui định về thẩm định dự án... Hầu hết các cán bộ đều cố gắng nắm vững các chủ trương chính sách, mục tiêu, định hướng phát triển của nhà nước, ngành, địa phương; có ý thức tìm hiểu, trau dồi kiến thức về pháp luật trong các lĩnh vực có liên quan, do đó đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn của một chuyên viên vừa có khả năng thẩm định vừa có khả năng tư vấn, góp phần nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án nói riêng và chất lượng tín dụng của Chi nhánh TTH trong thời gian qua.

- Về kết quả của hoạt động thẩm định

Nhìn chung, qua 3 năm hoạt động, công tác thẩm định dự án của Chi nhánh đã có nhiều tiến bộ trong việc cải tiến quy trình, phương pháp thẩm định, khuyến khích CBVC tự học hỏi, rèn luyện nâng cao trình độ, đầu tư hệ thống trang thiết bị và hệ thống cung cấp thông tin phục vụ cho công tác thẩm định tương đối hoàn chỉnh (đã trình bày ở các mục trên). Những kết quả đó làm cho chất lượng thẩm định tại Chi nhánh không ngừng hoàn thiện và nâng cao. Cụ thể là mở rộng được quy mô của Chi nhánh; Góp phần nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng Đầu tư, hạn chế nợ quá hạn, giảm thiểu rủi ro tín dụng, bảo toàn nguồn vốn; Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, giúp cho các doanh nghiệp có điều kiện tạo ra năng lực sản xuất mới; Không ngừng tìm kiếm dự án để đa dạng hóa danh mục đầu tư và cho vay, từ chối các dự án kém hiệu quả, chuẩn bị các dự án cho vay trong năm tiếp theo.


2.3.4. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân trong công tác thẩm định tại Chi nhánh Thừa Thiên Huế

Thực tế cho thấy, trong công tác thẩm định tại Chi nhánh trong 3 năm qua, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định cần được khắc phục và giải quyết.

- Về cơ chế chính sách

Hiện nay tại Chi nhánh, quy chế, sổ tay, nghiệp vụ và các quy định khác để nâng cao công tác thẩm định tín dụng còn hạn hẹp, chưa được quan tâm đúng mức. Cụ thể là các biểu mẫu chưa được quy định chi tiết, báo cáo năng lực về chủ đầu tư, năng lực tài chính đối với dự án thẩm định tại Chi nhánh còn thiếu, các yêu cầu nội dung cụ thể về năng lực chủ đầu tư còn chưa được rõ ràng, việc thẩm định cho vay các dự án mới chưa nhiều do đối tượng còn hạn chế theo Nghị Định của Chính Phủ.

- Về công tác tiếp nhận hồ sơ

Qua kết quả nghiên cứu, cho ta thấy rằng công tác tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ thẩm định tại Chi nhánh chưa thật sự được chú trọng. Cán bộ thẩm định chưa hướng dẫn tỉ mỉ, cụ thể và tận tình cho chủ đầu tư trong việc chỉnh sửa hồ sơ dự án cũng như thông báo kết quả thẩm định chưa nhanh chóng, đúng như ngày ghi trong giấy hẹn. Điều này đã tạo điều kiện khó khăn cho Chi nhánh trong việc thực hiện thẩm định các dự án vay vốn tín dụng ĐTPT một cách đồng bộ.

- Về phương pháp thẩm định dự án

Tại Chi nhánh phương pháp thẩm định dự án vay vốn nói chung và vay vốn tín dụng Nhà nước nói riêng chủ yếu là phương pháp so sánh đối chiếu. Dựa trên cơ sở các chuẩn mực đã được quy định của pháp luật, cán bộ thẩm định tiến hành so sánh. Công tác thẩm định dự án đầu tư chủ yếu dựa trên kiến thức, trình độ và kinh nghiệm của cán bộ thẩm định. Những hạn chế tồn tại trong phương pháp thẩm định dự án đầu tư vay vốn tại Chi nhánh là:

+ Quy trình thẩm định tại Chi nhánh chưa được hoàn thiện, chặt chẽ và hiệu quả, đi từ tổng thể đến chi tiết; Không có sự phân công, phối hợp, thống nhất giữa các bộ phận; Chưa có sự phân định rõ về quyền hạn và trách nhiệm giữa những người làm công tác thẩm định.


+ Việc áp dụng các phương pháp thẩm định tại Chi nhánh chưa có những nhận xét cụ thể các nội dung của dự án mà mới chỉ dừng lại ở đánh giá sự tuân thủ pháp luật của dự án đầu tư. Các phương pháp được sử dụng chủ yếu mang tính đơn giản, truyền thống (phương pháp so sánh các chỉ tiêu, thẩm định theo trình tự); các phương pháp mới hiện đại, các mô hình để phân tích như dự báo thị trường; trong phương pháp thẩm định, việc phân tích độ nhạy của dự án còn ít phổ biến, chủ yếu là đối với các dự án lớn nhưng việc tính toán vẫn còn nhiều bất cập; phương pháp triệt tiêu rủi ro được sử dụng còn hạn chế do vậy không đánh giá được tính toàn diện, tính khả thi của dự án. Dẫn đến kết luận cho vay vốn đối với dựa án chưa có độ tín cậy cao. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong việc thẩm tra độ tin cậy của các số liệu dự án, đồng thời làm cho việc thẩm định một số nội dung kỹ thuật của dự án mới chỉ dừng lại ở mức độ đánh giá về mặt pháp lý, hành chính.

+ Công tác thẩm định chưa xây dựng được khoảng hiệu quả cho các chỉ tiêu. Dự án được kết luận là khả thi và quyết định cho vay vốn khi IRR> tỷ lệ chiết khấu và NPV >0. Tuy nhiên, các chỉ tiêu này chỉ “vừa đủ” để có thể đánh giá tính khả thi của dự án trong khi đó còn rất nhiều nhân tố rủi ro tiềm ẩn có thể tác động đến tính hiệu quả của dự án.

+ Do chưa xây dựng được hệ thống phân loại khách hàng cũng như hệ thống thông tin kinh tế kỹ thuật nên Chi nhánh chưa đưa vào quy trình thẩm định bước thẩm định sơ bộ để loại bỏ một phần đáng kể các dự án không bảo đảm điều kiện vay vốn theo quy định, hoặc đưa ra những chủ trương phù hợp đối với từng nhóm khách hàng để có thể dùng để xác định các điều kiện thẩm định như thời hạn cho vay hay đảm bảo tiền vay, tính toán trích lập dự phòng rủi ro và yêu cầu mức vốn chủ sở hữu tham gia.

- Về nội dung thẩm định

Công tác thẩm định tuy về cơ bản đáp ứng được yêu cầu của cho vay vốn tín dụng đầu tư, tuy nhiên còn rất hạn chế so với công tác thẩm định của các tổ chức tín dụng quốc tế do chưa chú trọng đến việc phân tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường.

Việc phân tích năng lực chủ đầu tư còn tương đối sơ sài, chưa có quy định mang tính bắt buộc về các chỉ tiêu tài chính và tình hình sản xuất kinh doanh của khách


hàng. Việc quy định thẩm định năng lực khách hàng đối với các khách hàng mới thành lập, chưa có hoạt động sản xuất kinh doanh; công tác thẩm định khách hàng bước đầu còn hạn chế. Chi nhánh chưa hình thành hệ thống phân tích, đánh giá và xếp hạng khách hàng làm cơ sở để quyết định việc cấp tín dụng, phân cấp quyết định cho vay và tiến tới tự động hoá một phần nghiệp vụ tín dụng.

Quá trình thẩm định còn nặng về hồ sơ giấy tờ, quá trình khảo sát tình hình triển khai dự án, thẩm định thực tế tại địa bàn, đánh giá tính khả thi của dự án thông qua các dự án tương tự còn hạn chế cả về mặt thời gian và phương pháp tiếp cận.

Mặt khác, công tác thẩm định tài sản bảo đảm tiền vay chưa được hướng dẫn cụ thể mà vẫn chủ yếu do các đơn vị tự thực hiện theo các cơ chế hiện hành. Đối với các tài sản bảo đảm tiền vay của các dự án có nợ xấu, việc thẩm định đánh giá chủ yếu dựa trên cơ sở đánh giá, thẩm định của các cơ quan chuyên môn có liên quan.

Công tác thẩm định chưa được tiến hành thường xuyên trong suốt quá trình quản lý tín dụng. Công tác thẩm định mới chỉ dừng lại ở việc quy định thẩm định dự án đầu tư và năng lực chủ đầu tư trước khi quyết định cho vay, việc thẩm định trong và sau giải ngân còn bở ngỡ.

Một vấn đề hạn chế của công tác thẩm định ở Chi nhánh là còn tồn tại áp lực của các cấp hành chính trong quá trình thẩm định và quyết định cấp tín dụng ĐTPT của Nhà nước, đặc biệt đối với một số các dự án thuộc đối tượng phân cấp.

- Về đội ngũ cán bộ nhân viên thẩm định tại NHPT-Huế

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong học hỏi, nâng cao trình độ song đội ngũ cán bộ thẩm định tại Chi nhánh vẫn còn hạn chế cả về năng lực, khả năng, số lượng và tính trách nhiệm trong công việc; chưa có cơ chế rõ ràng phân công nhiệm vụ và giám sát các cán bộ thực hiện bảo đảm chất lượng và hiệu quả công việc. Trình độ và năng lực chuyên môn chưa đủ mạnh để đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao trong công việc. Quá trình thẩm định dự án chủ yếu là do cán bộ tự nghiên cứu và triển khai thực hiện bằng kinh nghiệm thực tiễn của bản thân, chuyên môn, nghiệp vụ thẩm định chưa bài bản. Hơn nữa, việc thẩm định dự án dựa trên kinh nghiệm đôi khi không tránh khỏi thiếu khách quan, thiếu tính khoa học đặc biệt đối với các dự án lớn, phức tạp làm ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định dự án.


Thêm vào đó, cơ chế phân công, phân nhiệm, trả lương, thưởng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chưa khuyến khích cán bộ thẩm định phấn đấu trở thành các chuyên gia thẩm định giỏi và thực hiện tốt nhất trách nhiệm của mình đối với Hệ thống. Ý thức trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, viên chức trong việc quản lý thẩm định, đồng hành cùng với chủ đầu tư, với doanh nghiệp chưa thật tốt.

Hiện nay, số cán bộ làm công tác thẩm định tại Chi nhánh có tổng cộng 5 người. Về số người đó thì không thể đáp ứng đủ khối lượng công việc, trên thực tế vẫn còn thiếu những cán bộ lâu năm trong nghề, vừa giỏi về chuyên môn nghiệp vụ vừa có đủ kinh nghiệm cần thiết. Hơn nữa, thẩm định dự án không phải là nhiệm vụ duy nhất của họ. Họ thường bị điều động đi công tác hoặc kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ khác nhau nên không thể tập trung hoàn toàn cho công tác thẩm định. Vì thế mà chất lượng thẩm định không khỏi bị ảnh hưởng. Đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến năng lực cán bộ chưa được phát huy tối đa trong công tác thẩm định.


CHƯƠNG 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN VAY VỐN TÍN DỤNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ NƯỚC TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH THỪA THIÊN HUẾ

3.1. Định hướng phát triển của Chi nhánh Thừa Thiên Huế

3.1.1. Phương hướng phát triển của Chi nhánh Thừa Thiên Huế

3.1.1.1. Về huy động, điều hành nguồn vốn

- Tích cực khai thác các nguồn vốn huy động mới, huy động tối đa vốn tự có của các chủ đầu tư, tìm kiếm khách hàng mới, thực hiện tốt kế hoạch chăm sóc khách hàng ngay từ đầu năm để huy động lại các hợp đồng đến hạn trong năm.

- Tìm kiếm các nguồn vốn chương trình mục tiêu, các Quỹ của địa phương (Quỹ phát triển Nhà ở, Quỹ Phát triển đất) để huy động.

- Tập trung toàn bộ nguồn vốn tại Chi nhánh đảm bảo sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả, cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn, đảm bảo hoàn vốn và bù đắp chi phí.

3.1.1.2. Về Tín dụng Đầu tư Phát triển

- Về công tác thẩm định: Tiếp tục tiếp cận các dự án mới, các dự án an sinh xã hội trong lĩnh vực giáo dục, y tế, các dự án đầu tư ra nước ngoài để cho vay đồng thời thực hiện thẩm định một cách hiệu quả sau đầu tư các dự án vay vốn đi vào hoạt động.

- Về công tác cho vay đầu tư: Hoàn chỉnh hồ sơ thẩm định cho vay các dự án cấp nước sạch; Tiếp cận cho vay các dự án đầu tư ra nước ngoài (Thủy điện, trồng rừng tại Lào); các dự án an sinh xã hội trong lĩnh vực giáo dục, y tế, môi trường.

- Về công tác giải ngân: Cần phải rà soát thật kỹ nhu cầu, kế hoạch giải ngân, theo dõi tiến độ giải ngân của các dự án trong năm. Thực hiện giải ngân đảm bảo đúng chế độ và quy định của NHPT. Kiểm tra tình hình thực hiện dự án, đặc biệt là trong mùa mưa bão; Theo dõi tiến độ triển khai các dự án hoàn thành trong năm để đưa vào hoạt động, đôn đốc mua bảo hiểm tài sản đối với các dự án đang vay vốn tại Chi nhánh, tổ chức kiểm tra các dự án ngay sau khi bị thiên tai bão lụt.

- Về công tác thu hồi, xử lý nợ:

+ Thông báo kế hoạch thu nợ năm, quý, tháng đến từng chủ đầu tư trả nợ từ đó mới có cơ sở đề xuất biện pháp xử lý nợ phù hợp với quy định.


+ Hoàn thành xử lý nợ đối với các dự án thuộc diện xử lý nợ. Phối hợp với các cơ quan địa phương, NHPT đẩy nhanh tiến trình hoàn thiện các hồ sơ của các dự án xử lý nợ để trình cấp có thẩm quyền quyết định.

3.1.1.3. Về công tác hỗ trợ sau đầu tư, ODA, bảo lãnh

- Tăng cường chất lượng quản lý dự án ODA, các dự án thực hiện kiểm soát chi khối lượng, đôn đốc các Chủ đầu tư nhận nợ kịp thời, tập trung chủ yếu cho công tác thu nợ không để phát sinh nợ quá hạn mới, giảm nợ quá hạn.

- Tiếp tục triển khai các dự án ODA mới, tăng cường công tác xử lý nợ đối với các dự án, chương trình gặp khó khăn do nguyên nhân khách quan có nợ quá hạn và lãi treo kéo dài. Đảm bảo việc sử dụng vốn hiệu quả theo đúng quy định.

3.1.2. Định hướng đối với Công tác thẩm định dự án vay vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước tại Chi nhánh Thừa Thiên Huế

- Tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, nhất trí trong nội bộ Chi nhánh nói chung và Phòng Thẩm định nói riêng. Phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, phát huy được trí tuệ của toàn thể Cán bộ viên chức nhằm nâng cao hiệu quả công việc tại Chi nhánh TTH.

- Các cán bộ Phòng Thẩm định phải luôn luôn nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn, nắm chắc các quy định, quy chế của Nhà nước và của Ngân hàng Phát triển Việt Nam nhằm đảm bảo thực hiện công tác thẩm định đạt được hiệu quả, chủ động, linh hoạt khi giải quyết các vướng mắc. Khuyến khích tính sáng tạo của các Cán bộ thẩm định trong đề xuất các giải pháp để thực hiện nhiệm vụ được giao.

- Các Cán bộ thẩm định phải có tác phong, lề lối làm việc, văn minh công sở đối với đồng nghiệp và thái độ phục vụ Khách hàng trong thời gian qua, kết hợp với cải cách thủ tục hành chính tạo điều kiện thuận lợi nhất cho Khách hàng.

- Sử dụng đúng người, đúng việc, phù hợp với chuyên nghành được đào tạo nhằm phát huy được năng lực, sở trường của từng cán bộ. Gắn quyền hạn với trách nhiệm trong công việc của từng cán bộ. Đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận có liên quan trong việc xử lý các vấn đề phát sinh trong khi thẩm định dự án đầu tư, thường xuyên tổng kết, đánh giá kết quả thẩm định để thể đưa ra được các phương hướng và giải pháp phù hợp với từng đặc điểm của dự án cụ thể.


3.2. Một số giải pháp hoàn thiện Công tác thẩm định dự án vay vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước tại Chi nhánh Thừa Thiên Huế trong thời gian tới

Căn cứ vào quy trình, nội dung, phương pháp thẩm định về công tác thẩm định dự án vay vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước đã được phân tích ở các phần trên, cho ta thấy rằng công tác thẩm định tại Chi nhánh là cao, tuy nhiên vẫn còn khá nhiều tồn tại cần được khắc phục để điều chỉnh công tác thẩm định tại Chi nhánh, từ đó em đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao công tác thẩm định tại Chi nhánh TTH như sau:

3.2.1. Hoàn thiện công tác tiếp nhận hồ sơ dự án đầu tư

Một là: Công tác tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ thẩm định dự án phải đơn giản, khách quan, đảm bảo độ chính xác, tin cậy và phù hợp với hồ sơ hợp lệ.

Hai là: Đội ngũ làm công tác thẩm định dự án đầu tư có trình độ nghiệp vụ, am hiểu những quy định của pháp luật về lĩnh vực mà mình phụ trách, thu thập và xử lý các thông tin cần thiết để tiến hành phân tích, đánh giá dự án theo các nội dung có liên quan. Khi đó, bộ phận chuyên trách về thẩm định dự án đầu tư vay vốn tại Chi nhánh sẽ là đầu mối trong việc thẩm định các dự án vay vốn thuộc lĩnh vực của mình. Vì thế, họ có nghĩa vụ phải hướng dẫn một cách cụ thể, tận tình cho chủ đầu tư về việc chỉnh sửa và hẹn ngày nộp lại cụ thể.

Ba là: Sau khi nhận đủ hồ sơ thẩm định, cần bố trí lịch họp để các cán bộ thẩm định có thể tiến hành xem xét hồ sơ, từ đó mới đưa ra quyết định chấp nhận hay không chấp nhận cho vay.

Bốn là: Sau khi có kết quả thẩm định, cần phải thông báo ngay cho chủ đầu tư đúng như ngày ghi trong giấy hẹn.

3.2.2. Hoàn thiện phương pháp thẩm định dự án đầu tư

Phương pháp thẩm định đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng lớn đến công tác thẩm định dự án đầu tư. Công tác này được thực hiện bằng các phương pháp khoa học, hiện đại cùng với kinh nghiệm quản lý và nguồn thông tin đáng tin cậy sẽ giúp cho việc phân tích, đánh giá dự án đầu tư được khách quan, toàn diện, chuẩn xác và kịp thời.

Một là: Kết hợp các phương pháp thẩm định trên cơ sở phát huy những ưu điểm của từng phương pháp. Việc vận dụng các phương pháp thẩm định phải đảm bảo không chỉ dừng lại ở việc đánh giá sự tuân thủ pháp luật của dự án thông qua việc so sánh, đối chiếu với các văn bản quy định của pháp luật mà còn đưa ra những nhận xét,


đánh giá cụ thể trong từng nội dung của dự án. Kết hợp các phương pháp thẩm định trong phân tích, đánh giá giúp nhìn nhận dự án đầu tư vay vốn tín dụng Nhà nước tại Chi nhánh được khách quan và toàn diện hơn.

Hai là: Lựa chọn phương pháp thẩm định phù hợp với từng nội dung của dự án. Cán bộ thẩm định cần thiết sử dụng phương pháp thẩm định thích hợp với từng nội dung để đạt hiệu quả công việc cao. Lựa chọn phương pháp thẩm định phù hợp theo hướng:

- Phương pháp được lựa chọn phù hợp với khả năng và điều kiện của cán bộ thực hiện khi tiến hành thẩm định.

- Phương pháp lựa chọn phải đảm bảo đáp ứng đúng những yêu cầu, quy định của nhà nước khi tiến hành thẩm.

- Phương pháp lựa chọn phải tối ưu trong số các phương pháp đưa ra khi tiến hành thẩm định.

- Phương pháp lựa chọn phải phù hợp với tính chất và đặc điểm cụ thể của từng dự án đầu tư khi tiến hành thẩm định.

Ba là: Đối với phương pháp phân tích độ nhạy cảm. Để phát huy có hiệu quả thẩm định dự án khi sử dụng phương pháp này cần lựa chọn những chỉ tiêu chủ yếu có ảnh hưởng lớn đến dự án đầu tư để phân tích. Cần chú ý đến những đặc điểm của các dự án đầu tư vay vốn tín dụng Nhà nước tại Chi nhánh. Cần đặc biệt xem xét đến chỉ tiêu tỷ suất chiết khấu chuẩn làm cơ sở tính toán chính xác các chỉ tiêu cũng như hiệu quả tài chính của dự án đầu tư vay vốn tín dụng Nhà nước tại Chi nhánh. Đây là cơ sở và căn cứ cho việc ra quyết định cho vay vốn đối với dự án.

Bốn là: Việc sử dụng các phương pháp thẩm định dự án cần phải thiết lập một số phương án (đối với từng nội dung của dự án) không nên chỉ xem xét một phương án duy nhất khi đó khó có những đánh giá về lợi ích tổng thể của dự án trong mối quan hệ với các phương án khác.

Năm là: Cần xác định những yếu tố rủi ro có thể xảy ra đối với dự án theo từng giai đoạn (thực hiện đầu tư, vận hành khai thác) sau đó đề xuất với Chủ đầu tư các biện pháp phòng ngừa rủi ro có tính khả thi, giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của dự án.


3.2.3. Hoàn thiện nội dung thẩm định dự án đầu tư

Nội dung thẩm định dự án là cơ sở quan trọng để đưa ra những nhận xét, đánh giá có độ chính xác và tin cậy. Nội dung thẩm định dự án toàn diện, khách quan, chuẩn xác sẽ giúp việc thẩm định được nâng cao dẫn đến có những quyết định cho vay vốn đúng đắn. Giải pháp hoàn thiện nội dung thẩm định dự án đầu tư vay vốn tín dụng Nhà nước tại Chi nhánh thể hiện ở việc tăng cường hơn nữa những nội dụng sau.

Một là: Nội dung thẩm định dự án phải khách quan, toàn diện. Bên cạnh những nội dung đã có trong hồ sơ dự án, cán bộ thẩm định cần làm việc độc lập, đảm bảo tính khách quan, phản ánh trung thực những nội dung của dự án. Để đảm bảo những phân tích, đánh giá xuất phát từ thực tế cán bộ thẩm định cần thiết phải đi khảo sát thực địa, thu thập thêm các thông tin từ nhiều nguồn để phục vụ cho công việc thẩm định của mình.

Hai là: Đối với các dự án đầu tư vay vốn tín dụng Nhà nước có gắn liền với đất xây dựng thì cần phải thẩm định phương án tổ chức quản lý thực hiện dự án đặc biệt đối với các phương án đền bù, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ di rời dân. Việc chậm chễ trong khâu giải phóng mặt bằng làm tăng chi phí đầu tư của dựa án ảnh hưởng đến hiệu quả dự án.

Ba là: Đối với nội dung thẩm định thị trường: cần đề chú ý thẩm định kỹ các yếu tố đầu vào và đầu ra của dự án vay vốn. Xem xét các yếu tố này được thể hiện ở việc xác định doanh thu, chi phí, lợi nhuận của dự án.

Bốn là: Thẩm định các chỉ tiêu tài chính của dự án đầu tư vay vốn tín dụng Nhà nước tại Chi nhánh ngoài các chỉ tiêu chủ yếu như NPV, IRR, T cần đề cập thêm các chỉ tiêu như B/C, RR, điểm hoà vốn, khả năng trả nợ…để đánh giá đầy đủ, toàn diện về hiệu quả tài chính của dự án. Trong quá trình thẩm định tài chính dự án cùng cần quan tâm đến những biến động của môi trường bên ngoài, đến những rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra đối với dự án.

Năm là: Đối với nội dung thẩm định kinh tế xã hội là phức tạp nhất trong quá trình thẩm định dự án vay vốn. Do hoạt động của Ngân hàng Phát triển nói chung và Chi nhánh nói riêng mang tính chất hỗ trợ doanh nghiệp nên việc thẩm định các nội dung về kinh tế xã hội của dự án là rất cần thiết.

Download pdf, tải về file docx

Ngày đăng: 18/04/2022
Đánh giá:
4.8/5 (1 bình chọn)

Gửi tin nhắn


Đồng ý Chính sách bảo mật *

Trang chủ Tài liệu miễn phí Thư viện số
Top