Ủy thác cho vay hộ nghèo giữa ngân hàng chính sách xã hội và các tổ chức chính trị - xã hội trên địa bàn xã bằng thành, huyện pắc nặm, tỉnh Bắc Kạn - 2


- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay ủy thác từ ngân hàng chính sách xã hội thông qua hội phụ nữ trên địa bàn xã Bằng Thành, huyện Pắc Nặm, tỉnh Bắc Kạn.

- Tìm hiểu những khó khăn trở ngại và biện pháp khắp phục cho người nông dân trong địa bàn nghiên cứu.

1.3. Ý nghĩa của đề tài Nghiên cứu

1.3.1. Ý nghĩa trong khoa

- Nâng cao năng lực cũng như rèn luyện các kỹ năng cho bản thân trong quá trình tiếp cận và nghiên cứu đề tài.

- Giúp em được tiếp cận với thực tế nâng cao kiến thức, kỹ năng cho bản thân phục vụ cho công tác sau này.

- Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập xử lý thông tin của em trong quá trình nghiên cứu và phục vụ công tác sau này.

- Vận dụng và phát huy được những kiến thức đã học trên lớp trong sách vở vào thực tế trong quá trình nghiên cứu.

1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn

- Xác định được các chính sách đang thực hiện tại địa bàn và đống góp về cơ cấu thu nhập của các hoạt động kinh tế từ đó có những biện pháp phù hợp cho từng hoạt động kinh tế.

- Đề tài góp phần làm rõ hơn hiệu quả của các hoạt động chính sách mang lại cho người dân địa phương.

Có thể bạn quan tâm!

Xem toàn bộ 61 trang: Ủy thác cho vay hộ nghèo giữa ngân hàng chính sách xã hội và các tổ chức chính trị - xã hội trên địa bàn xã bằng thành, huyện pắc nặm, tỉnh Bắc Kạn

1.4. Yêu cầu của đề tài

- Tiến hành tìm hiểu điểm nghiên cứu, quan sát và thực hiện phỏng vấn để thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp về các nội dung của đề tài nghiên cứu.

- Tìm ra được các chính sách mà người dân đang thực hiên và được hưởng từ các chính sách từ nhà nước trên địa bàn nghiên cứu.

- Nêu được những thuận lợi và khó khăn, đề suất các giải pháp khắc phục.

- Tư liệu hóa được các thông tin để hoàn thành đề tài tốt nghiệp.


PHẦN 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU


2.1. Cơ sở lý luận của đề tài

2.1.1. Khái niệm ủy thác và vốn

- Ủy thác là việc giao cho cá nhân, pháp nhân bên được ủy thác, nhân danh người ủy thác để làm một việc nhất định mà người ủy thác không thể làm trực tiếp hoặc không muốn làm.

Trong luật dân sự việc ủy thác là hành vi pháp lý được thực hiện dưới hình thức văn bản - hợp đồng ủy thác, theo đó bên được ủy thác, còn gọi bên nhận làm đại lý được nhân danh và được bên ủy thác, bên giao làm đại lý trả tiền chi phí hoặc được trích trả một số tỷ lệ % tiền thu được để làm một số việc hoặc mua bán một số hàng hóa nhất định. Bên được ủy thác chỉ được làm và chỉ chịu trách nhiêm trong phạm vi được ủy thác. Nếu bên được ủy thác làm vượt khỏi phạm vi được ủy thác thì phải tự chịu trách nhiệm. Hợp đồng ủy thác phải ghi đầy đủ họ tên, địa chỉ, trục sở tài khoản nếu là pháp nhân, phạm vi, nội dung ủy thác, quyền, quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm các bên và do các người có thẩm quyền ký kết vào hợp đồng. Do vai trò quan trọng của vốn trong sự tồn tại và phát triển một doanh nghiệp nói riêng và của một nền kinh tế nói chung, từ trước tới nay, không chỉ có các chủ doanh nghiệp, những nhà quản lý quan tâm, trăn trở về nguồn huy động và cách thức sử dụng vốn mà ngay cả các nhà kinh tế, nhà lý luận đã tốn không ít giấy mực và tâm trí để đưa ra một định nghĩa, một nghiên cứu hoàn chỉnh nhất về vốn của doanh nghiệp.

Dưới giác độ các yếu tố sản xuất, Mark đã khái quát hoá vốn thành phạm trù cơ bản. Theo Mark, tư bản là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất. Định nghĩa của Mark có tầm khái quát lớn.


Tuy nhiên, do hạn chế của trình độ phát triển kinh tế lúc bấy giờ, Mark quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư.

Paul. A. Sammelson, nhà kinh tế học theo trường phái “tân cổ điển” đã thừa kế quan niệm về các yếu tố sản xuất của trường phái cổ điển và phân chia các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất ra thành ba loại chủ yếu là: Đất đai, lao động và vốn. Theo ông, vốn là các hàng hoá được sản xuất ra để phục vụ cho một quá trình sản xuất mới, là đầu vào cho hoạt động sản xuất của một doanh nghiệp: đó có thể là các máy móc, trang thiết bị, vật tư, đất đai, giá trị nhà xưởng... Trong quan niệm về vốn của mình, Sammelson không đề cập tới các tài sản tài chính, những giấy tờ có giá trị đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.

Trong cuốn kinh tế học của D. Begg, tác giả đã đưa ra hai định nghĩa vốn hiện vật và vốn tài chính của doanh nghiệp. Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá đã sản xuất ra để sản xuất các hàng hoá khác; vốn tài chính là tiền và các giấy tờ có giá của doanh nghiệp. Như vậy, D. Begg đã bổ sung vốn tài chính vào định nghĩa vốn của Sammelson.

Trong hai định nghĩa trên, các tác giả đã thống nhất nhau ở điểm chung cơ bản: vốn là một đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, trong cách định nghĩa của mình, các tác giả đã đều thống nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp.

Thực chất, vốn là biểu hiện bằng tiền, là giá trị của tài sản mà doanh nghiệp đang nắm giữ. Vốn và tài sản là hai mặt hiện vật và giá trị của môt bộ phận nguồn lực mà doanh nghiệp huy động vào quá trình sản xuất kinh doanh của mình.

Vốn biểu hiện mặt giá trị, nghĩa là vốn phải đại diện cho một loại giá trị hàng hoá, dịch vụ nhất định, một loại giá trị tài sản nhất định. Nó là kết tinh của giá trị chứ không phải là đồng tiền in ra một cách vô ý thức rồi bỏ vào đầu tư.


Trong nền kinh tế thị trường, vốn là một loại hàng hoá. Nó giống các hàng hoá khác ở chỗ có chủ sở hữu nhất định. Song nó có điểm khác vì người sở hữu có thể bán quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định. Giá của vốn (hay còn gọi là lãi suất) là cái giá phải trả về quyền sử dụng vốn. Chính nhờ sự tách dời về quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn nên vốn có thể lưu chuyển trong đầu tư kinh doanh và sinh lời.

Dưới góc độ của doanh nghiệp, vốn là một trong những điều kiện vật chất cơ bản, kết hợp với sức lao động và các yếu tố khác làm đầu vào cho quá trình sản xuất kinh doanh. Sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong một quá trình sản xuất riêng biệt, chia cắt, mà trong toàn bộ các quá trình sản xuất và tái sản xuất liên tục, suốt trong thời gian tồn tại của doanh nghiệp, từ khi bắt đầu quá trình sản xuất đầu tiên cho tới chu kỳ sản xuất cuối cùng.

Tóm lại, vốn là một phạm trù được xem xét, đánh giá theo nhiều quan niệm, với nhiều mục đích khác nhau. Do đó, khó có thể đưa ra một định nghĩa về vốn thoả mãn tất cả các yêu cầu, các quan niệm đa dạng. Song hiểu một cách khái quát, ta có thể coi:

Vốn kinh doanh là toàn bộ những giá trị ứng ra ban đầu hay các giá trị tích luỹ được cho các quá trình sản xuất tiếp theo của doanh nghiệp [2].

2.1.2. Vai trò của việc ủy thác cho vay hộ nghèo giữa ngân hàng chính sách xã hội và các tổ chức chính trị xã hội trên địa bàn xã

Thông qua ủy thác của tổ chức chính trị - xã hội, hội liên hiệp phụ nữ, hoạt động của các tổ TK&VV đã tác động tích cực đến nhận thức của người nghèo và các đối tượng chính sách khác, giúp họ vươn lên, tạo được tính cộng đồng, có sự tương trợ lẫn nhau giữa các thành viên trong tổ. Đồng thời, các tổ TK&VV còn là kênh dẫn vốn trực tiếp, hiệu quả đến tận cơ sở, giúp NHCSXH chuyển tải nguồn vốn ưu đãi đến đúng đối tượng thụ hưởng và thực hiện một số công việc được NHCSXH ủy nhiệm, như: Họp bình xét cho


vay; giám sát việc sử dụng vốn vay; theo dõi, đôn đốc người vay trả nợ khi đến hạn; tuyên truyền, vận động tổ viên tham gia gửi tiền tiết kiệm, nhằm tạo thói quen tiết kiệm tích lũy trả dần nợ gốc; thực hiện thu lãi, thu tiết kiệm theo định kỳ hàng tháng; phối hợp xử lý nợ tồn đọng, nợ rủi ro... hiệu quả.

Tính đến ngày 4-2-2019 trên địa bàn xã có 17 tổ TK&VV từ NHCSXH đang hoạt động. Chi nhánh NHCSXH có tổng dư nợ đạt 22.657.900.000 tỷ đồng, trong đó dư nợ ủy thác đạt 22.657.900.000 tỷ đồng, chiếm 100% tổng dư nợ.

Việc các tổ TK&VV hoạt động hiệu quả thông qua ủy thác của tổ chức chính trị - xã hội đã góp phần giải ngân kịp thời các chương trình tín dụng chính sách. Qua đó, đã hỗ trợ vốn đầu tư sản xuất, kinh doanh cho hàng trăm nghìn lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. Năm 2018, vốn tín dụng chính sách giúp 709 hộ nghèo, hộ vừa mới thoát nghèo, hộ cận nghèo được vay vốn ưu đãi đầu tư sản xuất, kinh doanh hiệu quả; gần 50 lượt học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn vay vốn học tập; xây dựng và sửa chữa 5 nghìn công trình nước sạch, vệ sinh; xây dựng và sửa chữa 3 căn nhà ở cho hộ nghèo...; góp phần tích cực thực hiện mục tiêu giảm nghèo, tạo việc làm, phát triển nguồn nhân lực và bảo đảm an sinh xã hội, ổn định an ninh - chính trị, xây dựng nông thôn mới trong toàn tỉnh.

Phát huy kết quả đạt được, để hoạt động của các tổ TK&VV ngày càng đi vào nền nếp, đóng góp hiệu quả hơn cho hoạt động tín dụng chính sách, thời gian tới NHCSXH Bắc Kạn tiếp tục chỉ đạo phòng giao dịch các huyện phối hợp ban đại diện - hội đồng quản trị các cấp và các hội, đoàn thể nhận ủy thác phát huy vai trò tham mưu, đồng thời thường xuyên tổ chức kiểm tra để củng cố, kiện toàn kịp thời đối với các tổ TK&VV hoạt động không hiệu quả. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền, hướng dẫn, tạo điều kiện cho các hộ vay vốn biết cách làm ăn, thực hiện việc trả nợ đúng kỳ hạn. Tăng cường tuyên


truyền người dân thực hiện tiết kiệm, tổ chức sản xuất hiệu quả tích lũy vốn để tái đầu tư sản xuất, góp phần nâng cao đời sống cho người dân và hạn chế việc cho vay nặng lãi ở khu vực nông thôn. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng tổ chức tập huấn cho đội ngũ cán bộ hội, tổ trưởng tổ TK&VV để nâng cao vai trò, trách nhiệm trong việc nhận ủy thác, thực hiện nhiệm vụ trong hoạt động tín dụng chính sách.

2.1.3. Vai trò của việc ủy thác cho vay hộ nghèo giữa ngân hàng chính sách đến quá trình phát triển kinh tế hộ trên địa bàn xã

.

Sau hơn 20 năm đi vào hoạt động, Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội xã đã 1

Sau hơn 20 năm đi vào hoạt động, Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội xã đã phát huy được vai trò của tín dụng chính sách trong việc thực hiện các chương trình, mục tiêu xóa đói giảm nghèo và tạo việc làm cho người lao động trên địa bàn xã.

Đây là kết quả của sự phối hợp đồng bộ

giữa các hội đoàn thể với hoạt động chuyên môn của Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội.

Với đặc thù là ngân hàng chính sách, thực hiện các nghiệp vụ tín dụng cho các đối tượng xã hội, do vậy cơ cấu nguồn vốn hoạt động của Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) xã gồm: Vốn cho vay giải quyết việc làm, vốn cho hộ nghèo vay theo quy định chuẩn hộ nghèo Quốc gia (thời điểm hiện nay có thu nhập bình quân 260.000 đồng/người/tháng) và chuẩn hộ nghèo của tỉnh (có thu nhập bình quân 400.000 đồng/người/tháng ở khu vực đô thị và 300.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn), vốn cho vay xuất khẩu lao động, vốn hỗ trợ cho học sinh - sinh viên.

Để nguồn vốn tín dụng đến với người có nhu cầu vay vốn được thuận tiện, nhanh chóng, Chi nhánh đã tổ chức 17 tổ TK&VV giao dịch trong toàn


xã. Các điểm giao dịch có khoảng cách 3km trở lên. Tại các điểm giao dịch, đều niêm yết công khai các văn bản thông báo những điều cần biết về NHCSXH, thủ tục và quy trình cho vay các nguồn vốn của NHCSXH.

Cùng chung niềm vui như chị Ngoảng, nhiều hộ nghèo ở xã Bằng Thành đã vươn lên từ đồng vốn của NHCSXH huyện Pác Nặm. Vốn tín dụng của Ngân hàng CSXH đã giúp nhiều hộ nghèo có điều kiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đưa giống mới và áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chăn nuôi, tạo thêm nhiều sản phẩm cung ứng cho thị trường, từng bước tiếp cận phương thức sản xuất hàng hoá, thay đổi tập quán canh tác cũ để nhanh chóng thoát nghèo và vươn lên làm giàu.

Gia đình chị Sằm Mùi Liều ở thôn Khuổi Khí, xã Bằng Thành cũng đã thoát nghèo nhờ được vay vốn phát triển kinh tế từ NHCSXS huyện. Những năm trước đây, kinh tế gia đình chị Liều rất khó khăn, đời sống không ổn định vì thiếu đất canh tác, thiếu vốn sản xuất. Sản xuất nông nghiệp vẫn theo phong tục tập quán lạc hậu của đồng bào xưa đó là, dựa vào phát nương làm rẫy, trồng cây ngô, sắn. Do đó, gia đình thường xuyên thiếu đói từ 2 đến 3 tháng vào thời điểm giáp hạt.

Được sự quan tâm của chính quyền địa phương các cấp, gia đình chị được vay vốn năm triệu đồng từ Ngân hàng CSXH để phát triển kinh tế. Từ tiền được vay, cộng thêm vốn tự có của gia đình, chị đã quyết định đầu tư nuôi bò sinh sản. Sau nhiều năm tích cực phát triển kinh tế, đến nay cuộc sống gia đình chị Liều đã có những thay đổi rõ rệt, với đàn bò gần chục con, lợn thịt 8 con, khai hoang được hơn 5000m2 ruộng trồng lúa, ngô… Hàng năm, thu nhập từ việc bán các sản phẩm do mình làm ra, thu về cho gia đình gần 50 triệu đồng.

Chị Liều không khỏi xúc động khi tâm sự cùng chúng tôi: Gia đình tôi vui lắm, nhờ ơn Đảng và Nhà nước, đặc biệt là NHCSXH huyện đã tạo điều


kiện cho những hộ dân nghèo như chúng tôi được vay vốn để phát triển kinh tế xoá đói, giảm nghèo từng bước vươn lên làm giàu bằng chính sức lao động của mình. Từ năm 2007 trở lại đây, gia đình tôi năm nào cũng được đón Tết cổ truyền một cách ấm cúng, đầy đủ và sung túc vì kinh tế gia đình ổn định nhờ đồng vốn vay của Nhà nước.

Từ khi có nguồn vốn cho vay hộ nghèo của NHCSXH kết hợp với các chương trình khuyến nông, khuyến công, chuyển giao khoa học kỹ thuật, đời sống của các hộ nghèo có nhiều chuyển biến rõ rệt. Từ những phương thức sản xuất lạc hậu, mang tính tự cung tự cấp dựa nhiều vào tự nhiên là chủ yếu, đến nay nhiều hộ nghèo của huyện Pác Nặm đã biết đầu tư nuôi lợn, nuôi bò, trồng ngô… áp dụng theo những tiến bộ khoa học nhằm phát huy hiệu quả kinh tế cao, tạo nguồn thu nhập đáng kể.

Hình 2.1. Hộ nghèo đến vay vốn tại NHCSXH huyện Pác Nặm Theo ông Lưu Thông 2


Hình 2.1. Hộ nghèo đến vay vốn tại NHCSXH huyện Pác Nặm

Theo ông Lưu Thông Hiểu, Giám đốc NHCSXH huyện thì thiếu vốn để sản xuất, được coi như một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến đói nghèo. Chính vì vậy, ngân hàng CSXH huyện luôn nỗ lực để đồng vốn đến


được với các hộ nghèo. Năm 2018, Ngân hàng đã cho 2.537 hộ nghèo vay vốn, với tổng dư nợ gần 72 tỷ đồng, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo của huyện xuống còn 52,08%. Trong năm 2019, ngân hàng sẽ tiếp tục tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận với kênh tín dụng ưu đãi của Nhà nước, mở rộng mạng lưới giao dịch, đồng thời chủ động huy động các nguồn vốn từ ngân sách Trung ương và địa phương để bổ sung nguồn vốn cho vay hộ nghèo, nỗ lực cùng các cấp, các ngành thực hiện thắng lợi mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 50%, theo đúng tinh thần Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ nhất đã đề ra.

2.1.4. Vai trò của việc ủy thác cho vay hộ nghèo giữa ngân hàng chính sách đến sản xuất Nông nghiệp trên địa bàn xã

Những năm qua, vốn vay ưu đãi của Ngân hàng Chính sách Xã hội đã tạo đà cho nhiều hộ nghèo trên địa bàn xã đã vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống, trở thành điểm tựa vững chắc cho người nghèo tại địa phương.

Cách đây vài năm, gia đình anh Hoàng Văn Pá ở Bản Mạn, là một trong những hộ nghèo nhất nhì thôn. Mặc dù, nhà cũng có ruộng vườn, nhưng do thiếu vốn, gia đình anh cứ mãi sống trong vòng luẩn quẩn nghèo khó. Cuộc sống của gia đình anh Pá chỉ thực sự thay đổi khi anh quyết định vay 50 triệu đồng từ Ngân hàng Chính sách Xã hội để mua 1 cặp trâu sinh sản về nuôi… Trong quá trình chăm sóc trâu, anh Pá đã được cán bộ chuyên môn của huyện, xã thường xuyên đến hướng dẫn kỹ thuật, nhờ đó trâu của gia đình anh lớn nhanh, không mắc dịch bệnh. Sau khi trâu lớn, được giá, gia đình đã bán đi để lấy vốn phát triển thêm chuồng trại nuôi lợn, gà… Nhờ đó, đến nay, gia đình anh đã trả được hết số nợ và thoát được diện hộ nghèo, cuộc sống dần ổn định.

Không riêng gia đình anh Pá, hàng trăm hộ gia đình khác ở xã đã vươn lên thoát nghèo nhờ vay vốn chính sách để phát triển sản xuất. Từ nguồn vốn


vay, cùng với sự định hướng, giúp sức của chính quyền, nhiều mô hình kinh tế đã được hình thành phát huy hiệu quả trong việc sử dụng vốn vay như nuôi trâu, bò, dê ở các thôn, Khuổi Mạn, Bản Mạn, Lủng Mít…; trồng cây ăn quả ở thôn Khuổi Khí, Pắc Nặm…

Để chuyển tải nguồn vốn tín dụng ưu đãi đúng đối tượng thụ hưởng, đồng thời nâng cao chất lượng tín dụng, hỗ trợ tối đa cho đối tượng thụ hưởng, Ngân hàng Chính sách Xã hội xã đã phối hợp chặt chẽ với các tổ trưởng tổ vay vốn các thôn như: Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn thành niên, Hội Cựu chiến binh… xây dựng hợp đồng ủy thác, triển khai rà soát, xác định đối tượng để cho vay vốn. Từ đó đã hình thành mạng lưới tổ tiết kiệm và vay vốn trên địa bàn từng thôn, bản đưa vốn vay ưu đãi của chính phủ đến đúng đối tượng, tạo điều kiện cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác được tiếp cận dễ dàng vốn vay. Đến nay, mạng lưới hoạt động đã hình thành 17 tổ tiết kiệm và vay vốn tại xã.

Không chỉ đơn thuần là giải ngân cho vay, thu nợ, để đồng hành cùng người dân, Ngân hàng chính sách xã hội huyện còn xây dựng chương trình phát huy vốn vay bằng cách phối hợp chặt chẽ với Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các tổ chức, đoàn thể, tham gia tư vấn, phổ biến, hướng dẫn các hộ vay vốn áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh, tìm mô hình làm ăn phù hợp để bà con học tập, áp dụng. Từ đó, hiệu quả nguồn vốn vay được phát huy, nâng cao thu nhập, tạo thêm việc làm cho người dân, đồng vốn sau khi giải ngân được sử dụng đúng mục đích. Bên cạnh đó, để đảm bảo nguồn vốn, đáp ứng nhu cầu vay của các đối tượng thụ hưởng theo đúng cơ chế chính sách, Ngân hàng chính sách xã hội huyện còn chú trọng đến công tác huy động vốn tại địa phương. Để huy động vốn hiệu quả trong điều kiện lãi suất gửi tiết kiệm thấp hơn các ngân hàng thương mại, Ngân hàng chính sách xã hội huyện đã bám sát cơ sở, đổi mới tác phong giao


tiếp, nâng cao chất lượng phục vụ và làm tốt công tác tuyên truyền. Vì thế, công tác thu hút nguồn vốn cũng đã đạt được nhiều kết quả tích cực.

Bằng các giải pháp hiệu quả và thiết thực, nguồn vốn vay ưu đãi của Ngân hàng chính sách xã hội đã được người dân đầu tư đúng hướng, góp phần giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động nông thôn, giúp nhiều hộ nghèo vươn lên thoát nghèo bền vững. Thông qua vay vốn Ngân hàng Chính sách Xã hội, người dân từng bước được làm quen với tín dụng ngân hàng, có ý thức vươn lên thoát nghèo, góp phần quan trọng vào công cuộc giảm nghèo, an sinh xã hội của địa phương.

2.1.5. Các nguồn vốn

Vốn trong nông nghiệp được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau:

(1) Vốn tích lũy từ bản thân khu vực nông nghiệp: Là vốn tự do, do nông dân tiết kiệm được và sử dụng đầu tư vào tái sản xuất mở rộng. Mức độ tích lũy vốn thường được đánh giá bởi tỷ lệ tiết kiệm so với thu nhập hoặc tỷ lệ tiết kiệm so với GDP.

(2) Vốn đầu tư của ngân sách: là vốn đầu tư cho nông nghiệp từ nguồn ngân sách của nhà nước. Vốn này được dùng vào khai hoang và xây dựng vùng kinh tế mới, nông trường quốc doanh, trạm, trại kỹ thuật nông nghiệp, thủy lợi, nghiên cứu khoa học, chương trình giải quyết việc làm ở nông thôn.

(3) Vốn từ tín dụng nông thôn: Là vốn đầu tư cho nông nghiệp của nông hộ, trang trại và các doanh nghiệp nông nghiệp vay từ hệ thống định chế tài chính tài chính nông thôn thuộc khu vực chính thức và không chính thức.

Định chế thuộc khu vực chính thức là những tổ chức kinh doanh tiền tệ đăng ký hoạt động theo pháp luật của nhà nước, chịu trách nhiệm nộp các khoản thuế quy định cho nhà nước. Ở Việt Nam, hệ thống định chế này bao gồm: Ngân hàng phát triển nông nghiệp và nông thôn, Ngân hàng chính sách,


Ngân hàng công thương, HTX tín dụng nông nghiệp và Ngân hàng thương mại tư nhân.

Định chế thuộc khu vực không chính thức là những tổ chức kinh doanh tiền tệ nhưng không đăng ký theo pháp luật của nhà nước hoặc có đăng ký nhưng không đủ chức năng thật sự như một định chế chính thức (không nộp thuế). Hệ thống này bao gồm: người cho vay chuyên nghiệp ở nông thôn, bạn bè – bà con cho vay lẫn nhau (có lãi suất hoặc không có lãi suất), các tổ chức đoàn thể quần chúng làm dịch vụ tài chính như Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội nông dân...

(4) Nguồn vốn nước ngoài: Bao gồm 2 nguồn chủ yếu sau:

+ Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (Foreign IndirectINVESTMENT FII): nguồn vốn của nước ngoài đầu tư vào Việt Nam với hình thức viện trợ và cho vay ưu đãi. Nguồn vốn này được các tổ chức tài chính – tiền tệ thế giới và chính phủ các nước giúp đỡ Việt Nam dưới hình thức vay với thời kỳ dài và lãi suất thấp hoặc bằng 0, nhằm sử dụng đầu tư cho một số chương trình như dự án khôi phục nông nghiệp Việt Nam, bảo vệ rừng, cơ sở hạ tầng nông

thôn, chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

+ Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment FDI) [3].

2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài

2.2.1. Thực trạng sử dụng vốn của nông dân nước ta hiện nay

Trong 20 năm qua, vốn tín dụng chính sách đã được đầu tư đến 100% xã, phường, thị trấn trên cả nước; trong đó, tập trung ưu tiên cho vay các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới...

Cụ thể, đến nay đã có trên 31,8 triệu lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách được vay vốn từ NHCSXH, với doanh số cho vay đạt 433.245 tỷ đồng, doanh số thu nợ đạt 272.336 tỷ đồng; Góp phần giúp trên 4,5 triệu hộ

Download pdf, tải về file docx

Ngày đăng: 18/04/2022
Đánh giá:
4.3/5 (1 bình chọn)

Gửi tin nhắn


Đồng ý Chính sách bảo mật *

Trang chủ Tài liệu miễn phí Thư viện số
Top