Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế - 6

nguồn vốn huy động ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn, kiểm soát khả năng trả nợ của khách hàng được Techcombank cấp tín dụng để tránh tình trạng nợ quá hạn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ, khách hàng không trả được nợ cho Techcombank dẫn đến hậu quả là Techcombank không có tiền để trả gốc và lãi cho người gửi tiền tại NH. Techcombank nên xác định hệ số thanh khoản trên cơ sở cân đối nguồn vốn huy động và nguồn vốn đầu tư cũng như kết quả dự báo nhu cầu về tiền mặt trong tương lai gần.

5. Nhóm giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro

Techcombank có hệ thống quản trị tương đối vững mạnh, có quan điểm cấp tín dụng và thẩm quyền phê duyệt của từng cấp rõ ràng. Dưới đây là một số giải pháp để tiếp tục tăng cường năng lực quản trị rủi ro của Techcombank:

Một là, xây dựng cơ chế, quy chế nghiệp vụ hoạt động kinh doanh đảm bảo đồng bộ, chặt chẽ, hạn chế đến mức thấp nhất khả năng rủi ro. Cơ chế, quy chế nghiệp vụ và hoạt động kinh doanh của NHTM không chỉ phản ánh năng lực quản trị kinh doanh mà còn thể hiện năng lực quản trị rủi ro của NHTM. Khi xây dựng các cơ chế hoạt động và cơ chế nghiệp vụ Techcombank phải lường hết khả năng có thể dẫn đến rủi ro để có phương án hợp lý điều chỉnh trong vận hành cơ chế, quy chế. Từng thời gian nhất định, Techcombank phải tổ chức đánh giá các cơ chế, quy chế đã ban hành, phát hiện những “kẽ hở” để kịp thời điều chỉnh, bổ sung, thay đổi phù hợp với thực tiễn hoạt động kinh doanh, hạn chế rủi ro tới mức thấp nhất. Bởi vậy khi xây dựng và ban hành các cơ chế, quy chế hoạt động và nghiệp vụ, Techcombank cần quan tâm đến các khía cạnh có khả năng xảy ra rủi ro để chủ động phòng ngừa và hạn chế rủi ro.

Hai là, nâng cao năng lực quản trị rủi ro đối với đội ngũ cán bộ quản trị, điều hành các cấp. Trong hoạt động kinh doanh của Techcombank, năng lực quản trị, điều hành của đội ngũ cán bộ quản lý các cấp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng tạo nên năng lực quản trị, điều hành của Techcombank. Đội ngũ cán bộ quản trị, điều hành mạnh không chỉ đảm bảo hoạt động kinh doanh của

Techcombank có kỷ cương, thống nhất mà còn biết phát huy tính năng động, sáng tạo của mỗi người thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ kinh doanh của từng chi nhánh và của cả hệ thống, tránh được những rủi ro không đáng có trong kinh doanh. Để nâng cao năng lực quản trị rủi ro đối với đội ngũ cán bộ quản lý các cấp, Techcombank cần quan tâm đến công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ quản trị kinh doanh, hiểu biết về pháp luật và kiến thức về quản trị rủi ro NH để bộ máy NH hoạt động kinh doanh có hiệu quả.

Ba là, sử dụng có hiệu quả đội ngũ CBNV nghiệp vụ, bố trí công tác phù hợp với khả năng, trình độ và sở trường của mỗi người sẽ tránh được những rủi ro trong hoạt động kinh doanh. Nâng cao kiến thức về quản trị nguồn nhân lực đối với cán bộ quản lý các cấp giúp Techcombank sử dụng đúng người, đúng việc, hạn chế rủi ro trong kinh doanh góp phần nâng cao năng lực quản trị rủi ro của NH.

Bốn là, cần có những chuyên gia giỏi chuyên nghiên cứu về rủi ro và phòng ngừa rủi ro làm tham mưu cho lãnh đạo Techcombank trong ban hành và bổ sung, sửa đổi các cơ chế, quy chế, cập nhật các thông tin kinh tế liên quan đến rủi ro. Có thể sử dụng họ vào việc giảng dạy nâng cao kiến thức về rủi ro và phòng ngừa rủi ro đối với đội ngũ CBNV nghiệp vụ trong NH. Hiệu quả hoạt động của họ sẽ góp phần nâng cao năng lực quản trị rủi ro của Techcombank.

Năm là, tăng cường công tác thông tin phòng ngừa rủi ro. Trong thời đại ngày nay, vai trò của thông tin không thể thiếu được trong hoạt động kinh doanh NH- một ngành kinh tế tổng hợp rất nhạy cảm trước các biến động về chính trị, kinh tế, xã hội. Thông tin kinh tế, đặc biệt là thông tin phòng ngừa rủi ro cần được cập nhật và khai thác triệt để trong quản trị kinh doanh NH. Có như vậy mới giảm thiểu được những rủi ro khách quan và chủ quan do thiếu thông tin hoặc không khai thác triệt để các thông tin phục vụ cho công tác quản trị rủi ro của Techcombank.

Sáu là, tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ, thực hiện nghiêm ngặt các qui trình kiểm tra nghiệp vụ phát hiện những sai sót có khả năng dẫn

đến rủi ro, có biện pháp chấn chỉnh kịp thời. Hình thức và biện pháp kiểm tra ngày càng hoàn thiện nhằm đảm bảo an toàn trong từng nghiệp vụ. Hệ thống kiểm tra kiểm soát nội bộ là tai mắt của các nhà quản trị NH. Những năm vừa qua đã phát hiện nhiều sai sót qua kiểm tra từng nghiệp vụ cụ thể, đặc biệt là các chứng từ tín dụng - nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro cao, giúp lãnh đạo Techcombank kịp thời chấn chỉnh, hạn chế được những rủi ro chủ quan. Qua kết quả kiểm tra nghiệp vụ tại các chi nhánh và đơn vị thành viên, NH tổng kết, rút kinh nghiệm trong toàn hệ thống tại các Hội nghị chuyên đề và Hội nghị sơ kết, tổng kết hoạt động kinh doanh hàng năm góp phần nâng cao năng lực quản trị rủi ro của NH.

Bảy là, thực hiện thưởng, phạt nghiêm minh đối với các cá nhân và đơn vị. Đây là cơ chế động lực khuyến khích những đơn vị, cá nhân làm tốt công tác phòng ngừa rủi ro, đảm bảo an toàn trong kinh doanh. Đồng thời cần thiết phải có hình thức xử phạt những đơn vị, cá nhân để xảy ra rủi ro do yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh và uy tín của NH tuỳ theo mức độ vi phạm. Có thưởng, phạt nghiêm minh mới thúc đẩy, nâng cao ý thức tự giác, tinh thần trách nhiệm trong hoạt động kinh doanh của mỗi CBNV nghiệp vụ, từng đơn vị, hạn chế rủi ro, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Và như vậy đã góp phần nâng cao quản trị rủi ro của Techcombank.

Tám là, tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát quản trị rủi ro của Hội đồng quản trị. Theo Điều lệ của Techcombank, Hội đồng quản trị đại diện cho chủ sở hữu có Ban kiểm soát giúp việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát hoạt động của Ban điều hành. Tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát của Ban kiểm soát đảm bảo hiệu quả hoạt động của NH đồng thời Hội đồng quản trị có những thông tin cần thiết để chỉ đạo Tổng Giám đốc (Giám đốc) thực hiện quản lý có hiệu quả Tài sản nợ, Tài sản có, phòng ngừa rủi ro ở tầm vĩ mô và vi mô do khách quan và chủ quan.

Năng lực quản trị rủi ro của NHTM là khả năng tự vệ của NHTM trong hoạt động kinh doanh, phòng ngừa những rủi ro có thể xảy ra ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Năng lực quản trị rủi ro được đánh giá thông

qua các hoạt động phòng ngừa và xử lý rủi ro của NHTM; số lượng, tính chất các rủi ro và mức độ thiệt hại do rủi ro gây nên. Nâng cao năng lực quản trị rủi ro của NHTM góp phần nâng cao năng lực quản trị, điều hành hoạt động kinh doanh, phòng ngừa và xử lý rủi ro, hạn chế thấp nhất những thiệt hại do rủi ro gây ra. Bởi vậy, Techcombank phải có những giải pháp cần thiết, đồng bộ để chủ động phòng ngừa, hạn chế rủi ro đảm bảo kinh doanh có hiệu quả và cũng là để nâng cao năng lực quản trị kinh doanh.‌

III. CÁC KIẾN NGHỊ CỤ THỂ


1. Đối với Nhà nước:

Trong những năm qua, Quốc hội, Chính phủ và các Cơ quan quản lý Nhà nước đã rất chú trọng sửa đổi, bổ sung hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và cải tiến các cơ chế, thủ tục, tạo môi trường kinh doanh cho các TCTD ngày càng thông thoáng, thuận lợi hơn. Tuy nhiên, để các NHTM Việt Nam có thể hoạt động hiệu quả hơn, đủ sức cạnh tranh hội nhập quốc tế, các Cơ quan Nhà nước và NHNN Việt Nam nên tập trung vào một số giải pháp then chốt sau đây:

Một là, tiếp tục điều chỉnh chính sách vĩ mô ngày càng phù hợp hơn với cơ chế thị trường trong điều kiện hội nhập quốc tế nhằm duy trì bền vững được tốc độ tăng trưởng cao của nền kinh tế đất nước, qua đó tạo điều kiện cho việc phát triển an toàn, hiệu quả, bền vững của các TCTD.

Hai là, tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và cải tiến cơ chế, thủ tục hành chính để tạo môi trường kinh doanh ngày càng thông thoáng, thuận lợi đối với các TCTD. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng hoàn chỉnh hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động NH theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế để các TCTD sớm có đầy đủ cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh của mình, cụ thể là:

- Tập trung xây dựng mới hoặc sửa đổi bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật quan trọng như: Luật các Tổ chức tín dụng mới (hoặc chia thành 2 luật:

Luật các NHTM và Luật các tổ chức tài chính phi NH), Luật Phát mại tài sản, Pháp lệnh về giao dịch đảm bảo...

- Khẩn trương ban hành đầy đủ các văn bản hướng dẫn (Nghị định, Thông tư) đối với các Luật đã ban hành và đã có hiệu lực (như: Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật các TCTD, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật chứng khoán, Luật giao dịch điện tử, Luật cạnh tranh, Luật Thương mại, Luật các công cụ chuyển nhượng, Pháp lệnh ngoại hối..)

Việc xây dựng và điều chỉnh hệ thống văn bản pháp luật nói trên cần được dựa trên nguyên tắc: các quy định phải sát với chuẩn mực và thông lệ quốc tế, có tính đến điều kiện của Việt Nam; tránh có quy định mâu thuẫn giữa Luật chung với Luật chuyên ngành; các văn bản hướng dẫn cần đồng bộ, thống nhất và tránh chồng chéo.

Ba là, tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, tiết giảm tối đa thời gian và các khâu thủ tục của các cơ quan công quyền liên quan đến hoạt động NH (nhất là các thủ tục công chứng và đăng ký giao dịch đảm bảo); hạn chế tối đa các “Giấy phép con” (những nghiệp vụ hoạt động đã được quy định tại Luật và không thuộc điều cấm thì các TCTD được thực hiện mà không phải xin phép). Tiếp tục hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật như hệ thống thông tin, kiểm toán, kế toán theo chuẩn mực quốc tế, nhất là hệ thống kế toán của các NH, TCTD.

Bốn là, cần có chính sách hỗ trợ về mặt tài chính cho các TCTD:

- Đối với các NHTM Nhà nước: hỗ trợ tăng vốn Điều lệ và tiếp tục xử lý nợ tồn đọng liên quan đến việc cho vay các chương trình của Chính phủ (Mía đường, Đánh bắt xa bờ, Điện, Đường, Trường, Trạm...) để lành mạnh hoá và tăng năng lực tài chính của các NH này.

- Đối với các NHTM Cổ phần: hỗ trợ tạo điều kiện tiếp cận các nguồn tài trợ song phương và đa phương của Chính phủ nước ngoài và các Tổ chức tài chính quốc tế để đầu tư hiện đại hoá công nghệ NH (nhất là đối với các NH nhỏ).

Năm là, cần bảo đảm quyền chủ nợ của các TCTD theo thông lệ của Luật pháp quốc tế: khi khách hàng không trả được nợ, các TCTD có quyền phát mại

tài sản thế chấp để thu hồi nợ mà không phải thông qua bất kỳ cơ quan tài phán nào.

2. Đối với Ngân hàng Techcombank

Điểm cần làm trước mắt của Techcombank hiện nay là khắc phục những điểm còn yếu kém, chưa hiệu quả trong hoạt động của mình; Tìm kiếm những biện pháp đột phá để hạn chế những yếu kém trong thời gian qua.

2.1 Tiếp tục tăng vốn điều lệ

Vốn điều lệ có vai trò lớn trong hoạt động của NHTM vì vốn điều lệ là yếu tố quyết định sức mạnh tài chính của một NH, là “tấm đệm chống đỡ rủi ro”. Hiện nay, quy mô vốn của Techcombank còn quá nhỏ bé so với mức trung bình của các NHTM trong khu vực và trên thế giới. Do đó, trong quá trình hoạt động của mình, Techcombank cần quan tâm đến việc tăng vốn điều lệ, tạo tiền đề để phát triển các nguồn vốn khác và đủ sức chống đỡ trước áp lực cạnh tranh từ các TCTD nước ngoài trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Techcombank có thể tăng vốn điều lệ của mình thông qua một số biện pháp sau:

Thứ nhất, tăng vốn từ nguồn nội bộ, mà cụ thể là từ lợi nhuận để lại, đây là nguồn bổ sung vốn có ý nghĩa rất quan trọng. Biện pháp này có ưu điểm là giúp NH không phải phụ thuộc vào thị trường vốn và không phải chịu chi phí cao do tìm kiếm nguồn lực tài trợ từ bên ngoài. Tuy nhiên, Techcombank cần xác định tỷ lệ hợp lý lợi nhuận để lại tăng vốn tự có, vì nếu tỷ lệ này quá thấp do tỷ lệ chi trả cổ tức quá cao sẽ dẫn đến tăng trưởng vốn chậm chạp, có thể làm giảm khả năng mở rộng tài sản sinh lời; ngược lại, nếu tỷ lệ này quá cao sẽ làm giảm thu nhập của cổ đông và dẫn đến làm giảm giá trị thị trường của cổ phiếu khi Techcombank phát hành rộng rãi cổ phần ra bên ngoài. Vì vậy, nếu Techcombank có tỷ lệ lợi nhuận giữ lại để bổ sung vốn điều lệ ổn định qua các năm và tương ứng với tốc độ tăng trưởng tài sản có là dấu hiệu tốt, thể hiện sự phát triển ổn định của NH và mức độ ủng hộ cao của các cổ đông đối với chính sách cổ tức của ban lãnh đạo NH.

Thứ hai, tăng vốn bằng phát hành cổ phiếu hoặc chia cổ tức cho cổ đông bằng cổ phiếu: Biện pháp này có thể làm tăng năng lực đòn bẩy tài chính của Techcombank trong tương lai nhưng chi phí phát hành cao hơn các phương thức khác và làm “loãng” quyền sở hữu.

Thứ ba, tăng vốn bằng phát hành trái phiếu chuyển đổi. Trái phiếu chuyển đổi là trái phiếu có thể chuyển thành cổ phiếu thường vào một thời điểm được xác định trước trong tương lai. Loại trái phiếu này có đặc điểm là được trả một mức lãi suất cố định nên có vẻ giống như trái phiếu, nhưng mặt khác lại có thể chuyển đổi thành cổ phiếu thường của Techcombank và đây cũng chính là điểm hấp dẫn của trái phiếu chuyển đổi. Đối với NH, khi phát hành trái phiếu chuyển đổi sẽ có lợi thế như trái phiếu chuyển đổi có mức lãi suất thấp hơn trái phiếu không có tính chuyển đổi; Techcombank sẽ tránh được tình trạng tăng số lượng cổ phiếu một cách nhanh chóng trên thị trường trong tương lai (điều này dẫn tới việc làm cho giá cổ phiếu thường bị sụt giảm); thu nhập trên mỗi cổ phần trước đây không bị giảm sút; giúp Techcombank nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình, vì với việc phát hành trái phiếu chuyển đổi thì mặc dù lãi suất cao hơn so với huy động tiền gửi ngắn hạn nhưng khi Techcombank có nguồn vốn ổn định thì có thể cho vay các dự án có thời gian dài hơn, điều này đồng nghĩa với việc có được một mức lãi suất cao hơn, mặt khác, do khách hàng mua trái phiếu chuyển đổi có thêm quyền và cơ hội sở hữu cổ phiếu của NH (đặc biệt trong trường hợp NH có uy tín như Techcombank) sẽ chấp nhận một mức lãi suất thấp hơn, do vậy Techcombank có thể đưa ra một mức lãi suất “mềm” hơn khi phát hành loại trái phiếu này, kết quả là chênh lệch giữa lãi suất đầu vào và đầu ra cao hơn dẫn tới lợi nhuận của NH tăng lên. Đối với nhà đầu tư khi nắm giữ trái phiếu chuyển đổi, nhà đầu tư sẽ có được lợi thế là sự đầu tư an toàn của thị trường, thu nhập cố định và sự tăng giá trị tiềm ẩn của thị trường vốn.

2.2 Nâng cao khả năng và quy mô thu hút vốn từ nền kinh tế

Khả năng huy động vốn từ nền kinh tế của Techcombank trong thời gian qua vẫn chưa xứng tầm với uy tín và quy mô hoạt động của NH. Nhiệm vụ đặt ra trước mắt là tìm ra biện pháp khắc phục tồn tại trên.

Thứ nhất, Techcombank cần lấy được lòng tin cao độ từ khách hàng. Xu hướng những năm gần đây đối tượng dân cư bắt đầu ưa thích gửi tiền tại các NHTMCP thay vì những NHTMNN do không còn e ngại về tính không an toàn tại các NHTMCP. Techcombank đã tham gia bảo hiểm tiền gửi nên NH có thể thông qua đội ngũ nhân viên giải thích cho khách hàng hiểu và an tâm gửi tiền tại NH. Đồng thời, nâng cao chất lượng tín dụng, tránh tình trạng nợ xấu, gây ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh của Techcombank trong tâm trí khách hàng. Quảng bá rộng rãi hình ảnh Techcombank trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng là một biện pháp đưa Techcombank đến gần hơn với khách hàng, để khách hàng thấy được sự lớn mạnh của NH, từ đó tin tưởng giao tiền của mình cho NH.

Thứ hai, Techcombank có thể tạo sự khác biệt thông qua hoạt động đa dạng hoá sản phẩm huy động. Hiện nay, các sản phẩm NH mà Techcombank cung cấp trên thị trường có tính năng huy động vốn cho NH là tương đối nhiều, tuy nhiên chưa được nhiều khách hàng sử dụng. Luôn đi đầu trong lĩnh vực phát triển sản phẩm mới nhưng Techcombank cần tích cực giới thiệu sản phẩm mới đến thị trường mục tiêu của mình bằng cách xây dựng đội ngũ tiếp thị khách hàng am hiểu sản phẩm và người dùng, tích cực bán chéo sản phẩm giữa các phòng, ban...; nhấn mạnh những lợi ích khác biệt mà sản phẩm của Techcombank mang lại so với những NH khác khi tiếp thị sản phẩm đến khách hàng. Tiếp tục duy trì phong cách phục vụ chuyên nghiệp, tận tình, chu đáo của đội ngũ nhân viên giao dịch- vốn là thế mạnh của Techcombank, tạo tâm lý thoải mái, nhanh chóng và thuận tiện khi khách hàng đến gửi tiền tại Techcombank.

2.3 Tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ có năng lực, kinh nghiệm và đạo đức nghề nghiệp và xây dựng chế độ đãi ngộ phù hợp

Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng quyết định sự thành bại của bất kỳ tổ chức kinh tế nào. Tại Techcombank, hiện tượng thiếu cán bộ nhân viên chất lượng cao, có kinh nghiệm và mất cán bộ lâu năm về phía các NHTM khác đang là mối đe dọa thường trực trong hoạt động của NH. Để có thể hoạt động hiệu quả hơn, Techcombank cần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và xây dựng hệ thống đãi ngộ thỏa đáng. Việc xây dựng một chiến lược nhân sự dài hạn và đồng bộ là hết sức cần thiết. Techcombank có thể áp dụng giải pháp phát triển nguồn nhân lực của một số NHTM lớn như ACB, Eximbank, Sacombank... đang áp dụng như thành lập riêng cho mình một trung tâm đào tạo hoặc gửi đi đào tạo ngoài nước hoặc tạo ra những sân chơi cho sinh viên ngành này thực hành, thực nghiệm như sàn giao dịch chứng khoán ảo. Đồng thời hướng tới các sinh viên giỏi tại nhiều trường đại học thuộc ngành NH, kế toán, tài chính, tin học nhằm bổ sung cho nguồn nhân lực của mình. Techcombank hiện đã có Trung tâm đào tạo Techcombank, tổ chức các khóa học định hướng cho nhân viên mới và một số khóa học chuyên sâu trong lĩnh vực NH. Tuy nhiên, một số khóa học chưa đạt được mục tiêu đặt ra, Trung tâm đào tạo Techcombank nên thiết kế lại thời gian và phương pháp học tập của mỗi khóa học phù hợp hơn với nguyện vọng của nhân viên. Chỉ khi đó, cán bộ được cử đi học tập mới cảm thấy hài lòng và có hứng thú với các buổi học hơn và hiệu quả của công tác giảng dạy mới được nâng cao. Bên cạnh chiến lược đào tạo nhân viên, Techcombank cần chú ý đến hệ thống tiền lương, thưởng sao cho thỏa mãn nguyện vọng của nhân viên và mang tính cạnh tranh trên thị trường lao động ngành tài chính - NH. Nếu so sánh với mức lương và thưởng của các NHTMCP có quy mô và uy tín tương tự cũng như các NHTMQD, với cùng một vị trí và năng lực kinh nghiệm, cán bộ ở Techcombank có mức thu nhập thấp hơn tương đối nhiều. Do vậy, biện pháp tốt nhất để níu chân các cán bộ chủ chốt, lâu năm và thu hút nhân tài là xây dựng

chế độ đãi ngộ xứng đáng ngoài việc tạo ra môi trường làm việc thoải mái, năng động. Đồng thời xây dựng chế độ thưởng, phạt xứng đáng cho những bộ phận cán bộ làm việc hiệu quả.

2.4 Xây dựng chính sách linh hoạt và áp dụng quy trình thẩm định, cấp tín dụng một cách mềm dẻo

Techcombank cần định hướng chuyển dịch cơ cấu cho vay theo các lĩnh vực ngành nghề cụ thể. Việc cho vay vốn đầu tư vào lĩnh vực bất động sản và chứng khoán cần phải hết sức thận trọng vì độ rủi ro cao. Tiếp tục phát triển thêm nhiều sản phẩm phù hợp với nhu cầu đặc thù của từng đối tượng khách hàng. Ví dụ như xây dựng sản phẩm riêng cho đối tượng khách hàng là những doanh nghiệp mới thành lập, hoặc doanh nghiệp sản xuất ra những sản phẩm mới chưa có trên thị trường, sử dụng công nghệ tiên tiến chưa được áp dụng tại Việt Nam. Bởi những điều kiện tín dụng đang được quy định tại Techcombank không thể áp dụng trong những trường hợp trên khiến Techcombank mất đi khá nhiều dự án tốt và có tính khả thi cao. Việc phát triển sản phẩm đặc thù với những chính sách lãi suất và điều kiện tín dụng riêng cho từng đối tượng doanh nghiệp vừa và nhỏ là vô cùng cần thiết, giúp Techcombank mở rộng mạng lưới khách hàng và hoạt động tín dụng hiệu quả hơn.

Về quy trình thẩm định tín dụng, Techcombank đã xây dựng một quy trình thẩm định rất chặt chẽ và có khả năng kiểm soát tốt. Tuy nhiên, để đảm bảo hiệu quả cho hoạt động tín dụng và tránh mất các khách hàng tốt thì Techcombank cần áp dụng quy trình mềm mại và linh hoạt hơn. Khi gặp một dự án lớn và tính khả thi cao, Techcombank cần rút ngắn thời gian thẩm định và ra quyết định, có thể tổ chức họp hội đồng tín dụng khẩn cấp như một số NHTM khác vẫn thường làm. Như vậy, Techcombank vẫn đảm bảo tuân thủ quy trình thẩm định của NH mà vẫn có thể đảm bảo đưa ra thông báo tín dụng đến khách hàng một cách nhanh chóng, tránh để khách hàng mất thời gian chờ đợi và chuyển sang vay vốn ở các NH khác.


KẾT LUẬN


Đất nước đang chuyển mình với những bước đi đúng hướng, những thành tựu mới trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Xu hướng toàn cầu hoá trên thế giới cùng với việc Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO đã mở ra nhiều cơ hội mới cho mọi nhà, mọi doanh nghiệp, mọi lĩnh vực trong đó không thể không nói tới NH - một lĩnh vực hết sức nhạy cảm ở Việt Nam. Bên cạnh những cơ hội là những khó khăn, thách thức mà để vượt qua được, các NHTM Việt Nam nói chung và Techcombank nói riêng phải nỗ lực không mệt mỏi nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của mình, đáp ứng các yêu cầu quốc tế về chất lượng hoạt động cũng như chất lượng sản phẩm, dịch vụ NH.

Giai đoạn phát triển tiếp theo có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của Techcombank bởi sự kiện Việt Nam gia nhập sâu, rộng hơn vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đồng nghĩa với cạnh tranh trong lĩnh vực NH ngày càng gay gắt hơn, các tiêu chuẩn về hoạt động NH ngày càng khắt khe hơn. Điều đó, đòi hỏi Techcombank phải nhìn nhận lại mình, tìm ra những lĩnh vực đang hoạt động hiệu quả để tiếp tục phát huy và phương hướng giải quyết những hạn chế còn tồn tại. Có như vậy, Techcombank mới có thể đứng vững trước làn sóng hội nhập và tiếp tục có những bước phát triển mới trong tương lai.

Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của NHTM cổ phần Kỹ thương Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế”, tác giả đã cố gắng làm rõ một số vấn đề về lý luận và thực tiễn sau:

Một là, tìm hiểu một số vấn đề cơ bản về NHTM và hiệu quả hoạt động của NHTM. Đưa ra các chỉ tiêu, phương pháp đánh giá, phân tích hiệu quả hoạt động của NHTM trên phương diện hiệu quả kinh tế.

Hai là, kết hợp các chỉ tiêu và phương pháp phân tích đã được trình bày trong phần lý luận để đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động của Techcombank.

Qua đó thấy được sự lớn mạnh không ngừng của Techcombank giai đoạn 2001 - 2006, xuất phát từ một NHTMCP với vốn điều lệ chỉ vỏn vẹn 20 tỷ đồng, Techcombank ngày nay đã trở thành một trong những NHTMCP dẫn đầu về quy mô và tốc độ phát triển, được nhiều tổ chức uy tín công nhận và trao giải thưởng, đáp ứng các tiêu chuẩn của Nhà nước và thông lệ quốc tế về mức an toàn vốn và tỷ lệ nợ xấu, trích lập dự phòng... Đồng thời, khóa luận cũng chỉ ra được những điểm còn chưa hiệu quả trong hoạt động của Techcombanh như khả năng huy động vốn chưa xứng với tiềm năng thực sự, quy mô vốn vẫn còn khá nhỏ bé so với các NHTM trong khu vực, chỉ ra một số khó khăn về nguồn nhân lực và tập trung đầu tư nhiều vào những hoạt động có tính sinh lời cao nhưng đi kèm với đó là rủi ro rất lớn.

Ba là, trên cơ sở những tồn tại trong hoạt động của Techcombank, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Techcombank, đặc biệt là phương hướng nâng cao hiệu quả huy động vốn, chất lượng tín dụng cũng như năng lực quản trị rủi ro của Techcombank trong thời gian tới. Ngoài ra, khóa luận còn đưa ra một số kiến nghị đối với các cơ quan có thẩm quyền về việc cải thiện hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách nhằm hỗ trợ tối đa hoạt động của các NHTM trong nước nói chung và Techcombank nói tiêng, đồng thời nêu lên một số kiến nghị đối với Techcombank về việc khắc phục từng tồn tại trong hoạt động của NH, đặc biệt là những điểm hạn chế về chất lượng nguồn nhân lực và mở rộng quy mô vốn điều lệ và khả năng huy động vốn từ nền kinh tế.

Tóm lại, những nội dung và vấn đề được phân tích và đề cập tới trong khoá luận sẽ góp phần hoàn thiện hình ảnh về một Techcombank có uy tín và hoạt động thực sự hiệu quả trên mọi mặt, trở thành một trong những NHTM nòng cốt, thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phần Tiếng Việt:


1. PGS.TS Phan Thị Thu Hà (2006), Ngân hàng thương mại, NXB Thống kê.


2. TS. Nguyễn Minh Kiều (2005), Nghiệp vụ ngân hàng, NXB Thống kê.


3. PGS.TS Nguyễn Thị Quy, Năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong xu thế hội nhập, Nhà xuất bản lý luận chính trị.

4. GS.TS. Lê Văn Tư (2005), Quản trị Ngân hàng thương mại, NXB Tài chính.


5. GS.TS. Lê Văn Tư (2005), Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, NXB Tài chính.


6. David Cox (1997), Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, NXB Chính trị Quốc gia


7. Frederic S.Minskin (1995), Tiền tệ- Ngân hàng và Thị trường tài chính, NXB Khoa học kỹ thuật

8. Peter S.Rose (2001), Quản trị Ngân hàng thương mại, ĐH Kinh tế quốc dân.


9. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tạp chí Ngân hàng số 12 - 6/2007.


10. Hiệp hội Ngân hàng (các số năm 2007), Tạp chí thị trường tài chính tiền tệ.


11. Báo cáo thường niên của Ngân hàng kỹ thương Việt Nam các năm 2002, 2003, 2004, 2005, 2006

12. Biên bản họp giao ban tháng 1, 2, 5 năm 2007 và Biên bản họp sơ kết 6 tháng đầu năm 2007 của Ngân hàng kỹ thương Việt Nam

13. Tài liệu định hướng nhân viên mới tháng 6 năm 2007 của Techcombank


14. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam và Luật các tổ chức tín dụng năm 1999, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng năm 2004.

15. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19 tháng 4 năm 2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành “Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng”

Quyết định số 03/2007/QĐ-NHNN về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng ban hành kèm Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19 tháng 4 năm 2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

Phần Tiếng Anh


16. Xavier Freixas and Jean-Charles, Microeconomics of Banking- 4e (1999), Massachusetts Institute of Technology.

17. Erich A.Helfert, D.B.A, Financial Analysis - Tool & Techniques- A guide for managers, McGraw Hill (e-book)

18. Frank J.Fabozzi and Pamela P.Peterson, Financial Management & Analysis- 2e

(2003), John Wiley&Sons, Inc., Hoboken, New Jersey.


19. John Holliwell (1997), The Financial Risk Manual- A Systematic Guide to Indentifying and Managing Financial Risk, Pitman Publishing.

20. K. Selvavinayagam, Financial Analysis Of Banking Institutions, FAO Investment Centre Occasional Paper series no.1, June 1995.

21. George T.Friedlob and Lidia L.F.Schleifer, Essentials of Financial Analysis

(2003), John Wiley&Sons, Inc., Hoboken, New Jersey.


22. Timothy W.Koch & S.Scott MacDonald (2003), Bank Management, Thomson South-Western.


PHỤ LỤC


Phụ lục 01

CÁC CHỈ TIÊU TÀI CHÍNH CƠ BẢN CỦA TECHCOMBANK GIAI ĐOẠN 2001 - 2006


Đơn vị: tỷ đồng


Chỉ tiêu

2001

2002

2003

2004

2005

2006



Giá trị

%

tăng


Giá trị

%

tăng


Giá trị

%

tăng


Giá trị

%

tăng


Giá trị

%

tăng


Giá trị

%

tăng

Tổng doanh thu hoạt động


173.66


117%


311.61


79%


386.23


24%


496.63


29%


905.47


82%


1398


54%

Tổng tài sản

2385.89

59%

4059.82

70%

5510.43

36%

7667.46

39%

10666.1

39%

17326

62%

Vốn điều lệ

102.711

28%

117.870

15%

180.000

53%

421.700

134%

617.66

46%

1500

143%

Lợi nhuận

trước thuế và dự phòng rủi ro


17.5


200%


52.3


199%


90.07


72%


130.32


45%


277.86


113%


387.18


39%

Lợi nhuận trước thuế, sau

dự phòng rủi ro


9.93


88%


10.12


2%


42.17


317%


107.01


154%


286.06


167%


356.52


25%

Lợi nhuận sau

thuế


6.75


88%


6.88


2%


29.34


326%


76.13


159%


206.15


171%


256.91


25%

Tỷ suất lợi nhuận sau thuế/Tổng

doanh thu


3.89%



2.21%



7.60%



15.33%



22.77%



18.38%


Có thể bạn quan tâm!

Xem toàn bộ 62 trang: Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế - 6

Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2002, 2003, 2004, 2005, 2006 của Techcombank



88

Download pdf, tải về file docx

Ngày đăng: 16/04/2022
Đánh giá:
4.3/5 (1 bình chọn)

Gửi tin nhắn


Đồng ý Chính sách bảo mật *

Trang chủ Tài liệu miễn phí Thư viện số
Top