Kiểm Soát Nội Bộ Hoạt Động Cho Vay Trong Ngân Hàng Thương Mại.‌

Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương – chi nhánh Lâm Đồng - 3


lặp đi lặp lại và thường nằm trong quá trình lập kế hoạch của một đơn vị. Rủi ro thường được nhận dạng ở hai mức độ: rủi ro toàn đơn vị và rủi ro ở mức độ hoạt động. Sau khi nhận dạng đơn vị cần đi sâu phân tích rủi ro dựa trên ba bước cơ bản: đánh giá tầm quan trọng của rủi ro; đánh giá khả năng, xác suất rủi ro có thể xảy ra; xem xét phương pháp quản trị để ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro.

Cuối cùng đơn vị cần quản trị sự thay đổi để hạn chế tối đa rủi ro có thể xảy ra, hay tìm ra những phương án đối phó phù hợp nhất.

1.2.4.3. Hoạt động kiểm soát.

Hoạt động kiểm soát là tập hợp các chính sách và các thủ tục đảm bảo cho các chỉ thị của các nhà quản lý được thực hiện, là các hành động cần thiết thực hiện để đối phó với rủi ro, đe dọa đến việc đạt được mục tiêu của tổ chức. Hoạt động kiểm soát tồn tại ở mọi bộ phận, mọi cấp độ tổ chức của một đơn vị.

Hoạt động kiểm soát bao gồm chính sách kiểm soát và thủ tục kiểm soát.Chính sách kiểm soát là những nguyên tắc cần làm, làm cơ sở cho việc thực hiện thủ tục kiểm soát.Còn thủ tục kiểm soát là những quy định cụ thể để thực thi chính sách kiểm soát.

Các loại hoạt động kiểm soát bao gồm: soát xét của nhà quản lý cấp cao; quản trị hoạt động; phân chia trách nhiệm hợp lý; kiểm soát quá trình xử lý thông tin; kiểm soát vật chất; phân tích rà soát.

1.2.4.4. Thông tin và truyền thông.

Mọi bộ phận và cá nhân trong đơn vị đều phải có những thông tin cần thiết giúp việc thực hiện trách nhiệm của mình. Vì vậy bất cứ một tổ chức, một đơn vị nào cũng cần phải có một hệ thống thông tin tốt, đáp ứng nhu cầu của đơn vị. Đặc biệt đối với các ngân hàng, mọi hoạt động đều xảy ra nhanh chóng, mang tính thời điểm, kịp thời vì vậy cần phải có một hệ thống thông tin nhạy bén, hoàn thiện để tránh rủi ro. Một hệ thống thông tin tốt cần có những đặc điểm sau:

- Hỗ trợ cho chiến lược kinh doanh: Nghĩa là hệ thống thông tin không chỉ thu thập thông tin cần thiết trong việc ra quyết định cho kiểm soát mà còn giúp đưa ra các chiến lược kinh doanh.

- Hỗ trợ cho sáng kiến mang tính chiến lược.

- Tích hợp với hoạt động kinh doanh: Việc sử dụng thông tin không chỉ là nằm trong hệ thống thông tin đơn thuần là tài chính mà cần phải hội nhập với hệ thống

Có thể bạn quan tâm!

Xem toàn bộ 90 trang: Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương – chi nhánh Lâm Đồng


thông tin của toàn đơn vị. Hệ thống thông tin này giúp kiểm soát quá trình kinh doanh, theo dõi, ghi nhận nghiệp vụ kịp thời, lưu trữ hồ sơ tiện lợi, truy cập dễ dàng.

Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương – chi nhánh Lâm Đồng - 3

- Phối hợp thông tin mới và cũ.

- Chất lượng thông tin: Bất kể thông tin được tạo ra từ hệ thống nào phải đảm bảo chất lượng: phải thích hợp, phù hợp với yêu cầu ra quyết định; phải kịp thời; phải cập nhật, luôn đảm bảo có các số liệu mới nhất; phải chính xác và dễ dàng truy cập.

Truyền thông là thuộc tính của hệ thống thông tin. Truyền thông là việc trao đổi truyền đạt các thông tin các thông tin cần thiết tới các bên có liên quan cả trong và ngoài đơn vị. Hệ thống thông tin không chỉ cần phải cung cấp các thông tin thích hợp mà còn cần phải có chức năng truyền thông, bởi có như vậy các thông tin đã được thu thập và xử lý mới có thể đến được với các đối tượng có nhu cầu để giúp họ thực hiện được trách nhiệm của mình. Truyền thông gồm hai bộ phận: truyền thông bên trong và bên ngoài đơn vị.

1.2.4.5. Giám sát.

Bản thân hệ thống kiểm soát nội bộ cần được giám sát. Giám sát là quá trình đánh giá chất lượng của hệ thống kiểm soát nội bộ theo thời gian. Giám sát bao gồm giám sát thường xuyên và giám sát định kỳ.

Việc giám sát thường xuyên được thực hiện đồng thời trong các hoạt động thường ngày của đơn vị, bao gồm các hoạt động giám sát, quản lý thường xuyên và các hoạt động khác mà nhân viên tiến hành trong quá trình thực hiện nhiệm vụ hàng ngày và thường được lặp đi lặp lại. Mục tiêu của giám sát thường xuyên là đảm bảo hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động hữu hiệu vì vậy cần giám sát tất cả các hoạt động trong đơn vị và một số đối tượng ngoài đơn vị như khách hàng…

Bên cạnh việc giám sát thường xuyên, các đơn vị cần có giám sát định kỳ để có một cái nhìn tổng quan, độc lập hơn về tính hữu hiệu của toàn hệ thống. Mặt khác giám sát định kỳ còn giúp đánh giá tính hữu hiệu của giám sát thường xuyên. Khi giám sát định kỳ cần chú ý các nội dung: Phạm vi và mức độ của giám sát định kỳ; ai là người thực hiện giám sát định kỳ; quy trình trong giám sát định kỳ; phương pháp đánh giá trong giám sát; báo cáo về những khuyết điểm của hệ thống sau khi giám sát như thế nào. (Nguồn:Tổng


hợp từ Kiểm soát nội bộ (2009), Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, NXB Phương Đông)

1.3. Hệ thống kiểm soát nội bộ theo Basel II:‌

Uỷ ban Basel về giám sát nghiệp vụ ngân hàng là một Uỷ ban bao gồm các chuyên gia giám sát hoạt động ngân hàng được thành lập bởi một số Thống đốc Ngân hàng Trung ương vào năm 1975. Uỷ ban này bao gồm đại diện cao cấp của các cơ quan giám sát nghiệp vụ ngân hàng tại 10 quốc gia trên thế giới, bao gồm Mỹ, Nhật Bản, Anh, Pháp, Đức, Italia, Hà Lan, Canada, Thụy Điển và Bỉ.

Quan điểm của Basel là sự yếu kém trong hệ thống ngân hàng của một quốc gia có thể ảnh hưởng tới sự ổn định về tài chính không chỉ trong phạm vi quốc gia đó mà trên phạm vi toàn cầu. Và đây là vấn đề cần được cơ quan giám sát tại các quốc gia và Ủy ban Basel về Giám sát Nghiệp vụ ngân hàng đặc biệt quan tâm.

Bộ 25 nguyên tắc cơ bản Basel là tài liệu dành cho cán bộ thực hiện công tác giám sát ở các quốc gia và cả trên phạm vi quốc tế. Các nguyên tắc này đã được thiết kế cho các chuyên gia giám sát, nhóm giám sát khu vực và thị trường nói chung theo nguyên tắc dễ áp dụng và kiểm chứng. Uỷ ban Basel sẽ cùng với các tổ chức liên quan khác đóng vai trò nhất định trong việc giám sát tiến độ áp dụng các nguyên tắc của các quốc gia nhằm xây dựng hệ thống giám sát đủ mạnh. Bộ nguyên tắc cơ bản bao hàm một số nhóm nội dung chủ yếu sau:

- Các nguyên tắc thuộc cụm chủ đề về điều kiện tiên quyết cho việc giám sát ngân hàng hiệu quả: Cụm chủ đề này được thể hiện bởi nguyên tắc 1, nguyên tắc chỉ ra điều kiện của một hệ thống giám sát nghiệp vụ ngân hàng có hiệu quả là: i) phải có một khung pháp lý phù hợp; ii) phân định mục tiêu, nguồn lực và trách nhiệm rõ ràng giữa các cơ quan giám sát; iii) quy định về chia sẻ và bảo mật thông tin.

- Các nguyên tắc thuộc cụm chủ đề cấp phép và cơ cấu:Bao gồm từ nguyên tắc 2 đến nguyên tắc 5, với các nội dung chính: i) xác định rõ ràng các hoạt động tổ chức tài chính được phép làm và chịu sự giám sát; ii) quyền đưa ra các tiêu chí và bác bỏ đơn xin thành lập nếu không đạt yêu cầu của cơ quan cấp phép; iii) quyền rà soát và từ chối bất kỳ một đề xuất nào đối với việc chuyển quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát ngân hàng hiện tại cho các bên khác.


- Các nguyên tắc thuộc cụm chủ đề về các quy định và yêu cầu thận trọng: cụm chủ đề bao gồm từ nguyên tắc số 6 đến số 15. Nội dung chính của nhóm nguyên tắc là đưa ra các chuẩn mực mà các chuyên gia giám sát nghiệp vụ ngân hàng được làm và nhất thiết phải biết xử lý trong hoạt động của mình ví dụ như: yêu cầu về an toàn vốn cho các ngân hàng, xác định rõ những khu vực nào của vốn ngân hàng chịu rủi ro; đánh giá các chính sách, thực tiễn hoạt động, các thủ tục cho vay vốn, đầu tư, việc kiểm soát vốn vay hiện tại và hồ sơ đầu tư của ngân hàng đó; đánh giá chất lượng tài sản và tính thích hợp của các điều khoản chống thất thoát và quỹ dự trữ thất thoát khoản vay.

- Các nguyên tắc thuộc cụm chủ đề về giám sát nghiệp vụ ngân hàng hiện nay: bao gồm từ nguyên tắc số 16 đến nguyên tắc số 20. Nhóm nguyên tắc này quy định yêu cầu đối với một hệ thống giám sát nghiệp vụ ngân hàng hiệu quả bao gồm cả các hình thức giám sát từ xa và giám sát tại chỗ. Cơ quan giám sát cần thường xuyên liên hệ với Ban giám đốc ngân hàng để hiểu rõ về hoạt động của NH, xây dựng phương pháp phân tích báo cáo thống kê và có biện pháp thẩm định độc lập thông tin giám sát thông qua kiểm tra tại chỗ.

- Nguyên tắc thuộc cụm chủ đề yêu cầu về thông tin: chủ đề này có 1 nguyên tắc số 21 chỉ ra cán bộ giám sát phải biết chắc mỗi ngân hàng có hệ thống lưu trữ tài liệu phù hợp cho phép chuyên gia giám sát có thể tiếp cận và thấy được tình hình tài chính thực tế của ngân hàng.

- Nguyên tắc thuộc cụm chủ đề quyền hạn hợp pháp của chuyên gia giám sát:cụm chủ đề này có 1 nguyên tắc số 22 chỉ ra các biện pháp giám sát bắt buộc để có thể đưa ra được hành động can thiệp kịp thời khi ngân hàng không đáp ứng được những yêu cầu cơ bản (ví dụ tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu không đảm bảo, năng lực quản trị điều hành yếu...). Trong trường hợp khẩn cấp, hoạt động can thiệp này bao gồm cả việc thu hồi giấy phép lập tức hoặc đề nghị thu hồi giấy phép hoạt động.

- Các nguyên tắc thuộc cụm chủ đề nghiệp vụ ngân hàng xuyên biên giới:cụm chủ đề này bao gồm từ nguyên tắc số 23 đến nguyên tắc số 25 với nội dung hướng dẫn giám sát đối với các nghiệp vụ giao dịch ngân hàng quốc tế, yêu cầu các ngân hàng nước ngoài hoạt động theo đúng các tiêu chuẩn cao bằng tiêu chuẩn của các ngân hàng


trong nước, thiết lập quan hệ và hệ thống trao đổi thông tin với các chuyên gia giám sát khác, đặc biệt là với chuyên gia giám sát của nước sở tại.

Một hệ thống kiểm soát nội bộ xây dựng và vận hành theo đúng và đủ 25 nguyên tắc của Basell sẽ là hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh, hoạt động mang lại hiệu quả cao.

1.4. Kiểm soát nội bộ hoạt động cho vay trong ngân hàng thương mại.‌

1.4.1. Khái quát về hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp.‌

1.4.1.1. Các khái niệm.

Các khái niệm:

Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 của NHNN ban hành (Khoản 16, Điều 4, Chương I): “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Thời hạn nhất định ở đây là thời hạn cho vay hay được gọi là hạn mức tín dụng”.

- Theo Th.s Nguyễn Ninh Kiều (2009), Tài chính Tín dụng và thẩm định tín dụng ngân hàng, NXB Tài Chính: “Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến khi trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thỏa thuận và quy định trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng”.

- Kì hạn trả nợ: là khoảng thời gian trong thời hạn cho vay đã được thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng mà cuối khoảng thời gian vay đó khách hàng phải trả toàn bộ hay một phần vốn vay cho tổ chức tín dụng.

- Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ: Là tổ chức tín dụng chấp thuận thay đổi kỳ hạn trả nợ gốc và/hoặc lãi vốn vay trong phạm vi thời hạn trả nợ đã thỏa thuận trước đó trong hợp đồng tín dụng mà kỳ hạn trả nợ cuối cùng không thay đổi.

1.4.1.2. Các phương thức cho vay của ngân hàng:

Theo PGS.TS Nguyễn Văn Tiến (2009), Ngân Hàng Thương Mại phương thức cho vay của ngân hàng được phân loại như sau:

a. Phân loại theo thời hạn cho vay:

- Cho vay ngắn hạn:


- Cho vay theo món: Mỗi lần vay vốn khách hàng và ngân hàng thương mại thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.

- Cho vay theo hạn mức tín dụng:

Ngân hàng thương mại và khách hàng đã xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng nhất định. Hạn mức tín dụng là mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong một thời hạn nhất định mà khách hàng và ngân hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.Đặc điểm cơ bản cơ bản của loại cho vay này là một hồ sơ xin vay dùng để xin vay cho nhiều món vay, khách hàng chỉ cần nộp một hồ sơ duy nhất vào đầu quý cho nhiều món vay.

- Cho vay trung và dài hạn:

- Cho vay mua sắm máy móc thiết bị.

- Cho vay đầu tư dự án.

b. Phân loại dựa trên cơ sở nhu cầu của khách hàng:

Theo PGS T.S Nguyễn Văn Tiến (2009), Ngân Hàng Thương Mạidựa theo nhu cầu vay vốn của khách hàng và sự thỏa thuận giữa ngân hàng với khách hàng, phương thức cho vay có thể phân loại như sau:

- Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.

- Cho vay theo hạn mức tín dụng: Tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định.

- Cho vay theo dự án đầu tư: Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, và các dự án đầu tư phục vụ đời sống.

- Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cần cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng, trong đó, một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp các tổ chức tín dụng khác.

- Cho vay trả góp: Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thỏa thuận số lãi vốn vay phải trả cộng cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kì hạn trong thời hạn vay.


- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Tổ chức tín dụng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định. Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.

- Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của các tổ chức tín dụng. Khi phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và khách hàng phải tuân theo các quy định của pháp luật về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.

- Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của pháp luật về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng thanh toán dịch vụ.

1.4.1.3. Vai trò của hoạt động cho vay của ngân hàng.

a. Đối với nền kinh tế:

Hoạt động cho vay đóng vai trò luân chuyển vốn từ những cá nhân, tổ chức có nguồn vốn thặng dư đến những người thiếu hụt vốn.Nhu cầu vay không chỉ để thỏa mãn đầu tư kinh doanh mà còn để thỏa mãn các nhu cầu thanh toán, tiêu dùng trước mắt. Hoạt động vay vốn giúp cho người thiếu vốn có cơ hội đầu tư sinh lời cao đồng thời giúp cho người thặng dư vốn có cơ hội tiết kiệm, kiếm thêm lợi nhuận từ nguồn vốn nhàn rỗi, đem lại thặng dư cho nền kinh tế, nền kinh tế không bị ách tắc, có thể lưu thông đem lại hiệu quả cao.

Không chỉ thế, hoạt động cho vay còn giúp phân bổ hiệu quả các nguồn lực tài chính trong nền kinh tế. Thông qua hoạt động cho vay mà vốn từ những người thiếu dự án đầu tư hiệu quả được chuyển tới những người có dự án đầu tư hiệu quả hơn nhưng thiếu vốn. Điều cho nền kinh tế tăng trưởng, tạo công ăn việc làm, tăng năng suất lao động.


Thông qua việc đầu tư vốn vào những ngành, nghề, khu vực kinh tế trọng điểm sẽ thúc đẩy sự phát triển của các ngành, nghề đó, hình thành cơ cấu hiện đại, hiệu quả và hợp lý.

Hoạt động tín dụng ngân hàng cũng như hoạt động cho vay góp phần lưu thông tiền tệ, hàng hóa, điều tiết thị trường, kiểm soát giá trị đồng tiền và thúc đẩy quá trình mở rộng giao lưu kinh tế giữa các nước.

b. Đối với khách hàng.

Hoạt động cho vay đáp ứng nhu cầu kịp thời về số lượng và chất lượng vốn cho khách hàng, đảm bảo sự an toàn, thuận tiện, nhanh chóng, dễ tiếp cận và có khả năng đáp ứng vốn lớn cho khách hàng.

Hoạt động cho vay giúp cho nhà đầu tư nắm bắt được những cơ hội kinh doanh, doanh nghiệp có vốn để mở rộng sản xuất.

Hoạt động vay vốn ràng buộc trách nhiệm của khách hàng phải hoàn trả gốc và lãi trong thời gian nhất định như thỏa thuận. Do đó buộc khách hàng phải nỗ lực, tận dụng hết khả năng của mìnhđể sử dụng vốn vay hiệu quả, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất, đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp và đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng.

c. Đối với ngân hàng.

Cho vay là hoạt động truyền thống, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản có và mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng (từ 70% - 90%).

Thông qua hoạt động tín dụng, hoạt động cho vay mà ngân hàng đa dạng hóa được danh mục tài sản có, giảm thiểu rủi ro.

Thông qua hoạt động cho vay ngân hàng mở rộng được các loại hình dịch vụ khác như thanh toán, thu hút tiền gửi, kinh doanh ngoại tệ, tư vấn...vv…

1.4.1.4. Nguyên tắc cho vay:

Việc vay vốn ngắn hạn là nhu cầu tự nguyện của khách hàng, đó cũng là cơ hội để các tổ chức tín dụng cấp tín dụng và thu lợi nhuận về cho đơn vị của mình. Song việc cấp tín dụng liên quan chặt chẽ tới việc sử dụng vốn, huy động vốn của khách hàng cũng như ngân hàng, đồng thời việc cấp tín dụng cũng mang lại không ít rủi ro cho ngân hàng, vì vậy khách hàng vay vốn phải đảm bảo hai nguyên tắc cơ bản:


- Khách hàng phải sử dụng vốn đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Việc sử dụng vốn đúng mục đích đảm bảo an toàn cho nguồn vốn của ngân hàng cũng như khách hàng. Việc sử dụng vốn vay vào mục đích gì, sử dụng như thế nào phụ thuộc vào thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng và được ghi trong hợp đồng tín dụng. Trước khi cho vay, ngân hàng cần tìm hiểu rõ mục đích vay vốn của khách hàng đồng thời kiểm tra xem khách hàng có sử dụng vốn vay đúng như mục đích đã cam kết hay không để hạn chế tối thiểu rủi ro trong việc thu hồi lãi và nợ gốc sau này. Mặt khác khách hàng nên tuân thủ việc sử dụng vốn vay đúng mục đích để đảm bảo khả năng hoàn trả nợ cũng như nâng cao uy tín đối với ngân hàng thuận lợi cho mọi vấn đề phát sinh sau này.

- Khách hàng phải trả nợ gốc và lãi vay đúng hạn theo thỏa thuận của hợp đồng tín dụng. Đây là một nguyên tắc quan trọng trong hoạt động cho vay. Bản chất của quan hệ tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn vay. Ngân hàng là tổ chức trung gian chuyển nhượng hợp pháp quyền sử dụng khoản tiền gửi của khách hàng gửi tiền sang cho khách hàng vay tiền và thu lợi nhuận từ chênh lệch lãi cho vay và lãi huy động vốn. Khoản tiền gửi này chính là nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi. Vì vậy trong một thời gian nhất định, ngân hàng phải thu hồi vốn cho vay và lãi gốc để hoàn trả lại cho khách hàng gửi tiền, đồng thời trì trệ trong việc thu nợ gốc và lãi vay sẽ là nguyên nhân giảm sút lợi nhuận của ngân hàng.

1.4.1.5. Điều kiện vay.

Khi cho khách hàng vay vốn, hai nguyên tắc trên chưa đủ để hạn chế tối thiểu rủi ro cho ngân hàng. Đó chỉ mới là hai nguyên tắc cơ bản ngân hàng đưa ra nhưng liệu khách hàng có chấp hành hay không đó là một vấn đề không thể đoán trước và ngân hàng cũng khó có thể dự báo được. Kiểm tra việc sử dụng vốn đối với ngân hàng cũng chỉ mang tính định tính, khó đo lường, khó có thể đem lại con số chính xác. Do vậy để giúp cho việc đảm bảo nguyên tắc vay vốn, ngân hàng cần xây dựng các tiêu chí, điều kiện cho vay nhất định. Một số điều kiện vay vốn ngân hàng cần áp dụng:

1. Khách hàng vay vốn phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.


Đối với khách hàng vay là tổ chức, cá nhân cư trú tại Việt Nam, có quốc tịch Việt Nam:

- Tổ chức phải có năng lực pháp luật dân sự.

- Cá nhân và chủ doanh nghiệp phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vidân sự.

- Đại diện của cá nhân, của hộ gia đình, của tổ hợp tác phải có năng lực hành vi dân sự.

- Thành viên của công ty hợp danh phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự.

Đối với khách hàng vay là tổ chức cư trú tại nước ngoài có tịch nước ngoài, khách hàng phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự theo quy định của Pháp luật của nước mà tổ chức đó có quốc tịch, nếu pháp luật của nước đó được Bộ luật dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam quy định hoặc các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kí kết hoặc tham gia quyết định.

2. Có mục đích vay vốn hợp pháp.

3. Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.

4. Có phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ có khả thi và có hiệu quả.

5. Thực hiện các quy định đảm bảo tiền vay theo quy định của chính phủ và hướng dẫn của ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

1.4.1.6. Hồ sơ vay vốn.

Hồ sơ vay vốn bao gồm giấy đề nghị và các tài liệu cần thiết do khách hàng soạn thảo và gửi cho tổ chức tín dụng. Các tổ chức tín dụng chỉ có trách nhiệm hướng dẫn cho khách hàng và kiểm tra lại các giấy tờ, tài liệu cần gửi.Khách hàng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác và hợp pháp của các tài liệu gửi cho tổ chức tín dụng. Thông thường bộ hồ sơ vay vốn thường có:

- Giấy đề nghị vay vốn.

- Giấy tờ chứng minh tư cách pháp nhân của khách hàng (giấy phép thành lập, quyết định bổ nhiệm giám đốc, điều lệ hoạt động vv…).

- Phương án sản xuất kinh doanh, kế hoạch trả nợ hoặc dự án đầu tư.


- Báo cáo tài chính của thời kì gần nhất, các loại giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lảnh nợ vay.

- Các giấy tờ liên quan khác nếu cần thiết.

1.4.1.7. Thẩm định và quyết định cho vay.

Để có căn cứ ra quyết định cho vay hay không cho vay, các ngân hàng đều xây dựng quy trình xét duyệt cho vay. Quy trình này phải bảo đảm tính độc lập và phân định nhiệm rõ ràng quyền hạn trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm giữa khâu thẩm định và ra quyết định cho vay.

Công tác thẩm định phải công khai, rõ ràng minh bạch. Khi thẩm định, ngân hàng cần xem xét, đánh giá tính khả thi, hiệu quả của dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh dịch vụ hoặc phương án phục vụ đời sống và khả năng hoàn trả nợ vay để có quyết định chính xác hơn.

Ngân hàng cần quy định cụ thể và niêm yết công khai thời hạn tối đa phải thông báo quyết định cho vay hay không cho vay đối với khách, kể từ khi nhận được thông tin cần thiết của khách hàng. Trường hợp quyết định không cho vay, ngân hàng cần thông báo cho khách hàng bằng văn bản, trong đó nêu rõ căn cứ từ chối cho vay.

1.4.1.8. Hợp đồng tín dụng.

Hợp đồng tín dụng là hợp đồng cho vay, theo đó ngân hàng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào một mục đích xác định trong một thời hạn nhất định theo nguyên tắc có sự hoàn trả cả gốc lẫn lãi mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng. Bất cứ một hợp đồng tín dụng nào cũng phải có đầy đủ nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ, quyền và nghĩa vụ, những cam kết khác được ngân hàng và khách hàng thỏa thuận.

1.4.1.9. Giới hạn cho vay.

Theo quy định mới nhất của ngân hàng nhà nước tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có, đối với nhóm khách hàng liên quan là 20% vốn tự có của ngân hàng, trừ trường hợp đối với khoản vay từ các nguồn vốn ủy thác của Chính phủ, của các tổ chức và cá nhân.


Đối với trường hợp nhu cầu vốn của khách hàng vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng hoặc khách hàng có nhu cầu vốn từ nhiều nguồn thì các ngân hàng có thể cho vay hợp vốn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Đối với trường hợp đặc biệt, ngân hàng chỉ được phép cho vay vượt quá mức giới hạn (ngoài hai trường hợp trên) nếu như có quyết định của chính phủ cho phép.

1.4.1.10. Hạn chế cho vay.

Ngân hàng không được cho vay không có bảo đảm, cho vay với những điều kiện ưu đãi về lãi suất, về mức cho vay đối với những đối tượng:

- Tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên có trách nhiệm kiểm toán tại tổ chức tín dụng cho vay; thanh tra viên thực hiện nhiệm vụ thanh tra lại tổ chức tín dụng cho vay; kế toán trưởng của tổ chức tín dụng cho vay.

- Các cổ đông lớn của tổ chức tín dụng.

- Doanh nghiệp thuộc một trong những đối tượng quy định tại khoản 1 điều 77 của Luật tổ chức tín dụng sỡ hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó.

1.4.1.11. Những trường hợp không được cho vay:

Theo quy định của pháp luật, các trường hợp sau ngân hàng không được phép cho vay:

- Vay vốn để mua vàng, trừ trường hợp mua vàng để sản xuất, gia công vàng trang sức mỹ nghệ.

- Các nhu cầu vốn khác không được cho vay theo quy định của Tổng giám đốc ngân hàng quyết định.

- Vay vốn để trả nợ gốc, lãi vốn vay trừ trường hợp do Tổng giám đốc quy định theo từng thời kỳ.

- Vay vốn để nộp thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp trực tiếp cho ngân sách nhà nước trừ trường hợp khoản vay có đảm bảo đầy đủ tài sản có tính thanh khoản cao.

1.4.1.12. Quy trình cho vay.

Quy trình cho vay là bảng tổng hợp mô tả công việc của ngân hàng từ việc tiếp nhận hồ sơ vay vốn của một khách hàng cho đến khi quyết định cho vay, giải ngân, thu nợ và thanh lý hợp đồng tín dụng. Quy trình cho vay bao gồm các bước cơ bản sau:

Download pdf, tải về file docx

Bài viết tương tự

Gửi tin nhắn

Danh mục

Bimage 1

Bài viết tương tự

Xem nhiều

Bimage 2

Bài viết mới

Bimage 3

Home | Contact | About | Terms | Privacy policy
© 2022 Tailieuthamkhao.com | all rights reserved

Trang chủ Tài liệu miễn phí Thư viện số