Thực Trạng Hoạt Động Bảo Hộ Nhãn Hiệu Ở Việt Nam

Thực chất, biện pháp kiểm soát biên giới chính là biện pháp hành chính. Tuy nhiên, do đặc thù việc áp dụng biện pháp này chỉ ở phạm vi khu vực biên giới đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu nên hiện nay biện pháp này được nhắc đến với tư cách là một biện pháp độc lập, tách biệt với biện pháp hành chính. Quy định này cũng phù hợp với thông lệ quốc tế và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên như TRIPS, BTA.

Để bảo vệ quyền SHTT ngay tại cửa ngõ của quốc gia thì các biện pháp kiểm soát biên giới do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện luôn đóng vai trò rất quan trọng. Với sự ra đời của Luật hải quan năm 2001, lần đầu tiên Hải quan Việt Nam được chính thức trao quyền ngăn chặn việc nhập khẩu vảo Việt Nam hàng hóa xâm phạm quyền SHTT tại biên giới. Để thi hành Luật hải quan liên quan đến thực thi quyền SHTT, Nghị định 101/2001/NĐ-CP và Thông tư 129 đã đưa ra các quy định cụ thể về thủ tục tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền SHTT. Theo Điều 57 Luật hải quan, chủ sở hữu quyền SHTT đã được bảo hộ theo quy định của pháp luật Việt Nam có quyền đề nghị cơ quan hải quan tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu khi có căn cứ cho rằng vi phạm quyền SHTT. Trong trường hợp này chủ sở hữu quyền phải có bằng chứng về quyền sở hữu hợp pháp nhãn hiệu, các chứng cú về việc vi phạm cũng như nộp một khoản tiền tạm ứng hoặc chứng từ bảo lãnh để bảo đảm bồi thường thiệt hại do đề nghị tạm dừng thủ tục hải quan không đúng. Như vậy, chỉ chủ sở hữu mới có quyền yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan, các cơ quan có thẩm quyền không chủ động yêu cầu cơ quan tạm dừng làm thủ tục hải quan.

Với các quy định về biện pháp chế tài dân sự, hành chính, hình sự và kiểm soát biên giới nói trên, pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu của Việt Nam đã tương đối đầy đủ nhưng để các quy định của pháp luật được áp dụng trơn tru trong thực tế đòi hỏi sự nỗ lực không chỉ của các cơ quan nhà nước mà còn của chính công chúng – những chủ thể của quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

Chương 3

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO HỘ NHÃN HIỆU Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ

NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU


3.1. Thực trạng hoạt động bảo hộ nhãn hiệu ở Việt Nam

Trong thời gian qua, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực để nâng cao hoạt động bảo hộ quyền SHTT. Trên phương diện lập pháp, chúng ta đã xây dựng và ban hành được một loạt các văn bản pháp lý có giá trị cao như Bộ luật Dân sự, Luật SHTT, Luật Cạnh tranh, Luật Hải quan cũng như các văn bản hướng dẫn. Nhìn chung, về mặt lý thuyết, các quy định pháp luật của Việt Nam được đánh giá là khá đầy đủ và tương thích với các quy định trong các điều ước quốc tế trong lĩnh vực bảo hộ nhãn hiệu.

Xét ở góc độ xác lập quyền đối với nhãn hiệu số lượng các đơn yêu cầu cấp giấy chứng nhận nhãn hiệu liên tục tăng với tốc độ cao. Theo thống kê của Cục SHTT, từ năm 1982 đến năm 2008 số lượng đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu được nộp tới Cục SHTT chỉ tính riêng đơn quốc gia là 188.494 đơn, trong đó, lượng đơn đăng ký do tổ chức, cá nhân Việt Nam nộp là 120.636 đơn (chiếm 64%) và lượng đơn do tổ chức, cá nhân nộp là 67.498 đơn ( chiếm 36%). Tổng số văn bằng bảo hộ nhãn hiệu được cấp trong thời gian này tương ứng là 117.898 văn bằng, trong đó số văn bằng cấp cho tổ chức, cá nhân Việt Nam là 70.254 (chiếm 59,6%), cho tổ chức, cá nhân nước ngoài là 47.644 (chiếm 40,4%).

Tuy nhiên, tỷ lệ đơn được nộp giữa các năm cũng như tỷ lệ loại đơn có nguồn gốc Việt Nam và nguồn gốc nước ngoài có sự khác biệt nhau giữa các thời kỳ.

Đơn đăng nhãn hiệu theo đường quốc gia được nộp

bởi

Có thể theo dõi lượng đơn đăng ký và cấp văn bằng bảo hộ trong những năm qua qua bảng số liệu dưới đây:

Người nộp

đơn Việt Nam

Người nộp

đơn nước ngoài

Tổng số

1982-1988

461

773

1234

1989

255

232

487

1990

890

592

1482

1991

1747

613

2360

1992

1595

3022

4617

1993

2270

3866

6136

1994

1419

2712

4131

1995

2217

3416

5633

1996

2323

3118

5441

1997

1645

3165

4810

1998

1614

2028

3642

1999

2380

1786

4166

2000

3483

2399

5882

2001

3095

3250

6345

2002

6560

2258

8818

2003

8599

3536

12135

2004

10641

4275

14916

2005

12884

5134

18018

2006

16071

6987

23058

2007

19653

7457

27110

2008

20834

6879

27713

Tổng số

120636

67498

188494

Có thể bạn quan tâm!

Xem toàn bộ 146 trang tài liệu này.

Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo Luật Sở hữu trí tuệ 2005 - 15

Năm

Bảng số liệu đơn đăng ký nhãn hiệu

nộp trực tiếp tới Cục SHTT từ 1982-2008 [22]


Năm

Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu được cấp cho

Người nộp

đơn Việt Nam

Người nộp

đơn nước ngoài

Tổng số

1982-1989

380

1170

1550


1990

423

265

688

1991

1525

388

1913

1992

1487

1821

3308

1993

1395

2137

3532

1994

1744

2342

4086

1995

1627

1965

4592

1996

1383

2548

3931

1997

980

1506

2486

1998

1095

2016

3111

1999

1299

2499

3798

2000

1423

1453

2876

2001

2085

1554

3639

2002

3386

1814

5200

2003

4907

2243

7150

2004

5444

2156

7600

2005

6427

3333

9760

2006

6335

2505

8840

2007

10660

5200

15860

2008

15826

7464

23290

Tổng số

70254

47644

117898

Bảng số liệu Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu được cấp từ 1982-2008 [22]

Hai bảng số liệu trên cho thấy, số lượng đơn đăng ký cũng như được cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu của tổ chức, cá nhân Việt Nam chỉ thực sự tạo ra khoảng cách lớn với tổ chức, cá nhân nước ngoài từ cuối những năm 90. Điều này cũng phù hợp với thời điểm nền kinh tế Việt Nam có những thay đổi lớn, hoạt động sản xuất, kinh doanh, đầu tư phát triển, đồng thời ý thức về sự cần thiết phải xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu để bảo vệ tài sản được chú trọng.

Tuy số lượng văn bằng bảo hộ được cấp ra hàng năm đều tăng và tăng mạnh trong vài năm gần đây song thực tế vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của người nộp đơn. Tình trạng xử lý đơn không kịp thời hạn của cơ quan đăng ký đã được khắc phục nhưng vẫn chưa dứt điểm, điều này khiến cho các chủ thể kinh doanh có khả năng bị mất cơ hội cạnh tranh trên thị trường cũng như bị xâm phạm quyền mà không có căn cứ để tự bảo vệ cũng như yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý.

Xét trong bối cảnh nền kinh tế của một quốc gia trên 80 triệu dân, đứng thứ 12 thế giới, với mục tiêu trở thành một nước công nghiệp vào năm 2010 thì số lượng nhãn hiệu được bảo hộ hàng năm vẫn còn rất khiêm tốn. Dĩ nhiên, tuy không là nguyên nhân trực tiếp giúp đẩy mạnh kinh tế, thu hút đầu tư nhưng ở góc độ gián tiếp hoạt động bảo hộ nhãn hiệu rõ ràng là một trong những công cụ thúc đẩy và bảo hộ sản xuất, kinh doanh. Do vậy, số lượng nhãn hiệu đăng ký và được bảo hộ còn khiêm tốn chứng tỏ công cụ này vẫn chưa thực sự hoạt động hiệu quả.

Xét ở góc độ bảo vệ quyền, khung pháp lý đã được hoàn thiện ngang tầm quốc tế, sự phối hợp của các cơ quan thực thi đã có nhiều cải thiện nhưng hoạt động bảo vệ sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong đợi.

Tình hình vi phạm pháp luật SHTT đặc biệt là với nhãn hiệu ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp. Hầu như mọi sản phẩm hàng hóa đều có hàng giả mạo nhãn hiệu, hàng xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu. Từ các sản phẩm tiêu dùng thông thường như thực phẩm, đồ uống, quần áo, giày dép, đồ vệ sinh cá nhân đến đồ dùng gia đình, phương tiện, máy móc, mỹ phẩm, dược phẩm… Hành vi xâm phạm xảy ra cả ở khu vực sản xuất, chế biến, lưu thông và xuất nhập khẩu trong đó phổ biến nhất là trong khâu lưu thông và nhập khẩu. Hàng nhái, hàng hóa có chứa yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu có mặt cả ở thành thị lẫn nông thôn, được bày bán ở cả các quầy hàng nhỏ, tại các chợ lẫn các trung tâm thương mại hiện đại và các siêu thị cao cấp với độ nhái, giả tinh vi khác nhau. Nếu như

trước đây, việc xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu thường dễ bị phát hiện vì chất lượng hoặc hình thức của hàng nhái, hàng chứa yếu tố vi phạm có sự khác biệt lớn với hàng thật thì đến này tình hình đã khác, nhiều mặt hàng bị rơi vào tình trạng thật giả lẫn lộn, rất khó phân biệt và nhận biết. Theo báo cáo của Cục SHTT, nếu những năm đầu 1990 số vụ việc xâm phạm về sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu mà cơ quan này được báo cáo trong mỗi năm là rất ít thì hiện nay tăng lên đáng kể, cụ thể là: năm 1994 số vụ xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu là 41 vụ, năm 2001 con số này tăng lên là 198 vụ, năm 2002 là 282 vụ, năm 2003 là 260 vụ.

Luật SHTT cũng như các văn bản liên quan khác đã quy định tương đối đầy đủ các chế tài dân sự, hành chính, hình sự nhằm bảo đảm cho các quyền SHTT được thực thi có hiệu quả tuy nhiên trên thực tế hàng giả mạo nhãn hiệu, hàng chứa yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu vẫn tràn lan. Biện pháp dân sự là biện pháp thích hợp nhất với bản chất của quyền đối với nhãn hiệu thì không được ưa chuộng khi có xử lý hành vi xâm phạm quyền, thay vào đó, các biện pháp hành chính được sử dụng phổ biến khiến cho người có quyền bị xâm phạm không thể được đền bù các thiệt hại còn người đã thực hiện hành vi xâm phạm thì chỉ bị phạt mà không phải chịu trách nhiệm vật chất do hành vi xâm phạm gây ra, đồng thời điều này cũng khiến cho các quan hệ xã hội về SHTT trở nên căng thẳng ảnh hưởng xấu đến hoạt động của các doanh nghiệp, gây tâm lý ngờ vực cho các chủ SHTT đặc biệt là những người nước ngoài về tính “thỏa đáng”, “công bằng” của cơ chế thực thi của Việt Nam. Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội trong Hội thảo về thực thi quyền SHTT dành cho đối tượng là các cơ quan tư pháp thì tính đến năm 2008 TAND thành phố Hà Nội mới giải quyết được 11 vụ án dân sự về SHTT, 04 vụ hành chính về SHTT và 04 vụ án kinh doanh – thương mại về SHTT.[33] Với một địa bàn là thủ đô Hà Nội mà số lượng vụ việc liên quan đến quyền SHTT được giải quyết tại tòa dân sự chỉ ít ỏi như thế thì có thể thấy hoạt động thực thi quyền SHTT bằng biện pháp dân sự là rất hạn chế.

Một số lý do căn bản dẫn đến thực trạng nêu trên có thể kể đến:

Thứ nhất, hệ thống pháp luật về SHTT của Việt Nam mới chỉ đầy đủ về phần khung pháp lý nhưng còn thiếu các văn bản hướng dẫn chi tiết, đặc biệt là Quy chế thẩm định đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, khiến cho việc thực hiện trên thực tế gặp nhiều khó khăn. Sở dĩ cần thiết có các văn bản hướng dẫn chi tiết vì nhiều vấn đề mới chỉ được luật quy định mang tính nguyên tắc và dường như chỉ là sự sao chép đơn thuần các quy định trong các điều ước quốc tế, do vậy, nếu không có văn bản hướng dẫn chi tiết sẽ dẫn đến việc áp dụng không thống nhất thậm chí là sai so với luật. Thiếu văn bản hướng dẫn khiến cho việc đánh giá khả năng bảo hộ nhãn hiệu trong giai đoạn xác lập quyền khó thống nhất dẫn đến việc người nộp đơn đăng ký không cảm thấy bị thuyết phục trước các quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Thiếu văn bản hướng dẫn khiến cho các cơ quan thực thi lúng túng trong việc đánh giá, phát hiện để xử lý các hành vi xâm phạm quyền dẫn đến tình trạng xâm phạm quyền diễn ra phổ biến, môi trường kinh doanh thiếu lành mạnh.

Thứ hai, một số thủ tục rất tiến bộ đã được quy định trong luật như thủ tục cho phép bên thứ ba có quyền có ý kiến về việc cấp hay không cấp văn bằng bảo hộ (thủ tục phản đối) nhưng trình tự thực hiện chưa thực sự hợp lý khiến cho việc thực hiện quyền phản đối của bên phản đối cũng như xử lý ý kiến phản đối của cơ quan có thẩm quyền gặp nhiều khó khăn và chưa đạt được hiệu quả như mong đợi.

Thứ ba, chưa có một cơ chế đảm bảo tính độc lập, khách quan và nhanh chóng trong việc giải quyết khiếu nại, yêu cầu hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ. Việc giải quyết các công việc này vẫn chỉ do những chuyên viên làm công việc giải quyết khiếu nại của Cục SHTT xử lý trong khi mức độ phức tạp và tầm quan trọng của công việc này cần thiết phải có một Hội đồng gồm nhiều thành viên hoạt động một cách độc lập để đưa ra những quyết định khách quan, đúng pháp luật.

Thứ tư, việc xử lý xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu theo con đường dân sự tại tòa chưa được sử dụng hiệu quả khiến cho việc xử lý bằng các biện pháp hành chính bị lạm dụng. Năng lực của các cán bộ làm công tác thực thi quyền sở hữu hữu trí tuệ còn chưa tương xứng với đòi hỏi của các vấn đề thực tiễn cần xử lý. Tòa án có thẩm quyền hiện nay cũng như các cơ quan có thẩm quyền xử lý hành chính đối với vụ việc liên quan đến nhãn hiệu có rất ít cán bộ được đào tạo chuyên sâu về SHTT, do vậy, kết quả xử lý vụ việc nhiều khi không thể dứt điểm mà phải xem xét lại nhiều lần, kéo dài qua nhiều cấp gây tâm lý thiếu tin tưởng và e ngại của chủ thể quyền khi có vụ việc xảy ra cần sự tham gia của các cơ quan thực thi.

Thứ năm, ý thức tự bảo vệ quyền của chính các chủ thể quyền chưa cao dẫn đến việc chưa chủ động trong hoạt động xác lập quyền, nhiều trường hợp chỉ đến khi bị vi phạm hoặc có tranh chấp xảy ra mới tính đến việc đăng ký bảo hộ. Không những thế, chủ nhãn hiệu vẫn có tư tưởng cho rằng trách nhiệm trong việc chủ động xử lý các hành vi xâm phạm thuộc về cơ quan chức năng của nhà nước, thay vì nhận thức rằng quyền đối với nhãn hiệu là tài sản của mình và chính mình với tư cách là chủ sở hữu phải chủ động, tích cực trong việc tự bảo vệ quyền. Nhiều chủ thể, kể cả các doanh nghiệp chưa ý thức đầy đủ về vai trò, giá trị của tài sản trí tuệ, rất ít doanh nghiệp có bộ phận chuyên trách về SHTT.

Thứ sáu, năng lực của cơ quan xác lập quyền chưa đủ để đảm bảo giải quyết nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật các đơn yêu cầu xác lập quyền cũng như các công việc khác hỗ trợ cho hoạt động xác lập và bảo vệ quyền. Bên cạnh các lý do về cơ sở vật chất chưa đáp ứng tốt, số lượng cán bộ còn thiếu thì lý do về việc thiếu văn bản hướng dẫn chi tiết cũng là một nguyên nhân quan trọng khiến cho hiệu quả hoạt động của cơ quan xác lập quyền bị hạn chế.

Thứ bảy, hoạt động thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật về SHTT được thực hiện chưa tốt khiến cho nhận thức của toàn xã hội về vấn đề bảo hộ quyền SHTT còn hạn chế, chưa hình thành tập quán tôn trọng quyền SHTT. Việc sử dụng hàng giả, hàng nhái, hàng xâm phạm nhãn hiệu vẫn phổ biến và

Xem tất cả 146 trang.

Ngày đăng: 22/11/2022
Trang chủ Tài liệu miễn phí