Một Số Vấn Đề Chung Về Cổ Phần Hoá Ngân Hàng Thương Mại Nhà Nước

Cổ phần hoá ngân hàng ngoại thương Việt Nam (vcb): kinh nghiệm cho các ngân hàng thương mại nhà nước - 3

Xác định giá trị doanh nghiệp:


Ban chỉ đạo cổ phần hoá lựa chọn tổ chức định giá để giao cho doanh nghiệp ký kết hợp đồng định giá hoặc giao cho Tổ giúp việc, doanh nghiệp tự xác định giá trị doanh nghiệp.

Trường hợp tổ chức tư vấn có chức năng định giá thì có thể thuê trọn gói: lập phương án cổ phần hoá, tổ chức định giá doanh nghiệp, tổ chức bán cổ phần.

Ban chỉ đạo thẩm tra kết quả kiểm kê, phân loại tài sản và kết quả xác định giá trị doanh nghiệp, báo cáo cơ quan quyết định giá trị doanh nghiệp và Bộ tài chính.

Thời gian tiến hành những việc này không quá 50 ngày làm việc kể từ ngày chuẩn bị xong hồ sơ, tài liệu.

Công bố và quyết định giá trị doanh nghiệp.


Trong thời gian không quá 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của Ban chỉ đạo cổ phần hoá, cơ quan quyết định giá trị doanh nghiệp phải ra quyết định công bố giá trị doanh nghiệp cổ phần hoá.

Có thể bạn quan tâm!

Xem toàn bộ 78 trang: Cổ phần hoá ngân hàng ngoại thương Việt Nam (vcb): kinh nghiệm cho các ngân hàng thương mại nhà nước

4. Hoàn tất phương án cổ phần hoá:


Cổ phần hoá ngân hàng ngoại thương Việt Nam (vcb): kinh nghiệm cho các ngân hàng thương mại nhà nước - 3

Lập phương án cổ phần hoá: Căn cứ quy định hiện hành và tình hình thực tế của doanh nghiệp, Ban chỉ đạo xem xét quyết định thuê tổ chức tư vấn hoặc giao cho Tổ giúp việc và doanh nghiệp lập Phương án cổ phần hoá theo các nội dung chính sau:

a. Mô tả về công ty, trong đó mô tả khái quát về quá trình thành lập công ty và mô hình tổ chức của công ty; tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong 3 - 5 năm liền kề trước khi cổ phần hoá.

b. Đánh giá thực trạng của công ty ở thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp, bao gồm:

- Thực trạng về tài sản (bao gồm cả diện tích đất được giao hoặc thuê)


- Thực trạng về tài chính, công nợ.


- Thực trạng lao động.


- Những vấn đề cần tiếp tục xử lý.


c. Phương án sắp xếp lại lao động


- Số lao động có tên trong danh sách thường xuyên ở thời điểm có quyết định cổ phần hoá.

- Số lao động tiếp tục tuyển dụng.


- Số lao động dôi dư và phương án giải quyết cho từng đối tượng (bao gồm cả lao động dôi dư được đào tạo lại để bố trí vào vị trí mới trong công ty cổ phần).

d. Phương án hoạt động sản xuất kinh doanh trong 3 - 5 năm tiếp theo, trong đó nêu rõ:

- Phương án cơ cấu lại doanh nghiệp khi chuyển thành công ty cổ phần: sắp xếp lại các bộ phận trong doanh nghiệp, đổi mới ngành nghề kinh doanh, đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh.

- Kế hoạch sản xuất kinh doanh của các năm tiếp theo về sản phẩm, sản lượng, thị trường, lợi nhuận… và các giải pháp về vốn, nguyên liệu, tổ chức sản xuất, lao động tiền lương…

e. Phương án cổ phần hoá


- Hình thức cổ phần hoá và vốn điều lệ theo yêu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần.

- Dự kiến cơ cấu vốn điều lệ: số cổ phần nhà nước nắm giữ, số cổ phần bán ưu đãi cho các nhà đầu tư chiến lược, số cổ phần bán ưu đãi cho người lao động và số cổ phần dự kiến bán cho các nhà đầu tư khác.

- Phương thức phát hành cổ phiếu theo quy định (đấu giá trực tiếp tại công ty, hoặc đấu giá tại các tổ chức tài chính trung gian, hoặc đấu giá tại trung tâm giao dịch chứng khoán).

f. Dự thảo điều lệ tổ chức va hoạt động của công ty cổ phần theo các quy định của Luật doanh nghiệp và các văn bản pháp luật hiện hành.

Hoàn thiện phương án cổ phần hoá:


a. Căn cứ theo quyết định công bố giá trị doanh nghiệp cổ phần hoá, Tổ giúp việc cùng với doanh nghiệp phối hợp với tổ chức tư vấn (nếu có) hoàn thiện phương án cổ phần hoá và gửi tới từng bộ phận trong công ty để nghiên cứu trước khi hội nghị công nhân viên chức (bất thường).

b. Tổ chức Hội nghị công nhân viên chức (bất thường) để lấy ý kiến hoàn thiện Phương án cổ phần hoá.

c. Sau Hội nghị công nhân viên chức, Tổ giúp việc, doanh nghiệp phối hợp với tổ chức tư vấn (nếu có) hoàn thiện Phương án cổ phần hoá để trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

d. Ban chỉ đạo thẩm định Phương án cổ phần hoá báo cáo cơ quan quyết định cổ phần hoá phê duyệt.

Phê duyệt phương án cổ phần hoá


Cơ quan quyết định cổ phần hoá xem xét và ra quyết định phê duyệt phương án cổ phần hoá trong thời gian không quá 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của Ban chỉ đạo.

Bước 2: Tổ chức bán cổ phần


định

1. Ban chỉ đạo cổ phần hoá lựa chọn phương thức bán cổ phần theo quy


2. Tổ chức bán cổ phần:


a. Đối với trường hợp bán đấu giá trực tiếp tại doanh nghiệp


Ban chỉ đạo cổ phần hoá và doanh nghiệp tổ chức bán đấu giá cổ phần

cho nhà đầu tư đồng thời xác định giá đấu thành công bình quân để bán cổ phần cho người lao động và nhà đầu tư chiến lược.

b. Đối với trường hợp bán cổ phần tại tổ chức tài chính trung gian


Ban chỉ đạo lựa chọn tổ chức tài chính trung gian giao cho doanh nghiệp ký hợp đồng.

Ban chỉ đạo và doanh nghiệp phối hợp với tổ chức tài chính trung gian thực hiện bán cổ phần theo quy định.

Ban chỉ đạo cổ phần hoá chỉ đạo doanh nghiệp bán cổ phần cho người lao động và nhà đầu tư chiến lược.

c. Đối với trường hợp bán cổ phần tại Trung tâm giao dịch chứng khoán.


Ban chỉ đạo cổ phần hoá được quyền đăng ký trực tiếp hoặc thuê tổ chức trung gian đăng ký và phối hợp với trung tâm đăng ký chứng khoán để bán cổ phần.

3. Tổng hợp kết quả bán cổ phần báo cáo cơ quan quyết định cổ phần

hoá.


4. Báo cáo cơ quan quyết định cổ phần hoá ra quyết định điều chỉnh quy

mô, cơ cấu cổ phần của doanh nghiệp cổ phần hoá đối với trường hợp không bán cổ phần cho các đối tượng theo đúng phương án cổ phần hoá được duyệt.

Bước 3: Hoàn tất việc chuyển doanh nghiệp thành công ty cổ phần

1. Đại hội đồng cổ đông lần thứ nhất: Ban chỉ đạo cổ phần hoá chỉ đạo Tổ giúp việc và doanh nghiệp tổ chức Đại hội đồng cổ đông lần thứ nhất để thông qua Điều lệ tổ chức và hoạt động, phương án sản xuất kinh doanh, bầu Hội đồng quản trị, ban kiểm soát và bộ máy điều hành công ty cổ phần.

2. Căn cứ vào kết quả Đại hội đồng cổ đông lần thứ nhất, hội đồng quản trị công ty cổ phần thực hiện đăng ký kinh doanh, nộp con dấu của doanh nghiệp cũ và xin khắc dấu của công ty cổ phần.

3. Lập báo cáo tài chính tại thời điểm công ty cổ phần được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh lần đầu, thực hiện quyết toán thuế, quyết toán chi phí cổ phần hoá, báo cáo cơ quan quyết định cổ phần hoá.

Nộp tiền thu từ cổ phần hoá về công ty, Tổng công ty hoặc Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp tại Bộ tài chính.

4. Công ty cổ phần mua hoặc in tờ cổ phiếu cấp cho các cổ đông theo quy định hiện hành.

5. Tổ chức ra mắt công ty cổ phần và thực hiện bố cáo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định.

Trường hợp doanh nghiệp xác định sẽ niêm yết ngay trên thị trường chứng khoán thì lập bộ hồ sơ xin cấp phép niêm yết gửi Bộ tài chính (ủy ban chứng khoán Nhà nước) theo quy định hiện hành.

6. Tổ chức bàn giao giữa doanh nghiệp và công ty cổ phần. Trong quá trình thực hiện, cơ quan quyết định cổ phần hoá, Ban chỉ đạo cổ phần hoá, Tổ giúp việc và doanh nghiệp có thể tiến hành nhiều bước một lúc để đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá công ty Nhà nước.

2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CỔ PHẦN HOÁ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC

2.1. Tính tất yếu cổ phần hoá Ngân hàng thương mại Nhà nước


Cổ phần hoá Ngân hàng thương mại Nhà nước đã trở thành một xu hướng diễn ra mạnh trên thế giới thời gian qua. “Trong khoảng thời gian từ 1988 - 2003 đã có khoảng 250 ngân hàng thương mại Nhà nước trên 59 quốc gia được tiến hành cổ phần hoá. Đây được xem là một mốc quan trọng đánh dấu sự thay đổi trong nhận thức về vai trò của Ngân hàng thương mại Nhà nước đối với quá trình phát triển kinh tế đất nước và vai trò của Chính phủ trong việc lên kế hoạch và điều tiết sự phát triển đó” [5].

Sở hữu nhà nước đối với Ngân hàng thương mại đã từng thịnh hành trong lịch sử. Ngoài những ưu điểm của sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp thông thường như: đảm bảo sự cân đối giữa các mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội; loại bỏ những thất bại của thị trường, những ảnh hưởng có hại của quá trình kinh doanh như ô nhiễm môi trường; ... thì riêng với lĩnh vực ngân hàng, sở hữu nhà nước còn cần thiết bởi:

- “Với các ngân hàng thương mại, sở hữu nhà nước giúp đảm bảo tài chính tài trợ cho các dự án nhiều rủi ro nhưng lại có lợi về mặt lâu dài cho tăng trưởng kinh tế mà khu vực tư nhân không đủ sức tài trợ” [4].

- Sở hữu nhà nước với các Ngân hàng thương mại sẽ đảm bảo nguồn vốn đủ mạnh để tiến hành quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước với tốc độ nhanh hơn nếu để khu vực tư nhân tài trợ.

- Sở hữu nhà nước trong các ngân hàng thương mại giúp nhà nước tiến hành quản lý hệ thống tài chính quốc gia, quản lý được sở hữu của các nhà tư bản nước ngoài.

Tuy vậy, sự sở hữu nhà nước này cũng tồn tại nhiều hạn chế:


- Cơ chế kiểm soát lỏng lẻo bởi sự cồng kềnh và trách nhiệm của nhiều đơn vị đối với một DNNN.

- Các nhà quản lý ở các DNNN thường có trình độ thấp hơn và thiếu động cơ để tối thiểu hoá chi phí và tối đa hoá doanh thu so với những nhà quản lý của doanh nghiệp cổ phần hoá.

Người ta thường nêu 4 lý do cơ bản để tiến hành cổ phần hoá các Ngân hàng thương mại Nhà nước[9]:

Một là, với các nước chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường thì cổ phần hoá được tiến hành trên nhiều lĩnh vực ngành nghề trong nền kinh tế và trong đó có lĩnh vực ngân hàng, đây là một trong nhiều việc cần làm để chuyển đổi nền kinh tế sang vận hành theo cơ chế thị trường.

Hai là, với các nước đang tiến hành hạn chế sở hữu nhà nước trên nhiều lĩnh vực thì cổ phần hoá ngân hàng thương mại nhà nước là việc cần thiết.

Ba là, với các nước đang tiến hành tự do hoá tài chính, thì cổ phần hoá ngân hàng thương mại là một biện pháp để giảm bớt sự kiềm chế của nhà nước đối với hệ thống tài chính.

Bốn là, với một số chính phủ thì cổ phần hoá là một biện pháp nhằm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

Vì vậy, cổ phần hoá DNNN là một tất yếu khách quan và các Ngân hàng thương mại Nhà nước không thể bị loại trừ.

2.2. Việc lựa chọn ngân hàng để tiến hành cổ phần hoá


“Theo nghiên cứu của Clarke và Cull (2002) về tiến trình cổ phần hoá các Ngân hàng thương mại Nhà nước ở Argentina thì các ngân hàng thương mại thường được chọn là Ngân hàng có hoạt động kém hiệu quả; ngân hàng có số lượng lao động thấp, bởi nếu cổ phần hoá các ngân hàng thương mại có nhiều lao động sẽ xảy ra ảnh hưởng lớn về chính trị khi có một lượng lớn

nhân viên bị sa thải. Vì vậy các ngân hàng thương mại nhỏ thường bị tiến hành cổ phần hoá trước” [11].

Nhưng nghiên cứu khác của John Bonin và Paul Wachtel (1999) với các nước Đông Âu thì “các nước này lại chọn các ngân hàng có chất lượng tốt hơn để cổ phần hoá trước, trong số các ngân hàng có chất lượng quản lý và tình hình tài chính tốt đó thì lại chọn ngân hàng có quy mô nhỏ hơn” [17].

2.3. Nét đặc thù của cổ phần hoá Ngân hàng thương mại Nhà nước so với cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước

Có thể nói rằng, cổ phần hoá NHTMNN là quá trình sẽ khó khăn phức tạp hơn so với cổ phần hoá một DNNN thông thường do các NHTMNN ở Việt Nam có các đặc điểm sau[18]:

- Vấn đề cổ phần hoá NHTMNN ở nước ta mới được chính phủ chính thức đặt ra. Do vậy, kinh nghiệm thực tế về việc thực hiện cổ phần hoá một NHTM là không nhiều.

- Tất cả các DNNN ngoài khu vực ngân hàng đều chịu sự điều chỉnh trực tiếp của Luật Doanh nghiệp, riêng các NHTMNN, ngoài một số nội dung hoạt động được tuân thủ theo Luật Doanh nghiệp, do có những đặc thù nên về cơ bản là chịu sự điều chỉnh của Luật các Tổ chức tín dụng. sự khác biệt trong cơ sở pháp lý như vậy sẽ làm cho việc thực hiện cổ phần hoá NHTMNN gặp nhiều khó khăn hơn, vì hiện nay văn bản pháp lý về cổ phần hoá mới chỉ đề cập tới cổ phần hoá DNNN thông thường.

- Hoạt động ngân hàng có độ nhạy cảm cao, liên quan trực tiếp đế quyền và lợi ích của đông đảo người gửi tiền và các khách hàng nên mọi giải pháp thực hiện cổ phần hoá có liên quan đều phải được cân nhắc kỹ lưỡng để lựa chọn đúng trên cơ sở đảm bảo các quyền và lợi ích chính đáng của các khách hàng.

- Trong cách tính giá trị NHTMNN trước khi cổ phần hoá, việc xác định giá trị thương hiệu (nếu có) sẽ khó khăn hơn vì sản phẩm dịch vụ ngân hàng đa dạng và khá trừu tượng, không giống như các sản phẩm hàng hoá của các doanh nghiệp thông thường.

Do những đặc điểm ở trên, việc cổ phần hoá một NHTMNN sẽ có những khó khăn hơn so với cổ phần hoá một DNNN thông thường:

- Do các NHTMNN có quan hệ và ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của đông đảo nhân dân và các doanh nghiệp, biến động trong hoạt động ngân hàng có tác động lớn và độ nhạy cảm cao nên việc cổ phần hoá NHTMNN đòi hỏi sự thận trọng cao hơn, giải quyết nhiều vấn đề cụ thể phức tạp. Mặt khác, do cho đến nay ở nước ta thực chất mới thực hiện cổ phần hoá đối với các DNNN loại nhỏ, nên đối với việc cổ phần hoá DNNN loại lớn, đặc biệt là NHTMNN rất nhạy cảm và có thể có những tác động lớn về chính trị - kinh tế

- xã hội.


- Do các văn bản quy phạm pháp luật về cổ phần hoá cho đến nay chủ yếu để áp dụng cho các đối tượng là các DNNN thông thường, khi áp dụng cho việc cổ phần hoá NHTMNN sẽ có những khó khăn, vướng mắc. Theo quy định hiện hành, mọi nợ nần của ngân hàng phải được xử lý xong trước khi cổ phần hoá, nên việc thực hiện yêu cầu này là rất khó vì số nợ tồn đọng của các NHTMNN hiện nay rất lớn, một số khoản do liên quan đến các vụ án nên chưa có khả năng giải quyết trong ngày một ngày hai.

- Việc thực hiện một số nội dung chủ yếu để cổ phần hoá một NHTMNN cũng có những khó khăn hơn so với cổ phần hoá một DNNN thông thường:

+ Trong việc xác định giá trị của NHTMNN, do các tài sản, đặc biệt là các trụ sở, cơ sở vật chất, trong đó có giá trị quyền sử dụng đất đi kèm của các chi nhánh thường phân bố ở nhiều địa phương nên việc tính giá trị các tài sản

này theo giá trị thị trường là rất phức tạp, mất nhiều thời gian. Hơn nữa, một số NHTMNN có đội ngũ cán bộ và người lao động được đào tạo nhiều, chất lượng hoạt động tốt trong nhiều năm cũng có giá trị thương hiệu nhất định nhưng xác định giá trị thương hiệu đó không phải là điều dễ dàng.

+ Trong việc xác định hình thức phát hành cổ phiếu và xác định đối tượng được mua cổ phiếu cũng đang đặt ra những vấn đề như phát hành cổ phiếu và niêm yết trên thị trường chứng khoán và bán tất cả cho đông đảo các nhà đầu tư chứng khoán trên thị trường hay chỉ bán một phần trên thị trường chứng khoán, phần còn lại dành để bán cho người lao động trong ngân hàng như hiện đang làm khi cổ phần hoá một DNNN thông thường.

- Trong việc thiết kế bộ máy tổ chức, cơ chế quản lý đối với NHTMNN sau cổ phần hoá cũng là vấn đề cần tính toán kỹ để: tạo lập bộ máy và cán bộ phù hợp nhưng cố gắng không gây xáo trộn; bộ máy và cơ chế hoạt động mới cần tạo được những bước phát triển mạnh và đạt được các mục tiêu của cổ phần hoá.

2.4. Cổ phần hoá Ngân hàng thương mại Nhà nước ở Việt Nam


Hiện nay, nước ta có 5 NHTMNN:


- Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank)


- Ngân hàng Ngoại thương Việt nam (Vietcombank - VCB)


- Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)


- Ngân hàng Công thương Việt Nam (Incombank - nay là Vietinbank)


- Ngân hàng Phát triển Nhà đồng bằng sông cửu Long (MHB)


“Các ngân hàng này đều được tách ra từ Ngân hàng Nhà nước trước đây (trừ MHB) và có những đặc điểm khác nhau trên nhiều mặt: VCB và BIDV đã có trên 40 năm lịch sử hình thành và phát triển, trong khi đó Agribank có

khoảng gần 20 năm. Tuy là các NHTMNN, nhưng các ngân hàng trên cũng có những đặc thù trong hoạt động và tổ chức, trong đó rõ nhất là VCB có tỷ lệ kinh doanh bằng ngoại tệ thường chiếm trên 50% và mạng lưới không trải rộng. Trong khi Agribank chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, có chi nhánh phụ thuộc ở hầu hết 64 tỉnh thành và nhiều phòng giao dịch ở các cụm dân cư. MHB có chức năng cho vay phục vụ phát triển khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (xây dựng khu dân cư vùng lũ lụt, làm nhà trên cọc…). BIDV trong những năm trước đây chủ yếu cho vay đầu tư phát triển, theo kế hoạch nhà nước, phần lớn là cho vay trung dài hạn với món vay lớn. Những ngân hàng này đang quản lý tổng tài sản chiếm gần 80% đối với toàn hệ thống các tổ chức tín dụng ở nước ta”[6].

Tuy vậy, việc cổ phần hoá các ngân hàng này vẫn là một yêu cầu tất yếu bởi các lý do sau đây:

- Hoạt động Ngân hàng, trong đó NHTMNN với vai trò chủ đạo trong những năm qua đã có sự đóng góp rất lớn vào sự thành công trong sự nghiệp đổi mới đất nước, đã triển khai thực hiện chính sách tiền tệ một cách tích cực, cơ bản ổn định được giá trị và sức mua của đồng tiền, kìm chế lạm phát, tăng dự trữ ngoại tệ cho quốc gia và góp phần tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, nhìn chung vẫn chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển chung của nền kinh tế, chưa phát huy hết chức năng huy động và sử dụng vốn có hiệu quả để làm cho kinh tế Nhà nước thực sự đóng vai trò chủ đạo.

Việc cổ phần hoá ngân hàng là một khâu trong quá trình đổi mới hoạt động ngân hàng, củng cố và cơ cấu lại các ngân hàng thương mại theo hướng tiếp tục phát huy thành tựu, khắc phục những tồn tại nhằm nâng cao năng lực tài chính, trình độ công nghệ, năng lực tổ chức kinh doanh đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của công cuộc đổi mới trong những năm tới.

- “NHTMNN đang đứng trước thực trạng nợ tồn đọng lớn, vốn tự có quá thấp so với nhu cầu thực tiễn và so với các Ngân hàng trên thế giới, tình trạng này đang làm hạn chế khả năng huy động vốn và cho vay của hệ thống ngân hàng” [13].

- Do yêu cầu của công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước cần phải có một khối lượng vốn, vì vậy cần phải có ngân hàng thương mại đủ tiềm lực tài chính để thực hiện phân phối và sử dụng vốn một cách hiệu quả. Chính vì vậy, đặt ra vấn đề cổ phần hoá NHTMNN là rất cần thiết.

- Quá trình thực hiện Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ và hội nhập vào thị trường tài chính quốc tế với việc tự do hoá tài chính đã làm cho môi trường cạnh tranh gay gắt hơn, đầy rủi ro hơn. Bối cảnh này đặt ra cho ngành Ngân hàng nước ta cần thiết phải cổ phần hoá NHTMNN.

Với những yêu cầu hết sức cần thiết và bức xúc như đã nêu trên, đòi hỏi trong hoạt động của Ngân hàng Việt Nam phải có một Ngân hàng với quy mô lớn, năng lực tài chính mạnh trong khi các NHTMNN cũng như các ngân hàng thương mại cổ phần không thể đáp ứng được thì vấn đề cổ phần hoá NHTMNN là một yêu cầu cần thiết khách quan.

Cổ phần hoá các DNNN đã được Đảng và Chính phủ thực hiện từ cách đây hơn 10 năm. Tuy nhiên, tốc độ cổ phần hoá các DNNN vẫn diễn ra tương đối chậm so với kế hoạch. Tuy nhiên, từ năm 2004, Đảng ta lại khẳng định tiếp tục quá trình này, và lần này chủ trương cổ phần hoá các những doanh nghiệp mà trước đó chúng ta còn né tránh như các doanh nghiệp bảo hiểm, ngân hàng, điện lực... Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành trung ương Đảng khoá IX nêu rõ: “Đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá và mở rộng diện các DNNN cần cổ phần hoá, kể cả một số tổng công ty và doanh nghiệp lớn trong ngành điện lực, luyện kim, cơ khí, hoá chất, phân bón, xi măng, xây

Download pdf, tải về file docx

Ngày đăng: 18/04/2022
Đánh giá:
4.0/5 (1 bình chọn)

Gửi tin nhắn


Đồng ý Chính sách bảo mật *

Trang chủ Tài liệu miễn phí Thư viện số
Top