Kỹ Thuật Phân Tích A-B-C Trong Phân Loại Hàng Hóa Tồn Kho

Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty trách nhiệm hữu hạn máy nông nghiệp việt trung - 3

Theo như mô hình này có hai loại chi phí thay đổi theo lượng đặt hàng là chi phí lưu kho và chi phí đặt hàng. Mục tiêu của mô hình là tối thiểu hóa tổng chi phí đặt hàng và tổng chi phí lưu kho. Hai chi phí này phản ứng ngược chiều nhau. Khi quy mô đơn hàng tăng lên, ít đơn hàng sẽ làm cho chi phí đặt hàng giảm trong khi đó mức dự trữ bình quân cao lên dẫn đến chi phí lưu kho tăng. Do đó, trên thực tế lượng đặt hàng tối ưu là kết quả của sự dung hòa giữa hai chi phí có mối quan hệ tỷ lệ nghịch này.

Một số chỉ tiêu đánh giá của mô hình EOQ


Chi phí dự trữ kho

=

Q

C

2

Có thể bạn quan tâm!

Xem toàn bộ 53 trang: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty trách nhiệm hữu hạn máy nông nghiệp việt trung

Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty trách nhiệm hữu hạn máy nông nghiệp việt trung - 3

Trong đó : Q

Là mức dự trữ kho TB

2

C Là chi phí dự trữ kho cho một đơn vị hàng


Chi phí đặt hàng

=

S

O

Q


Trong đó


S

Là số lượng cần đặt

S

Là số lần đặt hàng

Q

O

Là chi phí một lần đặt hàng


Tổng chi phí = Chi phí đặt hàng + chi phí dự trữ


Tổng chi phí

=

Q

C

S

O

2

Q

Mức dự trữ kho tối ưu Q*:


Q*


15


Đồ thị 1.2. Đồ thị mức dự trữ kho tối ưu



Chi phí

Tổng chi phí

Chi phí dự trữ

Chi phí đặt hàng


Q*

Số lượng đặt hàng


1.3.3.3. Kỹ thuật phân tích A-B-C trong phân loại hàng hóa tồn kho

Trong rất nhiều loại hàng hóa tồn kho, không phải loại hàng hóa nào cũng có vai trò như nhau trong việc bảo quản trong kho hàng. Để quản lý tồn kho hiệu quả người ta phải phân loại hàng hóa dự trữ thành các nhóm theo mức độ quan trọng của chúng trong dự trữ, bảo quản. Phương pháp được sử dụng để phân loại là phương pháp A-B-C.

Giá trị hàng tồn kho hàng năm được xác định bằng cách lấy nhu cầu hàng năm của từng loại hàng tồn kho nhân với chi phí tồn kho đơn vị. Tiêu chuẩn để xếp các loại hàng tồn kho vào các nhóm là:

- Nhóm A: Bao gồm các loại hàng có giá trị hàng năm từ 70 - 80% tổng giá trị tồn kho, nhưng về số lượng chỉ chiếm 15 - 20% tổng số hàng tồn kho.

- Nhóm B: Gồm các loại hàng có giá trị hàng năm từ 25 - 30% tổng giá trị hàng tồn kho, nhưng về sản lượng chúng chiếm từ 30 - 35% tổng số hàng tồn kho.

- Nhóm C: gồm những loại hàng có giá trị hàng năm nhỏ, chỉ chiếm 5 -10% tổng giá trị tồn kho. Tuy nhiên về số lượng chúng lại chiếm khoảng 50 – 55% tổng số hàng tồn kho.


16

Đồ thị 1.3. Các nhóm hàng phân bố theo biểu đồ Perato

A

% Giá trị

hàng năm

B

C


% Tổng số hàng tồn kho


Tác dụng của kỹ thuật phân tích ABC:

- Đầu tư có trọng tâm khi mua hàng. Chẳng hạn, ta phải dành các nguồn tiềm lực để mua hàng nhóm A nhiều hơn so với nhóm C.

- Xác định các chu kỳ kiểm toán khác nhau cho các nhóm khác nhau:

+ Đối với loại hàng tồn kho thuộc nhóm A, việc tính toán phải được thực hiện thường xuyên, thường là mỗi tháng một lần.

+ Đối với loại hàng tồn kho thuộc nhóm B sẽ tính toán trong chu kỳ dài hơn, thường là mỗi quý một lần.

+ Đối với loại hàng tồn kho thuộc nhóm C thường tính toán 6 tháng 1 lần.

+ Giúp nâng cao trình độ của nhân viên giữ kho (do họ thường xuyên thực hiện các chu kỳ kiểm toán của từng nhóm hàng).

+ Có được các báo cáo tồn kho chính xác. Đương nhiên mức độ chính xác tuỳ thuộc vào giá trị hàng tồn kho.

+ Có thể áp dụng các phương pháp dự báo khác nhau cho các nhóm hàng khác nhau. Nhóm A phải được dự báo cẩn thận hơn các nhóm B và C (chẳng hạn mặt hàng giản đơn thì áp dụng phương pháp dự báo bình quân giản đơn…).

1.3.3.4. Trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho

Việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho là cực kì cần thiết với mỗi doanh nghiệp. Nếu giá trị thuần có thể thực hiện thấp hơn giá tri ghi sổ của hàng tồn kho thì doanh nghiệp trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho. Mức trích lập dự phòng tùy theo khối lượng hàng tồn kho giảm giá và chênh lệch giữa giá trị thuần có thể thực hiện và giá trị ghi sổ. Khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho được tính vào giá vốn hàng bán.


17


1.3.4. Một số chỉ tiêu đánh giá về hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn

1.3.4.1. Nhóm chỉ tiêu đánh giá về khả năng thanh toán

Khả năng thanh toán ngắn hạn là năng lực đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán trong thời gian ngắn hạn của doanh nghiệp. Các chỉ số này xác định năng lực đáp ứng các nghĩa vụ tài chính đến hạn của doanh nghiệp. Với dòng tiền đủ lớn, doanh nghiệp có thể trang trải các nghĩa vụ tài chính của mình, nhờ vào đó doanh nghiệp không bị lâm vào tình trạng kiệt quệ tài chính hay vỡ nợ. Công việc kế toán thanh khoản thường gắn với VLĐR. Chỉ số đo lường khả năng thanh toán phổ biến nhất là hệ số thanh toán hiện hành và hệ số thanh toán nhanh.

Hệ số thanh toán hiện hành =

Tài sản ngắn hạn Nợ ngắn hạn

Hệ số thanh toán hiện hành cho biết doanh nghiệp có bao nhiêu tài sản có thể chuyển đổi thành tiền để đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Hệ số này đo lường khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Hệ số này cho biết 1 đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bởi bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn. Hệ số thanh toán hiện hành giảm cho thấy khả năng thanh toán của doanh nghiệp giảm đó là dấu hiệu khó khăn về vấn đề tài chính sẽ xảy ra. Nếu hệ số này cao đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sẵn sàng thanh toán các khoản vay. Tuy nhiên, nếu hệ số này quá cao sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động do doanh nghiệp đầu tư quá nhiều vào tài sản ngắn hạn.

Hệ số thanh toán nhanh = Tài sản ngắn hạn hàng tồn kho

Nợ ngắn hạn

Hệ số thanh toán nhanh được tính toán trên cơ sở những tài sản ngắn hạn có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền, đôi khi chúng còn được gọi là những tài sản có tính thanh khoản cao. Tài sản có tính thanh khoản cao bao gồm tất cả các tài sản ngắn hạn trừ hàng tồn kho. Do đó, hệ số này cho biết một đồng nợ ngắn hạn sẽ được đảm bảo bởi bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn không bao gồm kho.

Hệ số khả năng thanh toán tức thời

Tiền + Các khoản tương đương tiền

=

Nợ ngắn hạn

Thể hiện khả năng bù đắp nợ ngắn hạn bằng số tiền của doanh nghiệp. Do tiền có tầm quan trọng đặc biệt quyết định tính thanh toán nên chỉ tiêu này được sử dụng nhằm đánh giá khắt khe khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp.

1.3.4.2. Nhóm các chỉ tiêu đánh giá khả năng quản lý tài sản ngắn hạn

Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là các hệ số đo lường khả năng hoạt động của doanh nghiệp. Để nâng cao hệ số hoạt động, các nhà quản trị phải biết tài sản nào chưa sử dụng, không sử dụng hoặc không tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp. Vì vậy, doanh nghiệp phải biết cách sử dụng chúng sao cho có hiệu


18

quả. Hệ số hoạt động đôi khi còn được gọi là hệ số luân chuyển hay hệ số hiệu quả do đó khi đi phân tích hệ số này đi phân tích các chỉ tiêu sau:

Vòng quay tài sản ngắn hạn trong kỳ

Vòng quay tài sản ngắn hạn trong kỳ

= Doanh thu thuần Tài sản ngắn hạn


Thời gian luân chuyển TSNH = 360

Vòng quay tài sản ngắn hạn trong kỳ


Vòng quay tài sản ngắn hạn trong kỳ là chỉ tiêu phản ánh số lần quay của tài sản ngắn hạn trong một thời kỳ nhất định và thường là một năm. Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trên mối quan hệ so sánh giữa kết quả sản xuất (doanh thu thuần ) và số tài sản ngắn hạn bỏ ra trong một kỳ. Nói cách khác, chỉ tiêu vòng quay tài sản ngắn hạn cho biết trong một năm tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp luân chuyển được bao nhiêu vòng hay một đồng tài sản ngắn hạn tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu. Số vòng quay càng cao thì càng tốt đối với doanh nghiệp.

Mức tiết kiệm vốn lưu động

Vốn lưu động là khoản đầu tư của một doanh nghiệp vào hàng tồn kho và khoản phải thu trừ đi khoản phải trả.

Mức tiết kiệm vốn lưu động là chỉ tiêu phản ánh số VLĐ có thể tiết kiệm được do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động ở kỳ này so với kỳ trước. Mức tiết kiệm VLĐ do tăng tốc độ luân chuyển được biểu hiện bằng hai chỉ tiêu

Mức tiết kiệm tuyệt đối

Do tăng tốc độ luân chuyển VLĐ nên doanh nghiệp có thể tiết kiệm được một số VLĐ để sử dụng vào công việc khác. Nói cách khác với mức luân chuyển VLĐ không thay đổi song do tăng tốc độ luân chuyển VLĐ nên doanh nghiệp cần ít vốn hơn cũng như có thể tiết kiệm một lượng VLĐ. Lượng VLĐ ít hơn đó chính là mức tiết kiệm tuyệt đối VLĐ.

Vtktđ

M1

= 360 K1

- VLĐ0

Mức tiết kiệm tương đối

Mức tiết kiệm tương đối là do tăng tốc độ luân chuyển vốn nên doanh nghiệp có thể tăng thêm tổng mức luân chuyển vốn song không cần tăng thêm hoặc tăng không đáng kể quy mô VLĐ. Công thức xác định số VLĐ tiết kiệm tương đối như sau:

Vtktgđ

M1

= (K1 360

- K0)



19


Vtktđ: Mức tiết kiệm VLĐ tuyệt đối Vtktgđ: Mức tiết kiệm VLĐ tương đối

M1: Tổng mức luân chuyển VLĐ năm kế hoạch

K0, K1: Lần lượt là kỳ luân chuyển VLĐ năm báo cáo, năm kế hoạch VLĐ0: Lần lượt là VLĐ bình quân năm báo cáo

Hệ số sinh lời của tài sản ngắn hạn

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tài sản ngắn hạn. Nó cho biết một đồng tài sản ngắn hạn bỏ ra thì thu về cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng lợi nhuận.

Lợi nhuận sau thuế

Tỷ suất sinh lời TSNH


Tài sản ngắn hạn

Chỉ tiêu này cao phản ánh lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp cao. Các doanh nghiệp đều mong muốn chỉ tiêu này càng cao càng tốt vì như vậy đã sử dụng hết giá trị của TSNH.

1.3.4.3. Nhóm các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời tài sản ngắn hạn

Doanh số phải thu


Vòng quay các khoản phải thu =

Doanh thu thuần Các khoản phải thu

Đây là một chỉ tiêu cho thấy tính hiệu quả của chính sách tín dụng mà doanh nghiệp đã áp dụng với khách hàng. Chỉ số vòng quay càng cao cho thấy doanh nghiệp đươc khách hàng trả nợ càng nhanh. Nhưng nếu so với các doanh nghiệp cùng ngành mà chỉ số này vẫn quá cao thì doanh nghiệp có thể bị mất khách hàng do họ sẽ chuyển sang tiêu dùng các hàng hóa của đối thủ cạnh tranh mà có thời gian tín dụng dài hơn. Do đó doanh số bán hàng của doanh nghiệp sẽ bị sụt giảm.

360

Thời gian thu tiền bình quân =


Vòng quay các khoản phải thu

Chỉ số này cho biết bình quân trong bao nhiêu ngày doanh nghiệp có thể thu hồi các khoản phải thu của mình. Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì kỳ thu tiền bình quân càng nhỏ và ngược lại. Kỳ thu tiền bình quân cao hay thấp trong nhiều trường hợp chưa thể có kết luận chắc chắn mà còn phải xem xét các mục tiêu và chính sách của doanh nghiệp như mục tiêu mở rộng thị trường và chính sách tín dụng

Vòng quay hàng tồn kho

Giá vốn hàng bán

Hàng tồn kho

Vòng quay hàng tồn kho là một chỉ tiêu để đánh giá doanh nghiệp sử dụng hàng tồn kho của mình hiệu quả như thế nào.

Vòng quay hàng tồn kho =


Chỉ tiêu này thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho hiệu quả như thế nào. Chỉ số vòng quay hàng tồn kho càng cao cho thấy doanh nghiệp bán hàng nhanh và hàng

20

tồn kho không bị ứ đọng nhiều trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu chỉ số này quá cao cũng không tốt vì chứng tỏ lượng hàng dự trữ trong kho không nhiều nều nhu cầu thị trường tăng đột biến thì rất có khả năng doanh nghiệp sẽ không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành mất khách hàng. Thêm nữa, nếu dữ trự nguyên vật liệu không đủ để đáp ứng cho sản xuất thì sản xuất sẽ bị ngưng trệ. Vì vậy, chỉ số hàng tồn kho cần phải đủ lớn để đảm bảo cho sản xuất và đáp ứng nhu cầu khách hàng.

Thời gian luân chuyển kho trung bình

=

360

Vòng quay hàng tồn kho

Thời gian luân chuyển kho trung bình cho biết cứ bao nhiêu ngày thì lượng hàng tồn kho lại được quay vòng một lần. Hệ số này càng thấp chứng tỏ doanh nghiệp càng bán được nhiều hàng.

Chu kỳ kinh doanh = Thời gian thu tiền TB + Thời gian luân chuyển kho TB Chu kỳ kinh doanh là khoảng thời gian từ lúc mua hàng về đến khi bán được

hàng hóa và thu tiền về.


Hệ số trả nợ

=

Giá vốn hàng bán + chi phí quản lý + chi phí bán hàng

Phải trả người bán + lương + thuế phải nộp

Chỉ số này cho biết trung bình một năm các khoản phải trả quay vòng được bao nhiêu lần.

Thời gian trả nợ trung bình

=

360

Hệ số trả nợ

Thời gian trả nợ trung bình là khoảng thời gian kể từ khi doanh nghiệp nhận nợ cho tới khi trả nợ. Khoảng thời gian này càng dài càng tốt vì đây là khoảng thời gian doanh nghiệp chiếm dụng được vốn của người bán. Tuy nhiên, điều này có thể ảnh hưởng không tốt đến xếp hạng tín dụng của doanh nghiệp.

Thời gian luân chuyển tiền = Chu kỳ kinh doanh – Thời gian trả nợ trung bình Thời gian luân chuyển tiền phản ánh khoảng thời gian kể từ khi doanh nghiệp chi

thực tế bằng tiền cho đến khi doanh nghiệp thu được tiền. Thời gian luân chuyển tiền càng lớn thì khả năng thanh toán của doanh nghiệp càng thấp đi và ngược lại.

1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn

Để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, ngoài phân tích các chỉ tiêu nói trên chúng ta cần nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng chúng. Có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dung tài sản ngắn hạn cuản doanh nghiệp nhưng vê cơ bản có 2 nhóm nhân tố chính là nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan.


21


1.4.1. Nhân tố chủ quan

Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp luôn chịu tác động của nhiều nhân tố. Để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của doanh nghiệp, ngoài việc sử dụng những chỉ tiêu trên đây ta phải nghiên cứu những nhân tố tác động từ đó đưa ra các giải pháp để hạn chế những tác động không tốt và phát huy thêm những tác động tích cực. Các nhân tố chủ quan xuất phát từ nội bộ doanh nghiệp.

1.4.1.1. Mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Với mục đích sản xuất kinh doanh của mình doanh nghiệp sẽ quyết định trong việc phân phối tài sản, đặc biệt là chu kỳ sản xuất kinh doanh. Sản phẩm của mỗi doanh nghiệp là khác nhau do vậy mà có những doanh nghiệp chu kỳ sản xuất dài nhưng doanh nghiệp khác chu kỳ sản xuất lại ngắn, điều đó ảnh hưởng đến việc quyêt định của doanh nghiệp trong việc sử dụng tài sản ngắn hạn. Để đi vào sản xuất thì lượng tài sản ngắn hạn cần đưa vào là bao nhiêu, mức dự trữ dành cho các chu kỳ tiếp theo như thế nào, lượng tiền mặt doanh nghiệp cần giữ cũng như kỳ thu tiền dài hay ngắn tùy thuộc vào từng doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất kinh doanh dài thì thời gian thu hồi vốn càng lâu, nên các doanh nghiệp luôn tìm cách làm cho chu kỳ kinh doanh ngắn hơn như vậy vòng quay tài sản ngắn hạn nhanh hơn. Vòng quay tài sản ngắn hạn tăng tức là việc tiêu thụ hàng hóa cũng tăng lên và như vậy doanh thu cũng tăng lên, làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp cũng tăng. Điều đó thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tăng.

1.4.1.2. Cơ sở vật chất của doanh nghiệp

Đây là nhân tố hết sức quan trọng, bởi ngoài việc nguyên vật liệu tốt thì để có được những sản phẩm tốt thì điều quan trọng là doanh nghiệp phải có những máy móc thiết bị tốt. Một doanh nghiệp có được những thiết bị tốt sẽ làm cho các khâu sản xuất trở nên dễ dang hơn. Cũng chất lượng nguyên vật liệu nhưng nếu doanh nghiệp nào được trang bị tốt, máy móc đưa vào dây chuyền sản xuất nhưng thiết bị công nghệ cao sẽ tạo ra những sản phẩm có chất lượng, đồng thời làm cho các công doạn của quá trình sản xuất diễn ra nhanh chóng hơn, ngược lại, với máy móc không tốt sẽ không tận dụng được hết gái trị của nguyên vật liệu thậm chí còn sản xuất ra những sản phẩm kém chất lượng, như vậy hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn không cao.

1.4.1.3. Trình độ nhân viên

Để việc sử dụng tà sản ngắn hạn đật hiệu quả đòi hỏi các doanh nghiệp phải có những cán bộ quản lý giỏi, công nhân viên có trình độ tay nghề cao. Người quản lý phải nắm bắt rõ tình hình hoạt động của doanh nghiệp, sau mỗi chu kỳ hoạt động phải phân tích để đánh giá xem hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn ra sao, từ đó đưa ra các kế hoạch trong những chu kỳ tiếp theo. Trong quá trình sản xuất để tận dụng hết nguyên vật liệu thì người công nhân phải có chuyên môn giỏi, đặc biệt việc sử dụng

22

máy móc thiết bị hết sức quan trọng, máy móc càng hiện đại bao nhiêu thì đòi hỏi đội ngũ sử dụng chúng phải được đào tạo có chuyên môn và kỹ thuật.

1.4.2. Nhân tố khách quan

Các nhân tố khách quan tác động tới doanh nghiệp có những lúc thúc đẩy doanh nghiệp phát triển nhưng có lúc kìm hãm sự phát triển của nó.

Sự tác động đó không thuộc tầm kiểm soát của doanh nghiệp do vậy khi gặp những nhân tố này các doanh nghiệp luôn phải tự điều chỉnh mình cho phù hợp.

1.4.2.1. Sự quản lý của nhà nước

Trong nền kinh tế tồn tại nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau, mỗi loại hình doanh nghiệp đều có đặc thù riêng của nó, nhà nước có trách nhiệm quản lý các doanh nghiệp đó để nó đi vào hoạt động theo một khuôn khổ mà nhà nước quy định. Tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều phải tuân theo pháp luật của nhà nước đưa ra.

Đảng và nhà nước ta ban hành các luật lệ, chính sách nhằm mục đích tránh sự gian lận, đảm bảo công bằng và an toàn trong xã hội. Sự thắt chặt hay nới lỏng các chính sách quản lý kinh tế đều có ảnh hưởng tới doanh nghiệp.

1.4.2.2. Sự phát triển của thị trường

Ngày nay thị trường nhân tố đầu vào, thị trường dịch vụ hàng hóa phát triển rất nhanh đặc biệt là thị trường tiền tệ có tác động lớn đến sự thất bại hay thành công của doanh nghiệp. Các ếu tố đâu vào của một dự án hay một quá trình sản xuất phần lớn được mua hay thuê trên thị trường. Thị trường yếu tố đầu vào đa dạng, phong phú sẽ giúp cho doanh nghiệp có thêm nhiều lựa chọn. Thị trường này càng cạnh tranh sẽ làm giảm giá các yếu tố đầu vào và làm giảm chi phí đầu vào cho các doanh nghiệp và ngược lại.

Thị trường tài chính là thị trường quan trọng nhất trong nền kinh tế chi phối toàn bộ hoạt động của nền kinh tế hàng hóa. Thị trường tài chính phát triển góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia. Tất cả các hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp đều giao dịch trên thị trường tài chính. Thị trường tài chính phát triển không chỉ thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp mà còn cả nền kinh tế.

1.4.2.3. Sự cạnh tranh giữ các doanh nghiệp

Để tồn tại đươ thì các doanh nghiệp luôn có sự cạnh tranh lẫn nhau. Các doanh nghiệp luôn phải tính toán làm sao đưa ra những sản phẩm mới, những chiến lược kinh doanh nhằm thu hút được nhiều khách hàng nhất. Từ đó các doanh nghiệp sẽ càng ngày càng cạnh tranh và chạy đua nhau nhằm thu hút được phần lớn khách hàng về mình.


23


1.4.2.4. Nhu cầu của khách hàng

Nhu cầu của khách hàng là nhân tố để các doanh nghiệp ra quyết định sản xuất cái gì và làm gì để đáp ứng được những nhu cầu đó. Nhu cầu của con người ngày càng cao đòi hỏi các doanh nghiệp càng phải sáng tạo cũng như nắm bắt xu hướng nhanh chóng để có thể tối đa hóa lợi nhuận.

Trên đây là các nhân tố chính tác động đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số nhân tố khác như thiên tai, dịch bệnh,… ảnh hưởng đến doanh nghiệp cần các doanh nghiệp cần chú ý.


24

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY TNHH MÁY NÔNG NGHIỆP VIỆT TRUNG

2.1. Tổng quan về công ty TNHH Máy Nông Nghiệp Việt Trung

Tên công ty : Công ty TNHH Máy Nông Nghiệp Việt Trung

Địa chỉ : KM34 QL 5A Hưng Thịnh – Bình Giang – Hải Dương Website : http://viettrungcompany.com.vn

Email : ctyvietrung@yahoo.com

Mã số thuế : 0800245513 Số điện thoại : 03203775089 Fax : 03203776666

Hình thức sở hữu : Công ty trách nhiệm hữu hạn

Vốn đăng kí : 7.000.000.000 đồng (7 tỷ đồng chẵn)

Lĩnh vực kinh doanh : công ty chuyên sản xuất, lắp ráp và kinh doanh các sản phẩm phục vụ nông - ngư – cơ.

2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển

Công Ty TNHH Máy Nông Nghiệp Việt Trung được thành lập ngày 17/08/2001 với vốn pháp định là 2.000.000.000 ( hai tỷ đồng chẵn). Tiền thân là một xưởng cơ khí nhỏ nhưng có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực sản xuất máy nông, ngư nghiệp, công ty TNHH Máy Nông Nghiệp Việt Trung đã xác định được rõ ngành nghề kinh doanh chính của mình là nhập khẩu thiết bị từ bên ngoài để lắp ráp, sản xuất và kinh doanh các động cơ cũng như các loại máy nông, ngư nghiệp trên thị trường trong và ngoài nước. Cùng với đó công ty cũng đề ra mục tiêu phát triển là một công ty phát triển vững chắc, lành mạnh, thực hiện tốt các chính sách của nhà nước giao phó để phát triển nền nông nghiệp của Việt Nam lên một tầm cao mới.

Những ngày đầu thành lập công ty chỉ có hai bộ phận là phòng kinh doanh và phân xưởng sản xuất lắp đặt với số lượng lao động ban đầu là 56 người. Thiết bị chủ yếu được nhập khẩu từ trung quốc và sản xuất, kinh doanh 2 loại sản phẩm chính là động cơ diesel và máy kéo. Tuy mới thành lập nhưng công ty cũng đã có những uy tín và tiếng tăm trên thị trường trước đó nên trong những khoảng thời gian đầy mới thành lập công ty cũng không có quá nhiều khó khăn đến với công ty. Tuy nhiên trong những năm đầu việc kinh doanh của công ty cũng có thua lỗ nhất định.

Tuy vậy với sự nỗ lực của tập thể công ty đã cố gắng đưa công ty lên tầm cao mới trở thành một công ty có tiếng và sản xuất các loại máy phục vụ nông nghiêp. Hiện nay công ty đã và đang phát triển mạnh mẽ với bốn phân xưởng với đội ngũ nhân viên công ty là 316 người, chuyên sản xuất các loại mặt hàng phục vụ sản xuất nông, ngư nghiệp trên dây chuyền bán tự động công nghệ hàng đầu của Trung Quốc đáp ứng cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Trong tương lai công ty phát triển việc sản

25


xuất máy móc của với mình với việc áp dụng các kỹ thuật công nghệ cao của các nước phát triển để đưa hàng hóa của mình có thể có lợi thế cạnh tranh lớn hơn với các sản phẩm trong và ngoài nước cũng như việc chinh phục các thị trường mới và khó tính hơn.

2.1.2. Đặc điểm tổ chức ngành nghề

Công ty TNHH Máy Nông Nghiệp Việt Trung là đơn vị hạch toán độc lập, có tư cách pháp nhân, được mở tại ngân hàng và có con dấu riêng theo quy định của nhà nước. Công ty thực hiện một số chức năng: sản xuất gia công, lắp ráp, buôn bán các linh kiện, máy móc phục vụ nông, ngư nghiệp và ôtô.

Công ty hoạt động với nhiệm vụ chính là gia công, lắp ráp các loại máy móc phục vụ nông nghiệp và ôtô. Ngoài ra công ty có nhiệm vụ tuân thủ các chính sách và pháp luật của nhà nước, làm tròn nghĩa vụ kê khai và nộp thuế đối với ngân sách nhà nước, thực hiện tốt các chính sách về lao động, đảm bảo công bằng xã hội, không ngừng đào tạo và bồi dưỡng cán bộ nhân viên trong công ty, thực hiện đúng điều lệ của công ty và đúng những cam kết trong các hợp đồng với khác hàng, làm tốt công tác bảo hộ và an toàn lao động, bảo vệ môi trường, tài sản và an ninh chung.

Hiện nay, công ty chuyên sản xuất các mặt hàng phục vụ nhu cầu sản xuất nông nghiệp như động cơ diezel, máy kéo...trên dây chuyền bán tự động công nghệ hàng đầu của trung quốc nhằm đáp ứng cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Bên cạnh đó, công ty còn sản xuất dòng xe ô tô tải trọng tải từ 980 kilogram đến 8000 kilogram với động cơ diezel đạt tiêu chuẩn Euro III mạnh mẽ, tiết kiệm nhiên liệu, tuổi thọ cao.

Công việc sản xuất của công ty được thực hiện ở 3 phân xưởng:

- Phân xưởng động cơ gồm các tổ: dây chuyền, sơn bột và chuyên sản xuất lắp ráp các loại động cơ diezel.

- Phân xưởng máy kéo gồm các tổ: hoàn thiện dàn máy, hộp số dàn cày, chuyên sản xuất và lắp ráp các loại máy kéo phục vụ sản xuất nông nghiệp.

- Phân xưởng gia công bánh đà gồm các đội tiện, nguội.

Tại các phân xưởng sản xuất, linh kiện được nhập về được lắp ráp và được xử lý sạch sẽ rồi đưa vào chạy thử, kiểm tra trước khi tới tay người tiêu dùng.

2.1.3. Bộ máy tổ chức của công ty TNHH Máy Nông Nghiệp Việt Trung

Hiện nay, các công ty hoạt động trong cùng một lĩnh vực nhưng có lại có các cách tổ chức bộ máy quản lí riêng tùy theo qui mô tổ chức và quan điểm lãnh đạo của các công ty khác nhau. Công ty TNHH Máy Nông Nghiệp Việt Trung tổ chức bộ máy quản lý theo mô hình cơ cấu trực tuyến chức năng với sự điều hành của giám đốc và các phó giám đốc nhằm thuận tiện cho việc theo dõi và cung cấp thông tin kịp thời. Đây cũng là mô hình tổ chức phổ biến tại các công ty hiện nay.

26

Download pdf, tải về file docx

Ngày đăng: 18/04/2022
Đánh giá:
4.8/5 (1 bình chọn)

Gửi tin nhắn


Đồng ý Chính sách bảo mật *

Trang chủ Tài liệu miễn phí Thư viện số
Top