Chính sách huy động vốn của ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương trong thời kỳ suy thoái kinh tế - 1


TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH

CHUYÊN NGÀNH KINH DOANH QUỐC TẾ

-------***------



Đề tài:

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP


CHÍNH SÁCH HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG TRONG THỜI KỲ SUY THOÁI KINH TẾ


Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Hà Phượng Lớp : Anh 1

Khoá 44

Giáo viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Thuý Anh


Hà Nội, tháng 05/2009

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4

1.1 Ngân hàng thương mại 4

1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng thương mại 4

1.1.2.Vai trò 5

1.2 Vốn của các ngân hàng thương mại 8

1.2.1. Khái niệm 8

1.2.2.Phân loại vốn của các ngân hàng thương mại 9

1.2.2.1.Căn cứ vào thời hạn của vốn 9

1.2.2.2. Căn cứ vào đối tượng huy động vốn 10

1.2.2.3. Căn cứ vào nguồn gốc của vốn 11

1.2.2.4.Căn cứ vào loại tiền 12

1.2.3. Vai trò của vốn trong Ngân hàng thương mại 13

1.2.3.1. Là tiền đề cho các NHTM thực hiện hoạt động tổ chức kinh doanh 13

1.2.3.2. Quyết định năng lực cạnh tranh của NHTM 13

1.2.3.3 Củng cố uy tín của NHTM trên thương trường 13

1.2.3.4 Giúp các ngân hàng phát triển công nghệ, đa dạng hóa dịch vụ, phát triển sản phẩm mới 14

1.3 Chính sách huy động vốn của ngân hàng thương mại 14

1.3.1. Các phương thức huy động vốn của NHTM 14

1.3.1.1. Nhận tiền gửi 14

1.3.1.2. Đi vay vốn 18

1.3.1.3 Hoạt động tăng vốn chủ sở hữu 19

1.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới chính sách huy động vốn của NHTM 20

1.3.2.1 Các yếu tố khách quan 20

1.3.2.2 Các yếu tố chủ quan 21

1.3.3 Một số chỉ tiêu đánh giá hoạt động huy động vốn của NHTM 23

1.4 Chính sách huy động vốn của NHTM trong thời kỳ suy thoái kinh tế 25

1.4.1.Khái niệm suy thoái kinh tế 25

1.4.2.Đặc điểm của chính sách huy động vốn trong thời kỳ suy thoái kinh tế 28

CHƯƠNG II CHÍNH SÁCH HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM (VCB) TRONG THỜI KỲ SUY THOÁI KINH TẾ 35

2.1 Thực trạng suy thoái kinh tế và tác động đến ngành tài chính ngân hàng Việt Nam 35

2.1.1 Thực trạng của cuộc suy thoái kinh tế thế giới hiện nay . 35

2.1.2 Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tới ngành tài chính ngân hàng Việt Nam 41

2.2 Chính sách huy động vốn của Ngân hàng VCB trong thời kỳ suy thoái kinh tế 44

2.2.1 Giới thiệu về Ngân hàng VCB 44

2.2.1.1 Khái quát về lịch sử hình thành và phát triển của VCB 44

2.2.1.2 Khái quát hoạt động trong những năm gần đây 45

2.2.2 Thực trạng huy động vốn tại Ngân Hàng VCB 50

2.2.2.1 Các loại vốn trong tổng nguồn vốn huy động 50

2.2.2.2 Các kênh huy động vốn của ngân hàng VCB 57

2.2.3 Những thành công và hạn chế trong hoạt động huy động vốn của VCB 69

2.2.3.1 Những thành công trong hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương 69

2.2.3.2 Những hạn chế trong hoạt động huy động vốn của NHTMCPNT 73

CHƯƠNG III GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM (VCB) 75

3.1 Dự báo tình hình kinh tế thế giới trong thời gian tới 75

3.2 Phương hướng phát triển trong hoạt động huy động vốn của VCB trong thời gian tới 78

3.3 Giải pháp 80

3.3.1 Giải pháp về các sản phẩm huy động vốn 80

3.3.2 Giải pháp về cơ cấu vốn 82

3.3.3 Giải pháp về chính sách lãi suất 82

3.3.4 Đa dạng hoá kênh giao dịch 83

3.3.5 Đẩy mạnh phát triển dịch vụ khách hàng 84

3.3.6 Phát triển mạng lưới 85

3.3.7 Đào tạo nguồn nhân lực 85

3.3.8 Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến hỗn hợp 86

3.4 Kiến nghị 86

3.4.1 Kiến nghị với nhà nước 87

3.4.2 Kiến nghị với ngân hàng nhà nước 89

KẾT LUẬN 91

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

LỜI CAM ĐOAN


Trong quá trình thực hiện luận văn này, tôi xin cam kết công trình nghiên cứu của tôi là do quá trình hiểu biết, tìm tòi và cố gắng, nỗ lực thực hiện của bản thân cùng với sự hướng dẫn của thầy cô giáo, đặc biệt là ThS. NGUYỄN THÚY ANH. Công trình nghiên cứu của tôi không được sao chép của bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào. Tài liệu được tôi tham khảo là hoàn toàn hợp lệ và được pháp luật cho phép lưu hành rộng rãi.


Sinh viên thực hiện (ký tên)

Bảng các ký hiệu viết tắt


Chữ viết tắt

Diễn giải

NHTMCPNT – Vietcombank-VCB


NHNN NHTW WTO WB OECD IMF NHTM ROE ROA CAR VCSH FED NBER GDP TTCK TCTD BIDV

Vietinbank

Agribank

Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương

Ngân hàng nhà nước Việt Nam Ngân hàng trung ương

Tổ chức thương mại thế giới Ngân hàng thế giới

Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế Quỹ tiền tệ quốc tế

Ngân hàng thương mại

Chỉ số lợi nhuận trên tổng tài sản Chỉ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu Hệ số an toàn vốn tối thiểu

Vốn chủ sở hữu

Cục dự trữ liên bang Mỹ

Cơ quan nghiên cứu quốc gia Hoa Kỳ Tổng sản phẩm quốc nội

Thị trường chứng khoán Tổ chức tín dụng

Ngân hàng đầu tư và phát triển Ngân hàng công thương

Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam

Có thể bạn quan tâm!

Xem toàn bộ 65 trang: Chính sách huy động vốn của ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương trong thời kỳ suy thoái kinh tế

Chính sách huy động vốn của ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương trong thời kỳ suy thoái kinh tế - 1


LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Ngày 11-1-2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Đây là một bước tiến quan trọng trong quá trình hội nhập và phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên thời gian này cũng là lúc nền kinh tế có những diễn biến phức tạp, đặc biệt do tác động cuộc khủng hoảng kinh tế bắt nguồn từ Mỹ đã lan rộng, đòi hỏi Việt Nam phải có những chính sách và biện pháp phù hợp để đưa nền kinh tế đi đúng hướng.Trong bối cảnh suy thoái kinh tế hiện nay, vốn là yếu tố quan trọng, đóng vai trò quyết định quy mô, chất lượng, hiệu quả và khả năng sinh lời của các dự án đầu tư, trở thành đầu tàu dẫn dắt các doanh nghiệp thoát khỏi thời kì khó khăn của nền kinh tế. Tại Việt Nam hiện nay, dù có rất nhiều tổ chức kinh tế tham gia huy động vốn trong và ngoài nước nhưng phải thừa nhận là các ngân hàng thương lại đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động này. Với tư cách là cầu nối giữa cung cầu tiền tệ, các ngân hàng thương mại không ngừng nâng cao và hoàn thiện chức năng huy động vốn, sử dụng vốn cho hiệu quả, đáp ứng được đòi hỏi của cá nhân người tiêu dùng, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, tài chính, các tổ chức chính phủ, phi chính phủ v..v...

Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam (VCB) là một trong những ngân hàng hàng đầu Việt Nam, là ngân hàng đầu tàu và có tầm ảnh hưởng to lớn đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam. Do đạt được những thành tựu to lớn trong hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng, VCB đã đưa ra những sách lược huy động vốn rất hiệu quả, trở thành ngân hàng đi đầu trong hoạt động huy động vốn phục vụ phát triển kinh tế. Tuy nhiên, hiện nay các ngân hàng đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn: Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng bị thắt chặt; lãi suất đầu ra bị khống chế, trong khi đầu vào hiện vẫn đứng ở mức cao; đặc biệt các khoản nợ xấu (hậu quả của việc ồ ạt cho vay các lĩnh vực rủi ro như: Chứng khoán, Bất động sản… từ năm 2007) và tỷ lệ này ngày càng tăng lên, kèm theo đó là sự cạnh tranh gay gắt không chỉ từ phía các ngân hàng trong nước mà cả các ngân hàng nước ngoài. Đặc biệt trong thời kỳ kinh tế suy thoái như hiện

nay, thì vấn đề đặt ra là ngân hàng VCB cần nhanh chóng khắc phục những hạn chế còn tồn tại của mình, không ngừng mở rộng quy mô huy động vốn, nâng cao chất lượng huy động vốn, tạo ra một cơ cấu vốn hợp lý như thế nào để giữ vững uy tín và hiệu quả trong công tác huy động vốn.

Xuất phát từ yêu cầu đó tác giả quyết định chọn đề tài “Chính sách huy động vốn của Ngân hàng thương mại Cổ Phần Ngoại Thương Việt Nam -VCB trong thời kỳ suy thoái kinh tếđể thực hiện khóa luận tốt nghiệp của mình.

2. Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu các vấn đề lý thuyết về chính sách huy động vốn của ngân hàng thương mại trong thời kì suy thoái kinh tế.

Nghiên cứu thực trạng chính sách huy động vốn tại ngân hàng VCB, đặc biệt trong thời kì suy thoái kinh tế hiện nay.

Đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường hoạt động huy động vốn đối với ngân hàng thương mại nói chung và ngân hàng VCB nói riêng trong thời kì suy thoái hiện nay.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu là hoạt động huy động vốn của ngân hàng VCB giai đoạn 2006-2008. Cụ thể, nghiên cứu khái quát về hoạt động huy động vốn tại các ngân hàng thương mại, đi sâu vào sự khác biệt trong chính sách huy động vốn của VCB trong thời kì suy thoái kinh tế. Rút ra bài học kinh nghiệm và đưa ra giải pháp trong tình hình hiện nay.

4. Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình nghiên cứu, khoá luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phương pháp tổng hợp thống kê, phương pháp khái quát, đối chiếu so sánh( dựa vào biến động chung của nền kinh tế và dựa vào số liệu thực tế để phân tích chính sách huy động vốn của VCB), phương pháp logic.v..v..

5. Kết cấu khóa luận:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận được kết cấu thành ba chương như sau:

Chương I: Cơ sở lý luận về chính sách vốn tại ngân hàng thương mại

Chương II: Thực trạng chính sách huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam (VCB) trong thời kì suy thoái kinh tế

Chương III: Giải pháp tăng cường hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam (VCB) trong thời kỳ suy thoái kinh tế

Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, cùng với sự cố gắng của bản thân, tác giả xin cám ơn sự hướng dẫn tận tình của Th.S Nguyễn Thúy Anh và ban lãnh đạo Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam, phòng tín dụng của ngân hàng đã giúp tác giả hoàn thành khóa luận này. Do hạn chế về thời gian và kiến thức nên đề tài của tác giả không tránh khỏi những thiếu xót rất mong nhận được ý kiến đóng góp, bổ sung.

Tác giả xin chân thành cảm ơn!


Sinh viên: Nguyễn Thị Hà Phượng Lớp: A1 - K44 - QTKDA

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI‌‌

1.1 Ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng thương mại

Tiền tệ- tài chính1 là cốt lõi của nền kinh tế hiện đại, ngân hàng là chủ thể của hệ thống tài chính tiền tệ, chuyên làm nhiệm vụ đi vay (huy động vốn) và cho vay. Từ xưa đến nay, một số quốc gia khi gặp sóng gió tài chính, khủng hoảng tiền tệ đi đôi với khủng hoảng hệ thống ngân hàng. Khi ngân hàng gặp khủng hoảng nó sẽ kéo theo hệ thống tiền tệ, thậm chí gây ra tình trạng khủng hoảng kinh tế. Nhiều nghiên cứu đã chứng tỏ, tuy tình hình kinh tế các quốc gia và vùng lãnh thổ là khác nhau rất xa nhưng đều có một điểm chung là bất kỳ một nước nào gặp khủng hoảng tài chính, trước đó từng có một hệ thống ngân hàng không hoàn thiện và thiếu lành mạnh.

Trong hệ thống tài chính của nền kinh tế thị trường, ngân hàng thương mại là một bộ phận nòng cốt, giữ vị trí quan trọng nhất, là xương sống của nền kinh tế. Nó thực hiện chức năng dẫn vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau về vốn, góp phần tăng tốc độ chu chuyển hàng hóa, tiền tệ, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế và ổn định xã hội. Tùy theo đặc điểm của mỗi quốc gia lại có những định nghĩa khác nhau về ngân hàng thương mại được đưa ra để khái quát chức năng của ngân hàng như:

Tại Mỹ: Ngân hàng thương mại là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính 2.

Tại Pháp: Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào thường xuyên nhận tiền của công chúng dưới hình thức kí thác hay hình thức khác, các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính3.


1 Nguyễn Lữ (tháng 12 năm 2008), “Chiến tranh lạm phát”, NXB Lao Động.

2 Luật thương mại Mỹ

3 Đạo luật ngân hàng của Cộng Hòa Pháp

Mỗi khái niệm có khác nhau nhưng đều khẳng định rằng ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ với các nội dung như:

- Nhận tiền gửi và chi trả hộ khách hàng cũng như cam kết trả lại đúng số tiền đó cộng thêm một phần lãi

- Sử dụng số tiền gửi của khách hàng để cho vay

Theo pháp lệnh ngân hàng Việt Nam ngày 23-5-1990 của hội đồng Nhà nước Việt Nam định nghĩa: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà họat động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.

Theo Luật số 02/1997/QH 10 Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam khẳng

định:


Ngân hàng4 là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động

ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”.

Ngân hàng thương mại (NHTM)5 là loại ngân hàng giao dịch trực tiếp với các công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, rồi sử dụng số vốn đó để cho vay, chiết khấu cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên.

Chính vì bản chất hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ nên ngân hàng thương mại chịu nhiều ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, xã hội, chính trị, pháp luật.v.v... đồng thời đến lượt mình, ngân hàng lại có khả năng tác động trở lại các yếu tố này. Không thể phủ nhận rằng, nền kinh tế của một nước chỉ phát triển ổn định và bền vững khi có chính sách tài chính - tiền tệ đúng đắn và hệ thống ngân hàng đủ mạnh, có khả năng thu hút tập trung nguồn vốn và phân bổ một cách hợp lý nguồn vốn đó vào các ngành sản xuất.

1.1.2.Vai trò

Trong thời gian gần đây, tình hình diễn biến lãi suất, tín dụng, giá vàng, ngoại hối một cách phức tạp khiến cho hoạt động của các ngân hàng thương mại


4 Điều số 10 Luật các tổ chức tín dụng

5 Chủ Biên Nguyễn Đắc Đờn (tháng 10 năm 2008), “ tài chình và tiền tệ”, NXB Thống Kê, trang 199.

đang thu hút sự quan tâm lớn của dư luận và các nhà đầu tư. Sự quan tâm đó là dễ hiểu bởi trong thời kì suy thoái kinh tế như hiện nay, các vấn đề về tiền tệ, tài chính đã trở thành vấn đề sống còn với nền kinh tế toàn cầu trong đó có cả Việt Nam, hơn nữa nó còn liên quan trực tiếp đến thu nhập, kinh doanh, đầu tư và cất trữ tài sản của mỗi người dân và mỗi doanh nghiệp. Ngân hàng thương mại thông qua việc thực hiện các vai trò của mình đã trở thành bộ phận thúc đẩy nền kinh tế phát triển cụ thể:

- Tập trung vốn của nền kinh tế

Trong nền kinh tế có những chủ thể có dư tiền và khoản tiền đó chưa được sử dụng một cách triệt để nhưng họ cũng muốn tiền này sinh lời cho mình và họ nghĩ là cho vay và có những chủ thể cần tiền để hoạt động kinh doanh. Nhưng những chủ thể này không quen biết nhau và cũng có thể không tin tưởng nhau nên tiền vẫn chưa được lưu thông. NHTM với vai trò trung gian của mình, nhận tiền từ người muốn cho vay, trả lãi cho họ và đem số tiền ấy cho người muốn vay.

Phần lãi chênh lệch có được từ hoạt động đi vay và cho vay sẽ nhằm để NHTM duy trì hoạt động của mình.Vai trò trung gian này trở nên phong phú hơn với việc phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu v.v… NHTM có thể làm trung gian giữa công ty và các nhà đầu tư; chuyển giao mệnh lệnh trên thị trường chứng khoán; đảm nhận việc mua trái phiếu công ty…

- Làm trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán

Vai trò này thể hiện ở việc ngân hàng tiến hành nhập tiền vào tài khoản hay chi trả tiền theo lệnh của chủ tài khoản. Khi các khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, họ sẽ được đảm bảo an toàn trong việc cất giữ tiền và thực hiện thu chi một cách nhanh chóng tiện lợi, nhất là đối với các khoản thanh toán có giá trị lớn, ở mọi địa phương mà nếu khách hàng tự làm sẽ rất tốn kém khó khăn và không an toàn (ví dụ: chi phí lưu thông, vận chuyển, bảo quản..). Khi làm trung gian thanh toán, ngân hàng tạo ra những công cụ lưu thông và độc quyền quản lý các công cụ đó (sec, giấy chuyển ngân, thẻ thanh toán, hối phiếu, kì phiếu, ..) đã tiết kiệm cho xã hội rất nhiều vể chi phí lưu thông, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa.

Đi kèm với vai trò này các ngân hàng thương mại còn cung cấp các dịch vụ đặc trưng của ngân hàng như dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ kiều hối và thanh toán quốc tế, dịch vụ ủy thác, dịch vụ tư vấn đầu tư, dịch vụ cung cấp thông tin v.v...các vai trò trên có quan hệ hữu cơ với nhau tác động qua lại lẫn nhau.

- Phần phân bổ điều hòa vốn giữa các ngành, các vùng trong nền kinh tế quốc dân

Trước hết, theo quy luật thông thường vốn sẽ tập trung vào các ngành có lợi nhuận cao, ở những vùng có cơ sở hạ tầng phát triển và nguồn nhân lực trình độ cao. Nhưng đến một lúc nào đó điều này sẽ gây ra tình trạng thừa vốn của ngành, vùng này trong khi lại thiếu vốn ở ngành, vùng khác. Lúc này các ngân hàng thương mại sẽ đứng ra thực hiện chức năng của mình, thu hút vốn từ ngành, vùng này rồi chuyển sang ngành, vùng khác. Qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các hoạt động đầu tư, thúc đẩy quá trình hình thành, phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các ngành, các vùng và các thành phần kinh tế một cách đồng đều.

- Là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Đây có lẽ là vai trò quan trọng nhất của các ngân hàng thương mại, bên cạnh mục tiêu chính là lợi nhuận cao nhất cho mình, các ngân hàng thương mại đồng thời còn thực hiện các mục tiêu chính sách tiền tệ của quốc gia như bình ổn giá cả, kiềm chế lạm phát, tạo việc làm và tăng trưởng kinh tế. Hơn nữa, cùng với việc cung cấp các khoản vốn cho doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế tài chính, ngân hàng thương mại đã thực hiện việc tập hợp, phân bổ một cách hợp lý vốn của thị trường.

Cụ thể hiện nay, việc ngân hàng nhà nước yêu cầu các ngân hàng thương mại giảm lãi suất cho vay cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh sẽ giúp các doanh nghiệp này giảm được chi phí sản xuất, từ đó giúp hạ giá thành sản phẩm, kích thích người tiêu dùng mua hàng hóa, như vậy giúp thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Đặc biệt trong thời kỳ kinh tế có diễn biến xấu, gói giải pháp kích cầu của chính phủ thông qua các ngân hàng thương mại đã và đang góp phần giúp Việt Nam thoát khỏi thời kỳ kinh tế tế khó khăn dưới tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới.

1.2 Vốn của các ngân hàng thương mại‌

1.2.1. Khái niệm

Từ trước đến nay, có rất nhiều người đã quan điểm sai lầm khi đồng nhất vốn chính là tiền. Về mặt bản chất tiền và vốn là hai phạm trù khác nhau. Tiền nếu không phải tiền bạc, tiền vàng thì đơn thuần chỉ là kí hiệu giá trị, là một mảnh giấy được ký hiệu đặc biệt do pháp luật quy định để làm phương tiện lưu thông hàng hóa. Tiền tệ là hình thái vốn ban đầu của NHTM, nhưng chưa hẳn có tiền là có vốn. Tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn. Để biến thành vốn thì tiền phải đưa vào kinh doanh với mục đích sinh lời. Như vậy:

Vốn là lượng giá trị ứng trước của toàn bộ tài sản mà NHTM kiểm soát để phục vụ trong hoạt động kinh doanh nhằm thu được lợi ích kinh tế trong tương lai.

Vốn6 là những quan hệ tài chính mà thông qua đó NHTM có thể khai thác

hay huy động một số tiền nhất định để đầu tư tài sản. Vốn cho biết tài sản của NHTM do đâu mà có và NHTM phải có trách nhiệm pháp lý, kinh tế gì đối với tài sản của mình.

Bất kỳ một chủ thể kinh tế nào muốn tiến hành hoạt động đều phải có một lượng vốn nhất định. Một mặt lượng vốn có thể được biểu hiện dưới dạng vật chất hoặc phi vật chất, được đo lường bằng thước đo tiền tệ gọi là tài sản. Mặt khác lượng vốn lại được hình thành từ một hay nhiều nguồn khác nhau gọi là nguồn vốn. Một tài sản có thể do một hoặc nhiều nguồn vốn hình thành và ngược lại một nguồn vốn có thể tham gia hình thành nên một hay nhiều tài sản khác nhau.

Do vậy về mặt lượng tại bất kỳ thời điểm nào, tổng nguồn vốn luôn được xác định bằng tổng tài sản7. Vốn ở đây chính là nguồn vốn – nguồn hình thành nên tài sản của NHTM, có nhiều hình thức biểu hiện của vốn trong đó về mặt hình thức thì vốn có thể được thể hiện bằng tiền hay tài sản cố định, về mặt hình thức sở hữu vốn có thể là vốn chủ sở hữu hoặc nợ phải trả.


6 TS Trần Quý Liên (năm 2006), “Nguyên lý kế toán”, NXB Tài Chính, trang 40.

7 TS Trần Quý Liên (năm 2006), “Nguyên lý kế toán”, NXB Tài Chính, trang 43.

Vì vậy, khái niệm vốn và nguồn vốn ở đây là đồng nhất, tác giả sử dụng thuật ngữ vốn để nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến việc huy động vốn của ngân hàng thương mại.

Vốn của ngân hàng là những hình thái giá trị do ngân hàng tạo lập và sử dụng trong quá trình kinh doanh tiền tệ, tín dụng và các dịch vụ khác của ngân hàng. Vốn của mỗi doanh nghiệp nói chung và của mỗi ngân hàng nói riêng đều được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau. Tuy nhiên với mỗi loại hình doanh nghiệp cũng chỉ khai thác, huy động vốn trên một số nguồn nhất định. Và phải thừa nhận rằng, thông qua việc tập trung và phân phối lại vốn, ngân hàng đã thực hiện vai trò tăng nhanh chu kỳ luân chuyển của vốn, giúp đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế và kích thích nền kinh tế phát triển.

1.2.2.Phân loại vốn của các ngân hàng thương mại

Xuất phát từ yêu cầu quản lý và mục đích nghiên cứu có rất nhiều tiêu chí để phân loại vốn của NHTM.

1.2.2.1.Căn cứ vào thời hạn của vốn

Ta xem xét dưới góc độ ngân hàng huy động vốn trong thời gian bao lâu:

Vốn ngắn hạn: có thời hạn sử dụng dưới 12 tháng. Nguồn vốn này chiếm tỷ trọng khá cao trong nguồn vốn huy động, nguồn vốn này chủ yếu được sử dụng để cho vay ngắn hạn với thời hạn nhỏ hơn 1 năm, lãi suất huy động thường thấp.

Vốn trung hạn: có thời hạn sử dụng từ 1 đến 5 năm, nguồn vốn này được ngân hàng sử dụng chủ yếu cho các doanh nghiệp vay các khoản tín dụng trung hạn để đầu tư cải tiến công nghệ, sản phẩm.

Vốn dài hạn: có thời hạn trên 5 năm. Chi phí cho việc huy động này cao, nguồn vốn này được ngân hàng sử dụng chủ yếu cho các doanh nghiệp vay các khoản tín dụng dài hạn để đầu tư xây dựng cơ bản, mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Trong đó nguồn vốn trung hạn và dài hạn giữ vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Nó là cơ sở để ngân hàng mở rộng hoạt động cho vay, đầu tư trung và dài hạn xét về cả quy mô.

1.2.2.2. Căn cứ vào đối tượng huy động vốn

Vốn từ dân cư: Khi xã hội ngày càng phát triển đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện, thu nhập ngày càng tăng lên, dẫn đến một bộ phận nhân dân dư thừa vốn. Trong khi đó họ lại không có khả năng để tham gia vào các hoạt động kinh doanh, vì vậy họ gửi vào ngân hàng để dự phòng cho tiêu dùng và rủi ro trong tương lai. Nguồn vốn này rất an toàn, lại ổn định đem lại lợi nhuận đáng kể cho ngân hàng. NHTM thường huy động nguồn vốn này thông qua các phương thức như tiền gửi tiết kiệm của khách hàng, tiền gửi thanh toán, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn v.v... Hiện nay các NHTM cạnh tranh ngày càng gay gắt để có được nguồn vốn này.

Vốn từ các tổ chức kinh tế: Các tổ chức kinh tế sử dụng vốn chủ yếu để kinh doanh, nên thường gửi một lượng lớn tiền vào ngân hàng không phải để hưởng lãi ngân hàng mà để hưởng các tiện ích trong thanh toán. Do nhu cầu trong thanh toán của các khách hàng là rất khác nhau (về khối lượng, thời điểm) và nằm ngoài khả năng kiểm soát của ngân hàng nên khoản vốn này thường hay dao động, lên xuống lệ thuộc vào quy mô, loại hình khách hàng, dẫn đến gây nguy cơ cao vì mất khả năng thanh toán cho ngân hàng. Tuy nhiên, mỗi ngân hàng thương mại thường có nhiều khách hàng loại này, sự đan xen giữa các khoản gửi vào và các khoản phải thanh toán đi đã tạo ra một số dư tiền gửi nhất định trong ngân hàng, tạo điều kiện cho ngân hàng sử dụng cho các khách hàng vay một cách hiệu quả. Nguồn tiền gửi từ các tổ chức kinh tế này luôn chiếm một tỷ trọng cao trong tổng số nguồn vốn của ngân hàng.

Vốn từ các ngân hàng và các quỹ hỗ trợ tín dụng khác: Việc vay vốn này nhằm giải quyết tình trạng thiếu vốn của ngân hàng. Theo quy định tại Việt Nam, vốn vay giữa hai ngân hàng được thỏa thuận bằng hợp đồng tín dụng, vốn cho vay phải được đảm bảo bằng hình thức thế chấp hoặc cầm cố bằng tài sản đi vay, tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại ngân hàng Nhà Nước hoặc các chứng từ có giá khác. Các ngân hàng có thể giao dịch với nhau theo nhiều hình thức như qua điện thoại, fax... Đầu tư cho vay trên thị trường liên ngân hàng mức sinh lời thường không cao bằng hoạt động tín dụng nhưng đảm bảo thanh khoản và tính an toàn cao hơn. Uy tín và

Download pdf, tải về file docx

Ngày đăng: 16/04/2022
Đánh giá:
5.0/5 (1 bình chọn)

Gửi tin nhắn


Đồng ý Chính sách bảo mật *

Trang chủ Tài liệu miễn phí Thư viện số
Top