Đánh giá hiệu quả cho vay ngắn hạn tại ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam thịnh vượng – chi nhánh Huế - 2

- Cho vay có tài sản bảo đảm: Căn cứ vào giá trị tài sản bảo đảm mà khách hàng đưa ra và mức giá do Ngân hàng xác định, Ngân hàng đưa ra hạn mức cho vay đối với khách hàng. Có hai hình thức bảo đảm: Cầm cố và thế chấp. Sự khác biệt giữa hai hình thức bảo đảm này là quyền sử dụng tài sản bảo đảm của khách hàng. Theo hình thức thế chấp, khách hàng vẫn được sử dụng tài sản bảo đảm trong thời hạn của khoản vay còn hình thức cầm cố thì không.

- Cho vay không có tài sản bảo đảm: Ngân hàng có thể cho khách hàng vay dựa vào: tín chấp, uy tín của khách hàng hoặc dựa vào uy tín của người bảo lãnh.

1.2 Hoạt động cho vay ngắn hạn của ngân hàng thương mại:

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của hoạt động cho vay ngắn hạn:

Theo quyết định 324 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam tín dụng ngắn hạn là hình thức mà tổ chức tín dụng cho khách hàng vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống.

Thời hạn đối với tín dụng ngắn hạn được tổ chức tín dụng khách hàng thoả thuận tối đa là 12 tháng, được xác định phù hợp với chu kỳ sản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng.

Các đặc điểm của hoạt động cho vay ngắn hạn:

- Vốn vay ngắn hạn luân chuyển cùng chu kỳ sản xuất kinh doanh của khách hàng. Cho vay ngắn hạn chủ yếu để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt tạm thời vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Việc cho vay và thu nợ luôn diễn ra lúc bắt đầu và kết thúc của chu kì sản xuất kinh doanh. Ngân hàng thường cho vay khi khách hàng phát sinh nhu cầu vốn để mua vật tư, nguyên vật liệu, hoặc trang trải các chi phí sản xuất, hoặc mua hàng hoá (đối với các doanh nghiệp kinh doanh thương mại). Khi hàng hoá được tiêu thụ, khách hàng có doanh thu , cũng là lúc ngân hàng thu hồi nợ. Xuất phát từ đặc điểm này, các ngân hàng thường quy định thời hạn cho vay trên cơ sở chu kì sản xuất – kinh doanh của người vay. Do vậy, thời gian thu hồi vốn trong cho vay ngắn hạn nhanh.

- Thời hạn thu hồi vốn nhanh nên rủi ro của khoản cho vay ngắn hạn thấp hơn các khoản cho vay trung và dài hạn, mức lãi suất cho vay ngắn hạn thấp hơn mức lãi suất cho vay trung và dài hạn.

- Hình thức cho vay phong phú: Ngân hàng cung cấp ngày càng đa dạng các phương thức cho vay ngắn hạn, như: cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vay thấu chi, cho vay luân chuyển… Điều này vừa để đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng, đồng thời giúp ngân hàng phân tán rủi ro, tránh rủi ro phi hệ thống.

- Cho vay ngắn hạn là hoạt động chủ yếu của ngân hàng. Điều này xuất phát từ các lý do: Hoạt động nhận tiền gửi ngắn hạn là hoạt động huy động vốn chủ yếu của NHTM, thêm vào đó là các quy định của NHTW về tỷ lệ vốn tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn. Cho nên, với sự phù hợp về lãi suất ,thời hạn và các quy định của NHTW, hoạt động cho vay ngắn hạn là một trong các hoạt động chủ yếu của NHTM .

Có thể bạn quan tâm!

Xem toàn bộ 51 trang: Đánh giá hiệu quả cho vay ngắn hạn tại ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam thịnh vượng – chi nhánh Huế

Như vậy sự cần thiết của hoạt động cho vay ngắn hạn xuất phát từ hai lý do: nhu

cầu về vốn ngắn hạn của doanh nghiệp và đặc điểm hoạt động kinh doanh của NHTM.

Đánh giá hiệu quả cho vay ngắn hạn tại ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam thịnh vượng – chi nhánh Huế - 2

1.2.2 Vai trò của cho vay ngắn hạn:

Hoạt động cho vay ngắn hạn của NHTM có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế. Nguồn vốn vay ngắn hạn đã góp phần ổn định, duy trì và mở rộng sản xuất – kinh doanh đối với các doanh nghiệp, nâng cao đời sống của các cá nhân, hộ gia đình. Khi nói đến cho vay ngắn hạn, điều quan trọng mà chúng ta phải quan tâm là hiệu quả của các khoản vay. Hiệu quả của các khoản vay phản ánh hiệu quả hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và thể hiện tính ổn định và khả năng sinh lời của ngân hàng.

1.2.2.1 Đối với nền kinh tế:

NHTM là một trung gian tài chính quan trọng, là nơi gặp gỡ của tiết kiệm và đầu tư với những đặc điểm ưu việt hơn cả: (1) Rủi ro thấp nhất, (2) Bình quân lãi suất,

(3) Chuyển đổi kỳ hạn. Cho vay là một hoạt động mang tính chất đầu tư cho nền kinh tế của NHTM. Khác với Thị trường chứng khoán, các quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm, công ty tài chính là các tổ chức tài chính chủ yếu cung cấp vốn trung và dài hạn, NHTM còn có trách nhiệm cung cấp vốn ngắn hạn cho nền kinh tế.

1.2.2.2 Đối với doanh nghiệp:

- Tín dụng ngắn hạn bổ sung vốn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng sản

xuất kinh doanh.

- Giúp cho các doanh nghiệp tăng cường quản lý và sử dụng vốn kinh doanh có hiệu quả.

- Tác động tích cực đến nhịp độ phát triển và thúc đẩy cạnh tranh.

1.2.2.3 Đối với ngân hàng thương mại:

- Hoạt động cho vay ngắn hạn là hoạt động cơ bản, chủ yếu của NHTM .

- Hoạt động cho vay ngắn hạn mang lại nguồn thu nhập chính cho Ngân hàng.

1.2.3 Một số quy định chung về cho vay ngắn hạn:

* Mục đích cho vay: nhằm bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp để

hoạt động sản xuất kinh doanh được liên tục.

* Đối tượng cho vay: là các tổ chức, cá nhân có tư cách pháp nhân và thể nhân.

* Hạn mức cho vay: Là mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong một thời hạn nhất định mà Ngân Hàng Cho Vay và khách hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Hạn mức cho vay = Tổng nhu cầu vốn vay của khách hàng - Vốn tự có của khách hàng.

* Điều kiện vay vốn:

- Có năng lực pháp lý.

- Có khả năng tài chính.

- Có mục đích sử dụng vốn phù hợp với mục tiêu đầu tư.

- Dự án đầu tư phải khả thi và phải có tính hiệu quả trực tiếp.

- Có trụ sở làm việc (Pháp nhân). Hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú dài hạn tại địa bàn Ngân hàng cấp tín dụng.

- Phải thực hiện đúng các quy định về đảm bảo tiền vay của chính phủ.

* Thời hạn cho vay: Tối đa là 12 tháng.

* Nguyên tắc cho vay:

- Vốn vay phải được hoàn trả đầy đủ và đúng hạn.

- Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích trong hợp đồng tín dụng đã thoả thuận và có hiệu quả.

- Cho vay phải được đảm bảo theo đúng quy định của chính phủ.

1.2.4 Các hình thức cho vay ngắn hạn chủ yếu:

Hiện nay NHTM có thể cho vay ngắn hạn theo các hình thức sau đây

1.2.4.1 Cho vay bổ sung vốn lưu động thiếu:

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nếu khách hàng phát sinh nhu cầu bổ sung vốn lưu động thì ngân hàng sẽ giải quyết cho vay. Tiền vay phát sinh ra theo đúng đối tượng theo phương án sản xuất – kinh doanh của khách hàng.

* Phương thức cho vay từng lần:

- Cho vay từng lần được áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu vốn không thường xuyên. Mỗi lần vay vốn, khách hàng và ngân hàng cho vay làm thủ tục vay vốn cần thiết và kí kết hợp đồng tín dụng.

- Số tiền cho vay = Tổng nhu cầu vốn của dự án hoặc phương án - Vốn chủ sở

hữu hoặc vốn tự có và vốn tham gia khác (nếu có).

- Mỗi hợp đồng tín dụng có thể phát tiền vay một hoặc nhiều lần phù hợp với tiến độ và nhu cầu sử dụng vốn thực tế của khách hàng. Mỗi lần nhận tiền vay khách hàng lập giấy nhận nợ. Trên giấy nhận nợ phải ghi thời hạn cho vay cụ thể, đảm bảo không vượt so với thời hạn cho vay ghi trên hợp đồng tín dụng. Loại tiền nhận nợ phải phù hợp với loại tiền xác định trên hợp đồng tín dụng. Tiền vay phát bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản theo mục đích sử dụng tiền vay đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.

- Ngân hàng cho vay quản lý chặt chẽ các khoản phát tiền vay của một phương án hay dự án, bảo đảm tổng số tiền cho vay trên các giấy nhận nợ không vượt quá số tiền đã kí trong hợp đồng tín dụng.

- Thu nợ gốc và lãi tiền vay.

+ Thu nợ gốc: được tiến hành theo thoả thuận ghi trên hợp đồng tín dụng, khách

hàng phải chủ động trả nợ khi đến hạn và có thể trả trước hạn.

+ Tính và thu lãi: lãi được tính và thu cùng với ngày trả nợ gốc hoặc tính và thu hàng tháng vào một ngày quy định được ghi vào hợp đồng tín dụng. Trường hợp đặc biệt, Ngân hàng cho vay và khách hàng thoả thuận về thời điểm thu lãi.

- Chuyển nợ quá hạn: đến thời điểm cuối cùng của thời hạn cho vay đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng, nếu khách hàng không trả được hết số nợ gốc hoặc nợ lãi thì chuyển toàn bộ dư nợ gốc thực tế còn lại của hợp đồng tín dụng sang nợ quá hạn.

* Phương thức cho vay theo hạn mức:

- Cho vay theo hạn mức tín dụng được áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu vay vốn thường xuyên và có đặc điểm sản xuất kinh doanh, luân chuyển vốn không phù hợp với phương thức cho vay từng lần.

- Hạn mức tín dụng: Ngân hàng cho vay căn cứ vào phương án hay dự án, kế hoạch sản xuất, kinh doanh, nhu cầu vay vốn của khác hàng, tỷ lệ cho vay tối đa so với giá trị tài sản bảo đảm tiền vay theo quy định của NHTM, khả năng nguồn vốn của

NHTM để tính toán và thoả thuận với khách hàng một hạn mức tín dụng duy trì trong thời hạn nhất định hoặc theo chu kì sản xuất kinh doanh. Việc thoả thuận này phải được thể hiện và kí kết bằng hợp đồng tín dụng.

1.2.4.2 Cho vay ngắn hạn các công trình xây dựng:

Thông thường khi xây dựng các công trình lớn, doanh nghiệp thường đi vay trung và dài hạn vì thời gian xây công trình là thường dài ( hơn 12 tháng). Tuy nhiên trong lúc chờ giải ngân vốn, thì các chi phí như là hoạt động giải phóng mặt bằng, thuê nhân công, mua thiết bị xây dựng, nguyên vật liệu thì doanh nghiệp cần phải có lượng vốn trong ngắn hạn. Lúc này đi vay ngắn hạn là hợp lý vì vay ngắn hạn có ưu điểm đó là lãi suất thấp ( thấp hơn trung và dài hạn) và có thủ tục đơn giản hơn, vay dễ dàng hơn.

Khi giai đoạn xây dựng kết thúc, doanh nghiệp sử dụng vốn được giải ngân để trả cho các khoản vay ngắn hạn hoặc sử dụng công trình để vay thế chấp dài hạn. Kỳ hạn của những khoản vay này được tính toán theo các giải đoạn thi công khác nhau, có thể dài hơn 1 năm.

1.2.4.3 Cho vay kinh doanh bán lẻ:

Đối tượng khách hàng của loại vay này là những người kinh doanh hàng hoá lâu bền như ô tô, đồ dùng gia đình... Ngân hàng có thể cho vay thông qua việc hỗ trợ người tiêu dùng mua trả góp hàng hoá các hợp đồng trả góp sẽ được Ngân hàng mua lại. Ngoài ra Ngân hàng cho những người bán lẻ vay mua hàng và sử dụng ngay những hàng hoá này để làm vật thế chấp, khi hàng hoá bán thu được tiền sẽ trả lại cho Ngân hàng.

1.2.4.4 Bảo lãnh:

* Bảo lãnh: Bảo lãnh là sự cam kết của người nhận bảo lãnh sẽ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ và quyền lợi nếu người được bảo lãnh không thực hiện đúng và đủ những cam kết đối với bên yêu cầu bảo lãnh. Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động bảo lãnh rất phong phú và đa dạng.

* Đồng bảo lãnh: Đồng bảo lãnh là việc bảo lãnh của một nhóm các tổ chức tín dụng (từ 2 trở lên) cho một dự án do một tổ chức tín dụng làm đầu mối phối hợp với các bên bảo lãnh để thực hiện, nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng và của tổ chức tín dụng.

1.2.4.5 Cho vay chiết khấu chứng từ có giá:

Trên phương diện kinh tế, chiết khấu chứng từ có giá là một nghiệp vụ tín dụng của NHTM, theo đó NHTM chấp nhận cho vay bằng cách nhận mua các giấy tờ có giá cho đến hạn thanh toán của người sở hữu, với điều kiện khấu trừ ngay phần lợi tức chiết khấu để hưởng quyền lợi đòi nợ người trả tiền theo chứng từ khi đáo hạn.

Theo phương diện pháp lý chiết khấu là một hợp đồng, theo đó tổ chức tín dụng thỏa thuận mua thương phiếu, giấy tờ có giá ngắn hạn khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán.

Như vậy, chiết khấu chứng từ có giá là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn được thực hiện dưới hình thức chuyển nhượng quyền sở hữu chứng từ cho ngân hàng để nhận một khoản tiền bằng mệnh giá trừ đi mức chiết khấu.

1.2.4.6 Nghiệp vụ thấu chi:

Thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được chi trội (vượt) trên số tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong một khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi.

Để được thấu chi, khách hàng làm đơn xin ngân hàng hạn mức thấu chi và thời hạn thấu chi (có thể phải trả phí cam kết cho ngân hàng). Trong quá trình hoạt động, khách hàng có thể kí séc, lập uỷ nhiệm chi, mua thẻ… vượt quá số dư tiền gửi để chi trả (trong hạn mức thấu chi). Khi khách hàng có tiền nhập về tài khoản tiền gửi, ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi.

Nghiêp vụ cho vay thấu chi thường diễn ra khi khách hàng không có sự phù hợp về quy mô và thời hạn của thu và chi. Chính vì vậy, hình thức cho vay này tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong quá trình thanh toán.

Số tiền lãi mà khách hàng phải trả sẽ dựa vào lãi suất, thời gian thấu chi và số tiền thấu chi. Cụ thể:

Số tiền lãi phải trả = Lãi suất thấu chi Thời gian thấu chi Số tiền

Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản. phần lớn là không có bảo đảm, có thể cấp cho cả doanh nghiệp lẫn cá nhân vài ngày trong tháng vài tháng trong năm dùng để chi lương, chi các khoản phải nộp, mua hàng… Hình

thức này nhìn chung chỉ sử dụng đối với các khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kì thu nhập ngắn, có quan hệ lâu dài với ngân hàng.

1.2.5 Quy trình chung của cho vay ngắn hạn căn bản: Bước 1: Tiếp xúc với khách hàng, hướng dẫn lập hồ sơ.

- Nhân viên A/O tiếp thị giới thiệu sản phẩm.

- Khách hàng đến Ngân hàng để xin vay vốn.

Bước 2: Tiếp nhận hồ sơ vay.

- Nhân viên A/O làm việc với khách hàng, hướng dẫn thủ tục & tiếp nhận hồ sơ

từ khách hàng.

- Nhân viên A/O chuyển hồ sơ TSBĐ sang phòng thẩm định TSBĐ & xem xét

báo cáo tài chính.

Bước 3:

- Nhân viên A/O thẩm định khách hàng về mọi mặt, trừ TSBĐ.

- Phòng thẩm định TSBĐ thực hiện định giá TSBĐ & lập tờ trình.

Bước 4: Tập hợp hồ sơ trình bày ban Tín dụng/ Hội đồng tín dụng.

Nhân viên A/O tập hợp hồ sơ do khách hàng cung cấp & tờ trình của các bộ

phận lập để trình Ban Tín dụng/ Hội đồng Tín dụng quyết định.

Bước 5: Hoàn thiện hồ sơ tín dụng.

- Phòng thẩm định TSBĐ lập hợp đồng bảo đảm tiền vay & làm thủ tục công

chứng, nhận bàn giao Tài sản ( nếu có).

- Nhân viên A/O nhập kho hồ sơ TSBĐ, sau đó lập & trình hồ sơ tín dụng để

Ban Tổng giám đốc ( hoặc Giám đốc chi nhánh) ký duyệt.

Bước 6: Thực hiện cấp tín dụng.

Giải ngân / phát hành bảo lãnh / mở L/C

Bước 7: Kiểm tra & xử lý nợ vay.

- Nhân viên A/O chịu trách nhiệm kiểm tra sau cho vay với mục đích sử dụng

vốn & tính chất, hoạt động của khách hàng.

- Phòng thẩm định TSBĐ kiểm tra về TSBĐ.

- A/O theo dõi thu gốc, lãi, phân tích rủi ro theo từng đối tượng, khu vực khách hàng.

- Kiểm tra lại việc thu lãi ( số tiền, thời hạn) giao Phòng Kế toán kiểm toán nội bộ.

Bước 8: Tất toán hợp đồng tín dụng.

1.3 Hiệu quả cho vay ngắn hạn:

1.3.1 Quan niệm về hiệu quả cho vay:

Hiệu quả tín dụng là một trong những biểu hiện của hiệu quả kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng, nó phản ánh chất lượng của các hoạt động tín dụng ngân hàng. Đó là khả năng cung ứng tín dụng phù hợp với yêu cầu phát triển của các mục tiêu kinh tế xã hội và nhu cầu của khách hàng đảm bảo nguyên tắc hoàn trả nợ vay đúng hạn, mang lại lợi nhuận cho ngân hàng thương mại từ nguồn tích luỹ do đầu tư tín dụng và do đạt được các mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Trên cơ sở đó đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững của ngân hàng.

Hiệu quả cho vay được hiểu là khả năng đáp ứng một cách phù hợp nhất nhu cầu vốn cho khách hàng nhưng vẫn dựa trên 2 tiêu chí chính: an toàn và sinh lợi. Một hoạt động cho vay được xem là hiệu quả khi đạt được 2 tiêu chí đó.

Hiệu quả cho vay là một khái niệm vừa cụ thể vừa trừu tượng, có thể ta lượng hóa được số liệu để đưa ra đánh giá nhưng có mặt ta không thể làm được mà chỉ có thể định tính. Do đó, vì giới hạn, đề tài chỉ tập trung vào một số chỉ tiêu sau.

1.3.2 Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả cho vay:

1.3.2.1 Các chỉ tiêu định tính:

- Trên cơ sở pháp lý, hoạt động cho vay có hiệu quả nếu chấp hành đúng pháp luật của Nhà nước, các quy chế cho vay, các văn bản chỉ đạo của Chính phủ và ngân hàng Nhà nước và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.

- Trên cơ sở quy chế cho vay của từng NHTM, hoạt động cho vay có hiệu quả luôn phải tuân thủ các quy chế, quy trình nghiệp vụ cho vay. Từ những đặc điểm riêng có của mình, hầu hết các ngân hàng đều nghiên cứu và đưa ra các quy chế cho vay phù hợp nhất. Cụ thể là các ngân hàng lập ra Sổ tay tín dụng, trong đó đưa ra các khái niệm, quy định, quy trình và các hướng dẫn cụ thể dành cho các cán bộ ngân hàng. Các quy định trong quy trình cho vay được áp dụng cụ thể cho từng trường hợp xin vay ở mỗi NHTM là nhằm thực hiện việc cho vay có hiệu quả. Do vậy việc tuân thủ những quy trình là một điều kiện quan trọng, tiền đề của một khoản cho vay có hiệu quả.

- Trên cơ sở hợp đồng cho vay, khi tiến hành hoạt động cho vay, ngân hàng và khách hàng sẽ lập nên một hợp đồng tín dụng. Trong hợp đồng tín dụng sẽ quy định chi tiết về các yếu tố quan trọng như thời hạn vay, mục đích sử dụng vốn vay, số tiền vay, phương thức hoàn trả gốc, trả lãi... và được thể hiện ở dạng những cam kết. Một khoản vay được coi là có hiệu quả khi nó được thực hiện đúng những cam kết đã kí trong hợp đồng tín dụng.

Các nhóm chỉ tiêu định tính trên đây đã có thể phản ánh một phần của hiệu quả cho vay. Đây là những chỉ tiêu gần như bắt buộc phải có để một khoản cho vay được coi là có hiệu quả. Tuy vậy, muốn xem xét cụ thể, cẩn thẩn và toàn diện thì chúng ta cần phải xét đến các chỉ tiêu định lượng.

1.3.2.2 Các chỉ tiêu định lượng:

Nhóm chỉ tiêu định lượng phản ánh mặt lượng của khoản vay, thông qua việc

phân tích các chỉ tiêu, tính toán và so sánh. Nhóm các chỉ tiêu định lượng bao gồm:

a. Nhóm chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng dư nợ cho vay:

Dư nợ cho vay là tổng số tiền mà ngân hàng cho vay đối với nền kinh tế tại một

thời điểm nhất định.

Đây là nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng đáp ứng nhu cầu về vốn vay của khách

hàng hay phản ánh hiệu quả cho vay về mặt số lượng.

Doanh số cho vay:

- Doanh số cho vay là tổng số tiền mà Ngân hàng đã cho nền kinh tế vay trong

một khoảng thời gian nhất định.

- Doanh số cho vay cho biết quy mô cho vay của Ngân hàng đối với từng khách

hàng trong một khoảng thời gian xác định.

- Doanh số cho vay phụ thuộc vào quy mô, chính sách hoạt động của Ngân

hàng và chu kỳ kinh tế, chính sách pháp lý.

Mức tăng trưởng tuyệt đối

doanh số cho vay năm n

Doanh số cho vay

= -

năm n

doanh số cho vay năm n-1



Dư nợ cho vay:

- Dư nợ cho vay là tổng số tiền mà Ngân hàng đã cho nền kinh tế vay trong một

thời điểm nhất định.

- Dư nợ cho vay cho biết được trạng thái thanh khoản, nhu cầu đáp ứng về vốn

vay lớn hay nhỏ của một Ngân hàng.

- Dư nợ cho vay là cơ sở để xác định chất lượng của khoản vay.

- Dư nợ cho vay cũng phụ thuộc vào chiến lược cho vay của Ngân hàng, phụ thuộc vào trạng thái thanh khoản của Ngân hàng,…

Mức tăng trưởng tuyệt đối dư

=

nợ cho vay năm n

Dư nợ cho vay năm n

Dư nợ cho vay

-

năm n-1



b. Chỉ tiêu vòng quay vốn cho vay:


(dư nợ cho vay bình quân = (đầu kỳ + cuối kỳ)/2)

Chỉ tiêu vòng quay vốn cho vay phản ánh thực trạng sử dụng vốn của ngân hàng. Nó đề cập đến việc người vay có trả nợ thường xuyên, đúng hạn và nhanh chóng hay không.

Chỉ tiêu này đo lường tốc độ luân chuyển vốn cho vay của Ngân hàng, thời gian thu hồi vốn của Ngân hàng là nhanh hay chậm. Vòng quay vốn càng nhanh được coi là tốt và việc đầu tư càng an toàn.

c. Nhóm chỉ tiêu phản ánh độ an toàn:

- Tỉ lệ nợ quá hạn:


Tỉ lệ nợ quá hạn cho biết tỉ trọng của các khoản cho vay đã bị quá hạn trả nợ gốc và lãi vay trong tổng dư nợ. Qua đó, phản ánh chất lượng các khoản cho vay của ngân hàng.

Trong hoạt động ngân hàng, tỉ lệ này càng cao phản ánh hiệu quả các khoản vay

càng thấp và độ an toàn của ngân hàng càng thấp.

Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN thì Ngân hàng phân ra 5 loại nợ sau:

a) Nhóm 1(Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:

- Các khoản nợ trong hạn mà tổ chức tín dụng đánh giá là có đủ khả năng thu

hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn;

- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 1 theo quy định tại Khoản 2, Điều này.

b) Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại;

- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều này

c) Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại;

- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều này.

d) Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại;

- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều này.

Download pdf, tải về file docx

Bài viết tương tự

Gửi tin nhắn

Danh mục

Bimage 1

Bài viết tương tự

Xem nhiều

Bimage 2

Bài viết mới

Bimage 3

Home | Contact | About | Terms | Privacy policy
© 2022 Tailieuthamkhao.com | all rights reserved

Trang chủ Tài liệu miễn phí Thư viện số