Đánh giá hệ thống kiểm soát rủi ro tín dụng trong công tác thẩm định tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng công thương Việt Nam - chi nhánh nam Thừa Thiên Huế - 2


thu hồi nợ khi cho vay. Do đó để đảm bảo được mục tiêu thu hồi nợ, thẩm định tín dụng cần tập trung vào các nội dung chính sau đầy:

- Thẩm định tư cách khách hàng vay vốn

Mục đích của thẩm định tư cách khách hàng vay vốn là đánh giá tư cách pháp nhân, tính chất hợp pháp và mức độ tin cậy đối với những thủ tục vay mà khách hàng phải tuân thủ.

Theo quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng, khách hàng muốn vay vốn phải thỏa mãn các điều kiện vay vốn sau:

Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.

Có mục đích vay vốn hợp pháp.

Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.

Có phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư khả thi và có hiệu quả.

Có thể bạn quan tâm!

Xem toàn bộ 62 trang: Đánh giá hệ thống kiểm soát rủi ro tín dụng trong công tác thẩm định tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng công thương Việt Nam - chi nhánh nam Thừa Thiên Huế

Thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của chính phủ và

hướng dẫn của NHNN Việt Nam.

Đánh giá hệ thống kiểm soát rủi ro tín dụng trong công tác thẩm định tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng công thương Việt Nam - chi nhánh nam Thừa Thiên Huế - 2

- Thẩm định mức độ tin cậy của hồ sơ vay vốn:

Khách hàng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác và hợp pháp của các tài liệu gửi cho tổ chức tín dụng. Tổ chức tín dụng hướng dẫn các loại tài liệu mà khách hàng cần gửi phù hợp với đặc điểm của từng loại khách hàng, từng loại cho vay và khoản vay.

Nhân viên thẩm định cần chú ý xem các tài liệu quy định có đầy đủ và hợp pháp hay không. Thông thường bộ hồ sơ vay vốn bao gồm có:

Giấy đề nghị vay vốn.

Giấy tờ chứng minh tư cách pháp nhân của khách hàng, chẳng hạn như giấy phép thành lập, quyết định bổ nhiệm giám đốc, điều lệ hoạt động.

Phương án sản xuất kinh doanh và kế hoạch trả nợ hoặc dự án đầu tư.

Báo cáo tài chính kỳ gần nhất.

Giấy tờ liên quan đến thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh nợ vay.


Giấy tờ liên quan nếu cần thiết.

- Tình hình sản xuất kinh doanh:

Đánh giá rủi ro về hoạt động kinh doanh của khách hàng căn cứ vào các nội

dung cơ bản sau:

Tính chính xác, kịp thời đầy đủ của thông tin được sử dụng để thẩm định (thông tin do khách hàng, kiểm toán độc lập, bên thứ ba cung cấp; thời điểm xác định thông tin…).

Mức độ rủi ro của ngành kinh tế, khu vực mà khách hàng đang hoạt động bao gồm: tính chất của hàng hóa dịch vụ, các đối thủ cạnh tranh, thị trường trong nước và quốc tế, ảnh hưởng của cơ chế chính sách của nhà nước, của hội nhập toàn cầu hóa liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng, phân tích kết quả thực về lỗ, lãi, đặc điểm tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh của khách hàng.

- Thẩm định khả năng tài chính:

Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết là một trong những điều kiện tiên quyết để xem xét cho khách hàng vay. Đối với ngân hàng, khả năng tài chính của khách hàng giúp cho yên tâm hơn về khả năng trả nợ. Thẩm định tài chính dựa vào báo cáo của những kỳ gần nhất và được đánh giá ở những nội dung cơ bản sau:

Tính chính xác, kịp thời và đầy đủ của thông tin được sử dụng.

Diễn biễn về giá trị thực của doanh nghiệp (Vốn chủ sở hữu thực có = Tổng tài sản sau khi trừ đi các khoản mục không có giá trị thực như: nợ khó đòi, hàng hóa mất phẩm chất… - Nợ ngắn hạn – Nợ dài hạn).

Biến động về quy mô tài sản nợ, tài sản có, đặc biệt là các khoản mục: hàng tồn kho, các khoản phải thu, chi phí chờ kết chuyển…).

Đánh giá về tính hợp lý của cơ cấu nguồn vốn và việc sử dụng các nguồn vốn đó.

Diễn biến luồng tiền của khách hàng, các hệ số khả năng thanh toán, hệ số khả năng trả nợ.

- Thẩm định tính khả thi – khả năng thu hồi nợ.

Khả năng trả nợ của khách hàng phụ thuộc rất nhiều vào tính khả thi của

phương án kinh doanh. Các tiêu chí đánh giá có thể khái quát lại như sau:


Thông tin được sử dụng để thẩm định phương án, dự án phải đảm bảo tính chính xác, kịp thời đầy đủ.

Lĩnh vực đầu tư, sản xuất kinh doanh có thuộc đối tượng cần thận trọng xem xét cấp tín dụng.

Phương án dự án có thuộc ngành sản xuất kinh doanh truyền thống, có kinh nghiệm của khách hàng hay lĩnh vực hoàn toàn mới.

Ảnh hưởng của cơ chế, chính sách của nhà nước, địa phương tới dự án

phương án;

Kinh nghiệm, năng lực và sự ràng buộc trách nhiệm của cá nhân/ tổ chức thực hiện nghiên cứu, thẩm định, lập dự án, phương án.

Việc chuẩn bị và bố trí nguồn lực thực hiện dự án: quản lý, bố trí nhân sự ở các giai đoạn thực hiện, năng lực của người chịu trách nhiệm quản lý; cơ sở vật chất, kỹ thuật để thực hiện dự án, phương án.

Khả năng mức độ chuyển hoán thành tiền của dự án, phương án.

Vòng đời của dự án phương án.

- Biện pháp bảo đảm tiền vay:

Là việc tổ chức cho vay áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi các khoản nợ đã cho khách hàng vay. Bảo đảm tín dụng có thể bằng tài sản thế chấp, cầm cố, tài sản hình thành từ vốn vay và bảo đảm bằng hình thức bảo lãnh của bên thứ ba. Đánh giá tài sản đảm bảo dựa trên các tiêu chí sau:

Nêu rủi ro từ việc cho vay không có bảo đảm bằng tài sản.

Rủi ro từ hồ sơ pháp lý của tài sản đảm bảo.

Rủi ro về giảm giá trị của tài sản đảm bảo.

Rủi ro về suy giảm khả năng thanh toán của bên bảo lãnh.

Rủi ro về tính thanh khoản của tài sản đảm bảo (khả năng dễ chuyển hóa tài sản thành tiền).

Rủi ro do sự thay đổi chính sách của nhà nước.


1.2. Kiểm soát rủi ro trong công tác thẩm định tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại NHTM

1.2.1. Khái niệm rủi ro và rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại

- Khái niệm rủi ro:

Theo TS. Nguyễn Minh Kiều5: “Rủi ro là sự khác biệt giữa giá trị thực tế và giá trị kỳ vọng. Giá trị kỳ vọng chính là giá trị trung bình có trọng số của một biến nào đó với trọng số chính là xác suất xảy ra các biến đó. Sự khác biệt giữa giá trị thực tế so với giá trị kỳ vọng được đo lường bởi độ lệch chuẩn. Do vậy độ lệch chuẩn và phương sai chính là thước đo rủi ro”.

- Khái niệm rủi ro tín dụng của NHTM

Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiên nghĩa vụ của mình như cam kết”.

Theo TS. Nguyễn Minh Kiều6: “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh do khách

nợ không có khả năng chi trả. Trong hoạt động ngân hàng, rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng vay nợ có thể mất khả năng trả nợ một khoản vay nào đó. Rủi ro tín dụng thể hiện ở khả năng hay xác suất hoàn thành giao dịch tín dụng đó”.

1.2.2. Hệ thống kiểm soát

1.2.2.1. Khái niệm của kiểm soát

Theo các tác giả Schoderber, Cosier và Aplin (1998): “Kiểm soát là hoạt động đánh giá và chỉnh sửa những lệch lạc từ tiêu chuẩn. Kiểm soát do đó bao gồm những hoạt động thiết lập tiêu chuẩn và chỉnh sửa những lệch lạc từ thực tế so với tiêu chuẩn đã xác lập”.


5 Nguyễn Minh Kiều (2009), Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản Thống

Kê.

6 Nguyễn Minh Kiều (2007) Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, Nhà xuất bản Thống kê, Trang 1048.


Theo các tác giả Jones và George (2003)7: “Kiểm soát là quá trình nhà quản l ý giám sát và điều tiết tính hiệu quả và hiệu lực của một tổ chức và các thành viên trong việc thực hiện các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Tuy nhiên, kiểm soát không có nghĩa là chỉ phản ứng lại những sự kiện sau khi đã xảy ra. Kiểm soát cũng có nghĩa là giữ cho tổ chức theo đúng định hướng và dự kiến các sự kiện có thể xảy ra”.

Theo Từ điển Việt Nam (1996)8: “Kiểm soát là sự xem xét để phát hiện ngăn

chặn những gì trái với quy định”.

Theo Nguyễn Thị Phương Hoa (2009)9: “Kiểm soát là quá trình đo lường, đánh giá và tác động lên đối tượng kiểm soát nhằm bảo đảm mục tiêu, kế hoạch của tổ chức được thực hiện một cách có hiệu quả”.

Tóm lại, kiểm soát được hiểu là tổng hợp những phương sách để nắm lấy và điều hành đối tượng hoặc khách thể quản lý. Với ý nghĩa đó, kiểm soát có thể được hiểu theo nhiều chiều: cấp trên quản lý cấp dưới thông qua các chính sách, biện pháp cụ thể, đơn vị này kiểm soát đơn vị khác thông qua việc chi phối đáng kể về quyền sở hữu và các lợi ích tương ứng, nội bộ các đơn vị kiểm soát lẫn nhau thông qua quy chế và thủ tục quản lý.

1.2.2.2. Các hoạt động trong kiểm soát quản lý

- Lập kế hoạch về hoạt động mà tổ chức cần thực hiện:

Xuất phát từ mục tiêu mong muốn, nhà quản lý lên kế hoạch về các hoạt động cần thực hiện để đạt được mục tiêu. Kế hoạch bao gồm kế hoạch dài hạn và kế hoạch ngắn hạn. Trong quá trình lập kế hoạch có xác lập các định mức (hay tiêu chuẩn) đối với các hoạt động cần thực hiện. Các định mức hay tiêu chuẩn này là cơ sở để đánh giá


7 Jones anh George (2003), Contemporaty Management, 3rd edition, MaGraw-Hill, Irwin, New Yord.

8 Hoàng Phê (1996), Từ điển Việt Nam, Nhà xuất bản Đà Nẵng, Hà Nội, Đà Nẵng.

9 Nguyễn Thị Phương Hoa (2009), Giáo trình Kiểm soát quản lý, Nhà xuất bản Đại

học Kinh tế quốc dân.


các hoạt động thực tế. Bên cạch việc xác lập các định mức, nhà quản lý có dự kiến về các sự kiện tương lai có thể xảy ra.

Ví dụ: từ mục tiêu tăng lợi nhuận lên 5%, nhà quản lý ngân hàng dự kiến doanh thu tăng 10% và chi phí tăng 8%. Trong đó chi tiết ra mức tăng chi phí của chi phí huy động vốn, chi phí nhân viên, trích lập dự phòng. Doanh thu dự kiến tăng 10% đòi hỏi nhà quản lý cũng phải dự kiến thu nhập từ hoạt động cho vay,thu hoạt động dịch vụ, thu lãi khác tăng như thế nào.

- Kết hợp các hoạt động của các bộ phận khác nhau trong ngân hàng: Để thực hiện hoạt động theo kế hoạch, các bộ phận liên quan trong ngân hàng cần được phối hợp với nhau. Ngân hàng là sự kết hợp giữa các bộ phận khác nhau có mối quan hệ với nhau, nhà quản lý cần có cách thức kiểm soát để chắc chắn rằng các hoạt động tại các bộ phận diễn ra theo kế hoạch.

- Trao đổi thông tin: Trên cơ sở kiểm soát các hoạt động thực tế, kết quả kiểm soát được truyền về nhà quản lý cấp cao theo các kênh thông tin được xác lập. Tất cả các quyết định đều dựa trên cơ sở thông tin, chất lượng quyết định của nhà quản lý phụ thuộc nhiều vào chất lượng, số lượng và tính kịp thời của thông tin có được. Do đó, nhà quản lý sẽ thiết kế các kênh thông tin và cách thức truyền tin cho phù hợp với mục tiêu quản lý. Sự ra đời của máy tính cho phép kiểm soát theo thời gian thực. Máy tính nhận, xử lý thông tin và cung cấp cho việc sử dụng ngay. Cho phép nhà quản lý quyết định về một sự kiện khi sự kiện đó vẫn còn đang diễn ra.

- Đánh giá và xử lý thông tin: Nhà quản lý cấp cao đánh giá thông tin về thực hiện hoạt động được kiểm soát so với tiêu chuẩn đã xác lập. Nếu sự khác biệt là không đáng kể, hoạt động thực tế có thể được chấp nhận. Nếu sự khác biệt là đáng kể, nguyên nhân cần được xem xét.

- Tác động lên các khách thể kiểm soát nhằm thay đổi hành vi của khách thể kiểm soát: Từ biện pháp tác động đã lựa chọn, thực hiện việc tác động lên đối tượng kiểm soát nhằm đạt được mục tiêu. Có thể biện pháp tác động ngay hoặc biện pháp tác động cơ bản. biện pháp tác động ngay điều chỉnh hoạt động ngay lập tức để đưa hoạt động theo đúng hướng đã định. Biện pháp tác động cơ bản xác định tại sao và như thế nào hoạt động đã được chệch khỏi định hướng và chỉnh sửa nguyên nhân gây ra chệch hướng đó.


1.2.2.3. Ảnh hưởng của công nghệ thông tin đến kiểm soát

Những tiến triển trong công nghệ thông tin đã cách mạng hóa các hệ thống kiểm soát thông qua việc tạo thuận lợi luồng thông tin chính xác và kịp thời theo chiều dọc và ngang trong toàn doanh nghiệp. Kiểm soát và các hệ thống thông tin được xây dựng để đo lường hoạt động ở mỗi giai đoạn trong quá trình biến đổi đầu vào thành thành phẩm và dịch vụ.

Kiểm soát chung trong hệ thống thông tin là tìm hiểu và đánh giá sự hiện hữu của các chính sách, các quy định, sự phổ biến và công bố, sự tuân thủ, tính hữu hiệu các giải pháp và kỹ thuật hỗ trợ cùng với soát xét và cập nhật. Là sự xác lập kế hoạch an ninh, phân chia trách nhiệm giữa các chức năng của hệ thống.

Đối với hoạt động kiểm soát thâm nhập về mặt vật lý nhằm ngăn ngừa những người không có thẩm quyền tiếp cận tài sản bằng cách sử dụng khóa, bảo vệ, thẻ từ, quy định trách nhiệm và các thiết bị hỗ trợ.

Đối với hoạt động kiểm soát truy cập có mục đích đảm bảo người dùng hợp pháp, tăng cường an ninh cho hệ thống và dữ liệu; để đảm bảo an ninh cho toàn bộ hệ thống có các chính sách hướng dẫn và giải pháp kỹ thuật như: khai báo người dùng, nhận dạng cá nhân, phân quyền truy cập, bảo mật nhiều lớp trên phần mềm ứng dụng, đánh giá kiểm soát truy cập dựa trên đánh giá chính sách.

Kiểm soát thông tin đầu ra bao gồm chính sách và các bước thực hiện nhằm đảm bảo sự chính xác của việc xử lý số liệu, xem xét các kết xuất nhằm đảm bảo nội dung thông tin cung cấp và hình thức phù hợp với nhu cầu sử dụng thông tin, đối chiếu giữa các kết xuất và dữ liệu nhập thông qua các sổ tổng kiểm soát nhằm đảm bảo tính chính xác của thông tin, chuyển giao chính xác thông tin đến người sử dụng thông tin, đảm bảo an toàn cho các kết xuất và thông tin nhạy cảm của doanh nghiệp, quy định hủy các thông tin.

1.2.3. Đặc điểm của hệ thống kiểm soát trong việc quản lý rủi ro thẩm định tín dụng

tại NHTM

Ở Việt Nam hiện nay chưa có một định nghĩa chính thức nào về kiểm soát thẩm định cho vay tại NHTM, tuy nhiên có thể định nghĩa khái quát như sau: “Kiểm soát thẩm định cho vay tại NHTM là quá trình ngân hàng phân tích, theo dõi, kiểm tra


việc thẩm định từng khoản cho vay để xác định rủi ro mà ngân hàng có thể phải gánh chịu từ đó có các biện pháp ngăn chặn thích hợp, kịp thời để không ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng”.

Hoạt động kiểm soát được tiến hành trước trong và sau khi cán bộ tín dụng của Ngân hàng thẩm định hồ sơ để phê duyệt cho vay. Các thủ tục kiểm soát trong hoạt động thẩm định tín dụng như:

- Phân chia trách nhiệm theo nguyên tắc phân công phân nhiệm và nguyên tắc bất kiêm nhiệm

Trong nghiệp vụ tín dụng, ngân hàng phải phân chi trách nhiệm cụ thể cho từng bộ phận tham gia. Mỗi bộ phận có nhiệm vụ riêng nhằm tránh tình trạng một cá nhân hay bộ phận nào có thể kiểm soát toàn bộ hoạt động thẩm định tín dụng. Phân chia trách nhiệm sẽ giúp giảm bớt rủi ro xảy ra các sai sót nhầm lẫn cũng như các hành vi gian lận. Đồng thời tại cho nhân viên không có cơ hội làm sai quy định trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình.

Không được bố trí kiêm nhiệm giữa các nhiệm vụ phê chuẩn – thực hiện nghiệp vụ, kế toán – bảo quản tài sản. Vì khi kiêm nhiệm sẽ dễ dẫn đến hành vi lạm dụng quyền hạn. Ví dụ như không thể có sự kiêm nhiệm chức năng thực hiện thẩm định tín dụng và chức năng kiểm soát bởi vì người thực hiện không thể lại tự kiểm soát những việc mình làm, giữa chức năng thẩm định và chức năng cho vay không được kiêm nhiệm… Ngân hàng thực hiện đúng theo nguyên tắc này thì hệ thống kiểm soát sẽ chặt chẽ và hiệu quả hơn.

- Phải ủy nhiệm cho người có thẩm quyền phê chuẩn các nghiệp vụ một cách thích hợp:

Theo Th.s Nguyễn Hữu Thủy10: “Ủy quyền là giao một phần quyền hành và

trách nhiệm cho cấp dưới để thực hiện nghĩa vụ. Việc giao quyền hạn có vẻ được thực hiện đơn giản, thế nhưng các công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng người quản lý bị thất bại cho sự giao quyền quá đó, chứ không phải do bất kỳ nguyên nhân nào khác”.


10 Th.s Nguyễn Hữu Thủy (2008), Bài giảng quản trị doanh nghiệp, Trường đại học kinh tế, Trang 43.


Ban lãnh đạo ngân hàng không thể trực tiếp quyết định mọi vấn đề. Do đó, sự phân quyền do các cấp và xác định thẩm quyền phê chuẩn của từng người là một điều hoàn toàn cần thiết. Nó giúp cho mỗi cá nhân biết tự chịu trách nhiệm với những quyết định trong công việc của mình, giúp cho các mặt hoạt động kinh doanh của ngân hàng tiến triển tốt đẹp, mà nhà lãnh đạo vẫn có thể kiểm soát và hạn chế được sự tùy tiện khi giải quyết công việc của nhân viên cấp dưới.

- Chứng từ và sổ sách phải đầy đủ

Chứng từ là một trong những công cụ quan trọng giúp chuyển giao thông tin trong và ngoài hệ thống ngân hàng. Nếu chứng từ được lập nghiêm túc, phản ánh trung thực và đầy đủ các nghiệp vụ kinh tế thì sẽ giúp hoạt động kiểm soát dễ dàng hơn.

Trong việc ghi chép sổ sách kế toán, ngân hàng sử dụng một hệ thống tài khoản khác với các tổ chức kinh tế khác. Hệ thống tài khoản này phản ánh các nghiệp vụ kinh tế đặc thù riêng của ngân hàng.

- Kiểm soát vật chất đối với tài sản và sổ sách:

Biện pháp quan trọng để bảo vệ tài sản, tài liệu kế toán và các thông tin khác là áp dụng những thể thức kiểm soát vật chất. Ví dụ như xây dựng nhà kho, hầm tiền, sử dụng két sắt chịu lửa; trang bị hệ thống báo cháy, báo động, máy đếm tiền…

Cần có sự hạn chế tiếp cận trực tiếp với tài sản, sổ sách của ngân hàng khi không có sự cho phép của người có thẩm quyền.

- Kiểm soát độc lập việc thực hiện: Là việc kiểm tra thường xuyên và liên tục của những kiểm soát viên độc lập với đối tượng bị kiểm tra, nhằm xem xét về việc thực hiên bốn loại thủ tục kiểm soát nêu trên. Sự kiểm soát này thiết lập xuất phát từ những hạn chế cố hữu của hệ thống kiểm soát.

1.2.4. Kiểm soát rủi ro tín dụng trong công tách thẩm định tín dụng khách hàng doanh nghiệp

a. Đánh giá các nguồn thông tin theo hồ sơ

Khi khách hàng gửi hồ sơ vay vốn cho ngân hàng, Cán bộ tín dụng sẽ tiến hành đánh giá mức độ đầy đủ, thiếu sót cũng như những yếu tố cơ bản có liên quan đến hồ sơ như hồ sơ pháp nhân, hồ sơ vay vốn, tài sản đảm bảo để yêu cầu khách hàng bổ sung.


b. Thu thập thông tin có liên quan đến hồ sơ vay khách hàng

Dựa trên hồ sơ vay vốn hoàn chỉnh mà khách hàng đã gửi, Cán bộ tín dụng tiến hành thu thập, tổng hợp các thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình thẩm định khách hàng. Trong trường hợp hồ sơ vay vốn khách hàng chưa thể cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết, Cán bộ tín dụng có thể sử dụng các kênh thông tin khác như: Thông tin từ các nhà cung cấp, Thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng, Thông tin từ các phương án, dự án tương tự.

c. Thẩm định pháp lý, quy mô tổ chức của DN

Là việc thẩm định mức độ hợp lý, hợp pháp về pháp lý cũng như quy mô tổ chức của DN, qua các nội dung như: năng lực pháp luật dân sự; Tư cách pháp lý của người đại diện; Điều lệ, quy chế tổ chức; Giấy phép đầu tư, chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy phép hành nghề; Khách hàng vay vốn có trụ sở tại địa bàn nơi ngân hàng đóng trụ sở hay không vì một số ngân hàng nếu cho vay ngoài địa bàn phải xin phép hội sở,….

d. Thẩm định tình hình hoạt động, sản xuất kinh doanh của DN

Là việc đánh giá mức độ hoạt động, sản xuất kinh doanh của DN trong quá khứ, hiện nay và dự đoán tiềm năng phát triển trong tương lai. Trường hợp qua thẩm định nhận thấy khách hàng đang hoạt động xấu, thiếu ổn định hoặc có xu hướng gặp khó khăn trong tương lai, cần có quyết định đúng đắn để hạn chế rủi ro.

e. Thẩm định tình hình tài chính của DN

Việc thẩm định nhằm xác định tình trạng năng lực tài chính của DN, thông qua các nhóm chỉ tiêu chính như sau: Nhóm chỉ tiêu về thanh toán, Nhóm chỉ tiêu ổn định, Nhóm chỉ tiêu về sức tăng trưởng, Nhóm chỉ tiêu về tính hiệu quả hoạt động, Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời.

f. Thẩm định phương án vay vốn

Thẩm định phương án, dự án vay vốn của DN để xem xét tính khả thi và hiệu quả của dự án, khả năng trả nợ cũng như những rủi ro có thể xảy ra. Trên cơ sở đó, ngân hàng có thể quyết định nên cho vay hay không và nếu cho vay thì số tiền cho vay, thời hạn cho vay, tiến độ giải ngân, mức thu nợ thế nào là hợp lý, nhằm đảm bảo khách hàng hoạt động có hiệu quả, hạn chế rủi ro cho ngân hàng.


g. Thẩm định tài sản thế chấp

Tài sản thế chấp là phương tiện cuối cùng bảo đảm cho quyền lợi của ngân hàng nếu rủi ro xảy ra. Vì vậy, thẩm định tài sản thế chấp có vai trò rất quan trọng. Nội dung thẩm định bao gồm: Thẩm định tính pháp lý giấy tờ TSBĐ; Tình trạng sở hữu, tranh chấp, quy hoạch; Tài sản có được phép giao; Tính thanh khoản của TSTC; Giá trị tài sản,…

h. Chấm điểm, xếp hạng tín dụng khách hàng

Hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng là quy trình đánh giá khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính của khách hàng đối với ngân hàng như trả lãi và vốn vay khi đến hạn, nhằm xác định rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng. Mức độ rủi ro tín dụng thay đổi theo từng khách hàng, được xác định thông qua quá trình đánh giá bằng thang điểm, dựa vào các thông tin tài chính và phi tài chính có sẵn của khách hàng tại thời điểm châm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng.

i. Thẩm định rủi ro tín dụng độc lập đối với khoản vay

Là việc tái thẩm định khoản vay một cách độc lập, được thực hiện bởi một bộ phận chuyên trách không phụ thuộc các thành viên đã tham gia thẩm định tín dụng lần đầu.

Bộ phận này có trách nhiệm tiến hành rà soát, thẩm định lại toàn bộ các công việc mà bộ phận tín dụng trước đó đã thực hiện gồm: thẩm định khách hàng, thẩm định phương án vay vốn, thẩm định tài sản đảm bảo, rà soát việc chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng, sau đó đề xuất ý kiến độc lập về khoản vay trên để lãnh đạo cho vay xem xét quyết định.


CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NHTMCP CÔNG THƯƠNG

VIỆT NAM – NAM THỪA THIÊN HUẾ


2.1. Khái quát về Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank) – Chi nhánh Nam Thừa Thiên Huế

2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Vietinbank – Chi nhánh Nam Thừa Thiên Huế

Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam (VietinBank) được thành lập từ năm 1988 sau khi tách ra từ ngân hàng nhà nước Việt Nam. Là NHTM lớn và giữ vị trí quan trọng, trụ cột của nghành ngân hàng Việt Nam. NHTMCP CT VN có hệ thống mạnh lưới trải rộng với 3 sở giao dịch, 141 Chi nhánh và trên 700 phòng giao dịch, có 4 Công ty hạch toán độc lâp là công ty Cho thuê tài chính, Công ty Bảo hiểm và 3 đơn vị sự nghiệp là Trung tâm Công nghệ Thông tin và trung tâm Thẻ, Trường đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. NH TMCP CT VN là sáng lập viên và đối tác liên doanh của ngân hàng INDOVINA, có quan hệ đại lý với trên 850 ngân hàng lớn trên thế giới. Ngân hàng Công Thương Việt Nam là một ngân hàng đầu tiên của Việt Nam được cấp chứng chỉ ISO 9001:2000 và là thành viên của hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, Hiệp hội các ngân hàng Châu á, Hiệp hội Tài chính viễn thông Liên ngân hàng toàn cầu(SWIFT), tổ chức phát hành và Thanh toán thẻ VISA. MASTER quốc tế. NH TMCP CT VN còn là ngân hàng tiên phong trong việc ứng dụng công nghệ hiện đại và thương mại điện tử Việt Nam, không ngừng nghiên cứu, cải tiên các sản phẩm, dịch vụ hiện có và phát triển các sản phẩm mới nhằm đáp ứng cao nhu cầu của khách hàng.

Theo quyết 67/QĐ-NH5 của thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam vào ngày 27/03/1993 tiến hành thành lập 77 chi nhánh trong đó có Ngân hàng TMCP CT VN - Chi nhánh Thừa Thiên Huế.

Download pdf, tải về file docx

Bài viết tương tự

Gửi tin nhắn

Danh mục

Bimage 1

Bài viết tương tự

Xem nhiều

Bimage 2

Bài viết mới

Bimage 3

Home | Contact | About | Terms | Privacy policy
© 2022 Tailieuthamkhao.com | all rights reserved

Trang chủ Tài liệu miễn phí Thư viện số