Chất lượng dịch vụ tín dụng trung và dài hạn đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh tại ngân hàng công thương Việt Nam chi nhánh tiên sơn bắc ninh – thực trạng và giải pháp - 2

doanh, tài trợ cho nhu cầu vốn cho việc thanh toán các khoản nợ khác… Việc thanh toán theo định kỳ có thể bằng nhau hoặc khác nhau, có thời hạn ân hạn.

- Tài trợ theo dự án


Khi khách hàng có kế hoạch mua sắm, xây dựng tài sản cố định… nhằm thực hiện dự án nhất định, có thể xin vay ngân hàng. Một trong những yêu cầu của ngân hàng là người vay phải xây dựng dự án, thể hiện mục đích, kế hoạch đầu tư cũng như quá trình thực hiện dự án (sản xuất kinh doanh). Thẩm định dự án là điều kiện để ngân hàng quyết định phần vốn cho vay và xác định khả năng hoàn trả của khách hàng.

Dự án được xây dựng gồm nhiều mục như phân tích thị trường, nguồn nhân lực, địa điểm, công nghệ, quy trình sản xuất, phân tích tài chính… trong đó phân tích tài chính là mục tiêu quan tâm hàng đầu của ngân hàng.

- Forfaiting


Là hình thức cung cấp tín dụng của ngân hàng cho người bán trong các giao dịch mua bán hàng hóa trả chậm và không truy đòi đối với người bán mà thu tiền thẳng từ người mua. Công cụ của tín dụng loại này là hối phiếu, lệnh phiếu, thư tín dụng…

- Cho vay hợp vốn

Có thể bạn quan tâm!

Xem toàn bộ 60 trang: Chất lượng dịch vụ tín dụng trung và dài hạn đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh tại ngân hàng công thương Việt Nam chi nhánh tiên sơn bắc ninh – thực trạng và giải pháp


Là một khoản vay được thực hiện bởi từ 2 tổ chức trở lên để tài trợ cho một dự án đầu tư với những điều kiện và điều khoản tương đương, sử dụng hồ sơ chung và được quản lý bởi một đầu mối chung. Đây là hình thức tín dụng rất thuận lợi cho ngân hàng.

Chất lượng dịch vụ tín dụng trung và dài hạn đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh tại ngân hàng công thương Việt Nam chi nhánh tiên sơn bắc ninh – thực trạng và giải pháp - 2

- Cho thuê tài chính


Là hình thức cho thuê tài sản trong thời gian hữu dụng của tài sản, trong đó tổng chi phí tiền thuê bao gồm toàn bộ chi phí mua tài sản cộng một

khoản lãi suất vừa đủ có lợi nhuận cho người cho thuê và khấu trừ một khoản từ 0 đến 5% giá trị tài sản. Trong hợp đồng thuê có quy định điều khoản về mua lại tài sản với một giá trị danh nghĩa cũng được quy định trong hợp đồng, và việc người thuê chịu hoàn toàn chi phí duy tu, bảo quản.

3. Vai trò của tín dụng trung và dài hạn đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh

3.1. Đặc điểm của thành phần kinh tế ngoài quốc doanh


Việt Nam với nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mỗi thành phần kinh tế đều có những đóng góp nhất định. Trong đó, khu vực kinh tế NQD được xem là một thành phần năng động đóng góp cho sự tăng trưởng và phát triển của đất nước. Khu vực kinh tế NQD bao gồm các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và sản xuất nhỏ (hộ gia đình) bao gồm: các doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, các công ty cổ phần và các đơn vị theo hình thức hợp tác xã. Nhìn chung, kinh tế NQD có những đặc điểm chủ yếu sau đây:

1. Những thành phần kinh tế thuộc khu vực NQD có tính tư hữu cao, quy mô doanh nghiệp đa phần là nhỏ, phân tán, hình thức hộ cá thể chiếm tỷ trọng khá lớn. Do không có yếu tố sở hữu của nhà nước, trong thành phần kinh tế NQD, người sở hữu có toàn quyền quyết định việc sản xuất kinh doanh trong khuôn khổ của pháp luật và tự chịu trách nhiệm về những quyết định đó. Vì vậy, có thể nói tính chủ động trong sản xuất kinh doanh của thành phần kinh tế này rất cao.

2. Nhờ sự tự chủ trong kinh doanh, các doanh nghiệp NQD thường có được một cơ cấu tổ chức năng động và linh hoạt nhằm kịp thời ứng phó với những diễn biến của thị trường. Đó chính là lợi thế trong việc tăng vòng quay của vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

3. Khu vực kinh tế NQD ngày càng được tiếp cận với nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến. Họ tham gia vào hầu hết các ngành nghề kinh doanh và hơn ai hết họ ý thức được vai trò to lớn mà khoa học công nghệ có thể đem lại cho SXKD. Trình độ công nghệ quyết định năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.

4. Trình độ xã hội hóa, đặc biệt là xã hội hóa về sở hữu chưa cao. Thể hiện rõ nét là loại hình một chủ vẫn chiếm ưu thế. Hình thức công ty, đặc biệt là công ty cổ phần - có trình độ xã hội hóa về sở hữu cao hơn - còn chưa chiếm ưu thế.

5. Trình độ quốc tế hóa còn thấp. Một mặt do khu vực kinh tế NQD còn non trẻ, mặt khác do chính sách mở cửa vẫn chưa được thực hiện triệt để, các doanh nghiệp này vẫn còn gặp nhiều trở ngại trong hoạt động xuất nhập khẩu, liên doanh hay vay vốn nước ngoài… điều này làm cho họ lúng túng, thiếu kinh nghiệm trong quan hệ với bạn bè quốc tế.

Tuy còn nhiều hạn chế song cùng với sự phát triển kinh tế nhiều thành phần, khu vực này ở Việt Nam sẽ ngày càng phát huy được những tiềm năng sẵn có cho công cuộc xây dựng đất nước.

3.2. Vai trò của tín dụng trung và dài hạn đối với thành phần kinh tế NQD


- Tín dụng ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn và góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho doanh nghiệp

Do đặc điểm cơ sở vật chất nghèo nàn, nguồn vốn tự có nhỏ bé nên tình trạng thiếu vốn nảy sinh ở hầu hết các doanh ngiệp NQD, mà nhu cầu vốn để đầu tư, SXKD là rất lớn. Sự thiếu vốn đòi hỏi việc bổ sung kịp thời và hiệu quả của nguồn vốn từ ngân hàng. Vốn vay ngân hàng đem lại cho doanh nghiệp nhiều thuận lợi: giải quyết nhu cầu vốn đầu tư cho SXKD, lãi vay được tính vào chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập sẽ được sử dụng lá chắn thuế.

Mặc dù vốn từ tín dụng trung và dài hạn đem lại cho doanh nghiệp rất nhiều thuận lợi nhưng mỗi doanh ngiệp hay cá nhân thuộc thành phần kinh tế NQD cần xác định cho mình một cơ cấu vốn tối ưu và cân bằng giữa lợi nhuận và rủi ro.

- Tín dụng trung và dài hạn giúp doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả hơn

Sự dàng buộc các nguyên tắc tín dụng đòi hỏi các doanh nghiệp phải nỗ lực kinh doanh có hiệu quả, thận trọng trong đầu tư sản xuất kinh doanh, sử dụng vốn vay đúng mục đich cam kết… đảm bảo thu gốc và lãi để trả nợ Ngân hàng đúng thời hạn. NHTM với tư cách là người cho vay thường xuyên giám sát và đôn đốc khách hàng để đảm bảo khoản vay đem lại hiệu quả cao. Thông qua quá trình kiểm tra, giám sát NHTM có thể tư vấn cho khách hàng của mình về phương hướng SXKD nhằm hạn chế những rủi ro có thể xảy ra. Về phần các doanh nghiệp NQD, sự giám sát và tư vấn của Ngân hàng buộc họ phải cố gắng sử dụng hiệu quả vốn, từ đó thu được lợi nhuận cao hơn, quy mô vốn tự có tăng lên, tạo điều kiện mở rộng và hiện đại hóa công nghệ.

- Tín dụng T&DH đảm bảo quá trình sản xuất, tái sản xuất mở rộng đầu tư đổi mới công nghệ

Quá trình SXKD muốn được thực hiện liên tục cần có vốn kịp thời thông qua hoạt động tín dụng. Đồng thời vốn vay Ngân hàng giúp các doanh nghiệp NQD mở rộng sản xuất và đổi mới công nghệ máy móc hiện đại để nâng cao hiệu quả SXKD. Sự cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt thì nhu cầu đổi mới công nghệ, tìm kiếm thị trường, đào tạo nhận lực… càng cao và vai trò của nguồn vốn tín dụng T&DH càng lớn.

- Tín dụng T&DH giúp chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo chiều hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Công tác này phụ thuộc vào sự định hướng trong các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Ngày nay vốn tín dụng của kinh tế NQD đầu tư vào ngành thương mại dịch vụ chiếm trên 70%. Tùy chiến lược phát triển kinh tế của Nhà nước trong từng giai đoạn mà vốn tín dụng có thể được ưu tiên vào những lĩnh vực như nông nghiệp, công nghiệp…‌

II. CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.

1. Quan niệm về chất lượng dịch vụ tín dụng


Trong nền kinh tế thị trường để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp phải trả lời ba câu hỏi lớn: Sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Và sản xuất bằng cách nào? Đây là ba vấn đề cơ bản mà các doanh nghiệp gặp phải trong nền kinh tế thị trường. Để trả lời được các câu hỏi này các doanh nghiệp phải quan tâm đến một yếu tố rất quan trọng đó là “chất lượng sản phẩm”. Ngân hàng cũng là một doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tài chính, các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cũng là những sản phẩm, nó cũng có giá cả và chất lượng.

Chất lượng dịch vụ tín dụng là: “Mức độ đáp ứng yêu cầu của khách hàng (cả người vay lẫn người cho vay), phù hợp với các điều kiện kinh tế-xã hội và điều kiện đặc thù của bản thân ngân hàng, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng”.

Chất lượng dịch vụ tín dụng được xem xét trên những góc độ:


- Đối với khách hàng: Đó là vay được vốn phù hợp với mục đích sử dụng với các khoản về lãi suất, kỳ hạn trả nợ, thủ tục đơn giản, thuận tiện đảm bảo thanh toán phù hợp với lợi ích của khách hàng và luật pháp hiện hành

nhằm đảm bảo khả năng duy trì và mở rộng sản xuất, tăng cường hiệu quả sản xuất kinh doanh của khách hàng.

- Đối với ngân hàng thương mại: cho vay cung cấp phù hợp với thực lực tài chính và quản lý của Ngân hàng, phù hợp với chiến lược khách hàng, nguyên tắc cho vay, chiến lược cạnh tranh và phát triển, đảm bảo nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi với giá thành hợp lý, đảm bảo việc tuân thủ pháp luật hiện hành và thực hiện vai trò của Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường.

Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh mức độ thích nghi của ngân hàng đối với sự phát triển của môi trường bên ngoài, thể hiện sức mạnh của ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại. Như vậy, chất lượng dịch vụ tín dụng là một khái niệm tương đối: nó vừa cụ thể thể hiện qua các chỉ tiêu tính toán của ngân hàng như kết quả kinh doanh, nợ quá hạn…; lại vừa trìu tượng thể hiện qua năng lực thu hút khách hàng, tác động đến nền kinh tế… Để có được chất lượng tín dụng thì hoạt động cung cấp dịch vụ tín dụng phải có hiệu quả và quan hệ tín dụng phải được thiết lập trên cơ sở uy tín và sự tin cậy trong hoạt động.

2. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ tín dụng trung và dài hạn tại NHTM

2.1. Nhân tố chủ quan


- Chính sách tín dụng


Chính sách tín dụng là hệ thống các chủ trương, định hướng của Ngân hàng đưa ra ở từng thời kỳ khác nhau nhằm chi phối hoạt động tín dụng, sử dụng hiệu quả nguồn vốn để tài trợ cho các doanh nghiệp, các hộ gia đình và cá nhân trong phạm vi cho phép theo những quy định của pháp luật và của NHNN Việt Nam.

Trong môi trường cạnh tranh gay gắt hiện nay, để thu hút khách hàng, chiếm lĩnh thị trường và mở rộng thị phần, các Ngân hàng cần phải thống nhất trong nhận thức và nhất quán trong thực hiện chính sách tín dụng với tầm nhìn dài hạn, không vì các lợi ích trước mắt mà làm tổn hại lợi ích lâu dài trong các năm tiếp theo. Do mục tiêu của chính sách tín dụng là mở rộng thị phần nên các NHTM luôn có sự cạnh tranh gay gắt về lãi suất bằng cách tăng lãi suất tiền huy động vốn, hạ thấp lãi suất cho vay, không thực hiện đầy đủ các quy trình tín dụng, hạ thấp tiêu chuẩn đánh giá khách hàng, dẫn đến thông tin sai lệch và rủi ro, đồng thời không thể nâng cao chất lượng dịch vụ vì đảm bảo thu nhập theo kế hoạch từng năm mà mạo hiểm cho vay ồ ạt các dự án kém chất lượng, tiềm ẩn nhiều rủi ro, dẫn đến có thể tăng đột biến NQH và giảm mạnh các mặt khác của chất lượng hoạt động tín dụng trong các năm sau.

- Quy trình tín dụng


Quy trình tín dụng là toàn bộ các bước của quá trình cho vay kể từ khi tiếp nhận hồ sơ xin vay vốn của khách hàng, hướng dẫn họ hoàn chỉnh hồ sơ vay vốn, thẩm định dự án xin vay cho đến lúc giải ngân, kiểm soát theo dõi khoản vay và thu nợ. Quy trình chỉ kết thúc khi Ngân hàng đã thu được nợ gốc và lãi của khách hàng và thanh lý hợp đồng tín dụng.

Quy trình tín dụng giúp cho quá trình cho vay diễn ra thống nhất, khoa học, hạn chế rủi ro và nâng cao chất lượng tín dụng góp phần đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu vay vốn của khách hàng. Việc không tuân theo đầy đủ các bước của quy trình tín dụng có thể dẫn tới rủi ro trong hoạt động tín dụng như trường hợp hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay không được lập chặt chẽ nên khi xảy ra tranh chấp ảnh hưởng đến quyền lợi của các Ngân hàng…

- Năng lực và phẩm chất của cán bộ tín dụng


Thực tiễn chứng minh một điều là chất lượng công tác tín dụng phụ thuộc rất nhiều vào vấn đề chất lượng cán bộ tín dụng và cán bộ thẩm định. Chính vì vậy cần phải nâng cao chất lượng cán bộ tín dụng. Đánh giá đúng chất lượng cán bộ tín dụng giúp ngân hàng tránh những bất cập trong việc sử dụng cán bộ.

CBTD phải có bản lĩnh kinh doanh vững vàng. Trong cơ chế thị trường, luôn luôn có mặt trái là người trực tiếp giao dịch với khách hàng, tiếp xúc trực tiếp với mặt trái cơ chế, nếu cán bộ tín dụng không rèn luyện bản lĩnh vững vàng rất có thể sẽ bị cuốn theo các cám dỗ tầm thường, không tự làm chủ bản thân, hạ thấp các tiêu chuẩn tín dụng dẫn đến thất thoát vốn. Bản lĩnh kinh doanh của CBTD thể hiện ở chỗ đánh giá, thẩm định, nhìn nhận khách hàng một cách chính xác; không co cụm trong cho vay; biết tiếp cận, thu hút, sàng lọc khách hàng tốt để phục vụ.

CBTD phải có khả năng giao tiếp với khách hàng. Hoạt động của NHTM mang tính chất phục vụ, trong điều kiện môi trường cạnh tranh, để duy trì và phát triển khách hàng là vấn đề quan trọng. Khả năng giao tiếp thể hiện ở việc phải làm sao để khách hàng bày tỏ được tâm sự nguyện vọng của mình. Nắm được thông tin từ khách hàng cũng như đối tác của khách hàng. Tạo dựng niềm tin đối với khách hàng.

CBTD phải có năng lực điều tra thu thập, liên kết, xử lý và tổng hợp thông tin. Hoạt động của Ngân hàng là một hoạt động mang tính tổng hợp, có rất nhiều mối quan hệ từ nhiều phía, nhất là mối quan hệ với khách hàng. Chính vì vậy trước, trong và sau khi cho vay, cán bộ phải thu thập một khối lượng lớn thông tin về dự án/phương án vay vốn, cơ chế, chính sách của ngành, của nhà nước liên quan đến phương án/dự án SXKD. Do khối lượng thông tin lớn, đòi hỏi phải có quá trình sàng lọc, xử lý, tổng hợp để có được

thông tin chuẩn xác. Từ đó CBTD mới có cơ sở đánh giá, phân tích và kết luận chính xác về khách hàng. Vấn đề phải tìm hiểu, nắm bắt và vận hành tốt công nghệ thông tin trong công việc; phải có trình độ ngoại ngữ nhất định. Đây là một yêu cầu bắt buộc bởi vì hoạt động ngân hàng hiện nay đã công nghệ hóa, việc xử lý nghiệp vụ, nắm bắt thông tin… đều vận hành bằng công nghệ.

- Thông tin tín dụng


Trong môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì thông tin đầy đủ, kịp thời rút ngắn thời gian thẩm định cũng là yếu tố góp phần thắng lợi trong cạnh tranh. Chính vì vậy, hoạt động tín dụng cần rất nhiều thông tin liên quan như:

- Hệ thống các luật kinh tế và cơ chế nghiệp vụ: Luật NHNN, luật các TCTD, luật Doanh nghiệp, pháp lệnh Hợp đồng kinh tế, luật Dân sự, luật Đất đai, luật Lao động… Ngoài ra còn có rất nhiều văn bản dưới luật có tính chất hướng dẫn luật và nghiệp vụ như các Nghị định của Chính phủ, thông tư hướng dẫn các Bộ, ngành và hệ thống cơ chế nghiệp vụ chuyên ngành Ngân hàng.

- Hệ thống thông tin về khoa học công nghệ chuyên ngành: đây là hệ thống thông tin về các căn cứ khoa học, kỹ thuật chuyên ngành như các định mức kinh tế, kỹ thuật, các tiêu chí quy định mặt bằng giá cả, định mức tiêu hao nguyên nhiện vật liệu, các cơ sở tính toán trong việc xây dựng cơ bản… Những thông tin này là cơ sở để thẩm định tính hiệu quả, khả thi của phương án, dự án vay vốn, là căn cứ để định giá tài sản bảo đảm tiền vay và các yếu tố liên quan đến dự án tín dụng tham gia.

- Hệ thống thông tin thị trường: bao gồm các thông tin hoạt động của các ngành kinh tế quốc dân, giá cả thị trường trong và ngoài nước, các dự báo kinh tế, các thông tin liên quan tác động đến hoạt động tín dụng…

Do thiếu thông tin nên việc thẩm định chỉ dựa chủ yếu trên phương án, báo cáo tính toán của khách hàng nên không sát được giá cả, định mức kinh tế để tính toán hiệu quả dự án, làm cho hiệu quả thẩm định không cao, hồ sơ cho vay thiếu chặt chẽ, nên khi phát sinh tranh chấp không đảm bảo được quyền lợi cho ngân hàng.

2.2. Nhân tố khách quan


- Mức độ tín nhiệm và năng lực tài chính của khách hàng


Đánh giá mức độ tín nhiệm của khách hàng: Yếu tố cơ bản của tiêu chí này là mối quan hệ dài hạn, uy tín, thương hiệu của khách hàng trên thị trường, năng lực và trình độ quản lý, sự am hiểu trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh, quan hệ tín dụng lành mạnh, trả nợ sòng phẳng, tình hình tài chính lành mạnh, dự án có hiệu quả và khả thi… Những yếu tố này rất khó đánh giá vì ý thức của đại bộ phận doanh nghiệp về việc xây dựng thương hiệu, uy tín trên thị trường với chiến lược kinh doanh dài hạn mới chỉ được đề cập trong một vài năm gần đây.

Uy tín của khách hàng là một trong ba yếu tố chính để đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay bên cạnh tài sản bảo đảm và tính hiệu quả của dự án. Mỗi yếu tố đều được Ngân hàng cân nhắc trên quan điểm an toàn và sinh lợi, vì vậy chúng đều có tầm quan trọng như nhau. Trong những trường hợp cụ thể, nhấn mạnh yếu tố nào là tùy thuộc vào dự tính của Ngân hàng về ưu và nhược điểm của từng yếu tố đó. Đối với Ngân hàng, khi cho vay dựa trên cơ sở tín chấp đối với khách hàng không kéo theo việc gia tăng chi phí cho khách hàng và cả Ngân hàng trong việc bảo quản, cất giữ, định giá tài sản bảo đảm tiền vay… Do vậy, khách hàng thường lựa chọn Ngân hàng không yêu cầu tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, uy tín của khách hàng là một yếu tố khó định lượng. Một khách hàng có thể nhiều lần trả nợ sòng phẳng, song khi gặp bất trắc lớn,

có thể vẫn không trả nợ được. Do đó việc phân tích và xếp hạng doanh nghiệp để đánh giá uy tín của khách hàng còn gặp nhiều khó khăn.

Đánh giá năng lực tài chính của khách hàng: Đối với một khách hàng năng lực tài chính được thể hiện qua các chỉ tiêu chính như: Tỷ lệ vốn chủ sở hữu so với tổng tài sản, tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE), giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán và một số chỉ tiêu khác. Nhưng để tính toán, đánh giá các chỉ tiêu này và mức độ tin cậy của nó liệu có đảm bảo khi mà các báo cáo tài chính không được kiểm toán độc lập, hệ thống thông tin, chuẩn mực kế toán chưa thực sự đủ độ tin cậy. Mặt khác, trình độ và khả năng phân tích đánh giá tình hình tài chính của khách hàng đối với Ngân hàng còn rất hạn chế, chưa đủ sự tin cậy để đưa ra kết luận một cách độc lập, có độ tin cậy cao… Chính vì vậy, Ngân hàng còn gặp rất nhiều khó khăn trong việc đánh giá năng lực tài chính của khách hàng để quyết định cấp tín dụng.

- Môi trường kinh tế


Tín dụng là hoạt động kinh tế tổng hợp, nó liên quan đến nhiều lĩnh vực trong đời sống kinh tế xã hội. Chính vì vậy, bất kì sự biến động của một hoạt động kinh tế nào cũng có tác động nhất định đến hoạt động kinh doanh Ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng. Một môi trường kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện cho việc phát triển sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô tín dụng Ngân hàng. Ngược lại, nếu môi trường kinh tế có nhiều biến động, không ổn định thì nó ảnh hưởng đến hoạt động SXKD của khách hàng và tác động trực tiếp đến thu nhập của Ngân hàng. Rõ ràng khi nền kinh tế suy thoái thì khả năng mở rộng cho vay của Ngân hàng là rất khó khăn, khi mà doanh nghiệp gặp kinh doanh không hiệu quả dẫn đến khả năng thu hồi nợ của Ngân hàng thấp, làm giảm chất lượng tín dụng. Nhưng ngay cả khi nền kinh tế có

tốc độ phát triển cao, các doanh nghiệp cần nhiều vốn để kinh doanh, mở rộng quy mô sản xuất thì quy mô tín dụng tăng cao cũng đi kèm nhiều rủi ro.

- Môi trường pháp lý


Môi trường pháp lý có ảnh hưởng lớn tới chất lượng tín dụng. Sự đồng bộ, đầy đủ các bộ luật của Nhà nước tạo môi trường pháp lý đầy đủ cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Pháp luật là một bộ phận không thể thiếu được ở bất kỳ một nền kinh tế nào. Không có pháp luật hoặc pháp luật ban hành không phù hợp thì sẽ trở thành bức tường cản trở hoạt động kinh doanh phát triển. Một môi trường pháp lý đầy đủ và tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh sẽ góp phần thúc đẩy đầu tư, phát triển kinh tế. Vì vậy nhân tố pháp lý có vị trí hết sức quan trọng đố i với hoạt động Ngân hàng nói chung và chất lượng tín dụng nói riêng.

- Môi trường tự nhiên.


Các yếu tố tự nhiên cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng tín dụng. Những rủi ro do thiên nhiên gây ra như thiên tai, báo lũ, hỏa hoạn… đều gây ra thiệt hại về vật chất làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng tín dụng trung và dài hạn. Đặc biệt với hệ thống NHNo&PTNT thì hoạt động cho vay chủ yếu tập trung ở nông thôn miền núi, miền biển… nơi mà hoạt động sản xuất kinh doanh phụ thuộc khá nhiều vào thiên nhiên thì những rủi ro do thiên tai gây ra đều ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của Ngân hàng. Trong trường hợp đó, Ngân hàng có thể phải gia hạn, điều chỉnh kì hạn nợ, khoanh nợ dẫn đến tình trạng gia tăng NQH ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tín dụng trung và dài hạn.

3. Chỉ tiêu đánh giá chất lượng dịch vụ tín dụng trung và dài hạn dưới góc độ ngân hàng thương mại

Phân tích và đánh giá đúng thực trạng chất lượng hoạt động tín dụng là một việc làm thường xuyên và hết sức cần thiết nhằm nâng cao chất lượng hoạt động động tín dụng, phòng ngừa rủi ro cho Ngân hàng. Để đánh giá chất lượng tín dụng không chỉ căn cứ vào một số chỉ tiêu riêng biệt mà phải căn cứ vào một hệ thống các chỉ tiêu nhất định.

3.1. Chỉ tiêu định tính


- Đảm bảo nguyên tắc cho vay


Một nhóm tín dụng được coi là có chất lượng trước tiên nó phải tuân thủ theo đúng quy chế, thể chế tín dụng, nguyên tắc do ngân hàng ban hành. Các quy chế, nguyên tắc này được ban hành dựa trên những kinh nghiệm trong quá trình cho vay, dựa trên tình hình của nền kinh tế. Một chính sách tín dụng được cụ thể hóa, thủ tục đơn giản, thuận tiện, chi phí tổng thể về lãi xuất, về nghiệp vụ thấp tạo điệu kiện nâng cao chất lượng tín dụng. Theo đánh giá ban đầu việc tuân theo các quy chế sẽ là cơ sở giúp ngân hàng tránh rủi ro, đảm bảo an toàn nguồn vốn, là thước đo đánh giá chất lượng của một khoản tín dụng. Theo đánh giá có ba nguyên tắc cơ bản sau đây:

1. Sử dụng vốn đúng mục đích theo thỏa thuận của hợp đồng tín dụng. Điều này rất quan trọng cho nhân viên tín dụng cho việc kiểm tra, giám sát tình hình khoản tín dụng trong thời gian giải ngân, giám sát thu nợ và thanh toán khoản tín dụng.

2. Phải hoàn trả nợ gốc và lãi theo đúng thời hạn như đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Để thực hiện được điều này thì cán bộ tín dụng phải có quy định về thời gian cho vay một cách đúng đắn.

3. Việc đảm bảo tiền vay phải được thực hiện theo quy định của Chính phủ, thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với khách hàng.

- Cho vay đảm bảo có điều kiện


Có năng lực pháp lý, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.

Khả năng tài chính đủ để đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.


Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp, không vi phạm pháp luật, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội.

Có dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất kinh doanh dịch vụ khả thi có hiệu quả; hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp với quy định của pháp luật.

Thực hiện các quy định để đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của NHNN Việt Nam.

- Quá trình thẩm định


Quá trình thẩm định là chỉ tiêu định tính quan trọng nhất quyết định tới chất lượng khoản vay. Quá trình thẩm định là cách tốt nhất để ngân hàng nắm được thông tin về khách hàng, về năng lực pháp lý, đạo đức của khách hàng… Đây là khâu không thể thiếu trong quá trình quyết định cho vay và theo dõi khoản vay. Quá trình thẩm định phải tuân theo các quy định về quy trình và nội dung thẩm định cho vay của từng ngân hàng. Một khoản cho vay có chất lượng là khoản cho vay đã được thẩm định và phải đảm bảo các bước của quá trình thẩm định. Việc tuân thủ quy trình thẩm định và nội dung thẩm định cho vay là bắt buộc để một khoản vay đạt chất lượ ng.

3.2. Chỉ tiêu định lượng


Các chỉ tiêu định lượng được các ngân hàng tính toán và xem xét một cách cụ thể, bao gồm một số nhóm chỉ tiêu cơ bản sau:

- Nhóm chỉ tiêu về huy động vốn trung và dài hạn


Tổng nguồn vốn trung và dài hạn và tốc độ tăng trưởng: chỉ tiêu này cho biết khả năng huy động vốn trung và dài hạn và tốc độ cũng như tiềm năng nguồn vốn trung và dài hạn, từ đó cho biết khả năng đáp ứng các nhu cầu về tín dụng trung và dài hạn tại ngân hàng.

Tỷ lệ vốn T&DH:


Vốn huy động trung và dài hạn

Tỷ lệ vốn T&DH (%) = ------------------------------------------- x 100%

Tổng nguồn vốn huy động


Chỉ tiêu này phản ánh cơ cấu nguồn vốn huy động của ngân hàng và khả năng cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển. Tỷ lệ này tạo điều kiện cho đơn vị cơ cấu lại phần tài sản có của ngân hàng; tỷ lệ này càng cao chứng tỏ ngân hàng có khả năng huy động vốn và dài hạn mạnh, tiềm lực cho phát triển hoạt động tín dụng trung và dài hạn an toàn hơn.

- Nhóm chỉ tiêu cho vay trung và dài hạn.


Dư nợ tín dụng trung và dài hạn:


Dư nợ tín dụng trung và dài hạn: Chỉ số này phản ánh lượng vốn trung và dài hạn của ngân hàng đã giải ngân tại một thời điểm cụ thể. Chỉ số này được so sánh tương quan với các chỉ số khác khi đánh giá chất lượng tín dụng trung và dài hạn.

Tỷ lệ cho vay trung và dài hạn:


Chỉ tiêu này cho biết tỷ trọng của các khoản dư nợ tín dụng trung dài hạn trong tổng dư nợ, hay cơ cấu dư nợ của đơn vị.

Download pdf, tải về file docx

Ngày đăng: 16/04/2022
Đánh giá:
4.7/5 (1 bình chọn)

Gửi tin nhắn


Đồng ý Chính sách bảo mật *

Trang chủ Tài liệu miễn phí Thư viện số
Top