ảnh hưởng của ph đến tai trong bùn hoạt tính - 6

- Ở tải trọng thấp là 0,3; 0,5; 1,0; 1,5 kg COD/m3.ngày, MLSS giảm dần sau khi đã ổn định. Ngược lại, ở những tải trọng cao là 2,0; 4,0; 6,0 kg COD/m3.ngày, MLSS tăng sau khi bùn đã ổn định. Điều này giải thích như sau:

- Ở tải trọng thấp, ở những ngày trước khi bùn ổn định, lượng chất hữu cơ, thức ăn chủ yếu của vi sinh vật, lớn hơn nhiều so với nhu cầu của chúng vì lượng vi sinh lúc này còn ít và chưa thích nghi. Do đó MLSS tăng. Khi bùn đã ổn định, lượng vi sinh phát triển mạnh mẽ và cần nhiều chất hữu cơ để tăng sinh khối nhưng hàm lượng chất hữu cơ bỏ vào vẫn không thay đổi. Lúc này, lượng chất hữu cơ cung cấp không đủ cho nhu cầu tồn tại của vi sinh vì chúng đã phát triển quá nhiều về số lượng. Do phải cạnh tranh thức ăn với nhau và bị đói nên phần lớn vi sinh phải phân hủy nội bào, dẫn đến lượng sinh khối giảm. Vì vậy MLSS giảm.

- Ở tải trọng cao lượng chất hữu cơ cung cấp vẫn đủ thậm chí nhiều hơn nhu cầu của vi sinh vật. Rõ ràng, vi sinh ở những mẫu tải trọng cao không bị thiếu thốn thức ăn hoặc có nhưng không đáng kể như ở các mẫu tải trọng thấp. Vì vậy, MLSS tăng.

Bảng 4.13 Kết quả trung bình ổn định của thí nghiệm thay đổi tải trọng đối với nước thải chế biến men thực phẩm

Tải trọng,

kgCOD/m3.ngày

COD

Độ đục

SVI

MLSS

pH

0.3

68

26

64

2100

7.16

0.5

95

32

67

2600

7.03

1.0

178

52

91

2750

7.05

1.5

222

75

95

2850

7.03

2.0

453

97

133

4200

6.69

4,0

2107

136

157

7895

6

6,0

3557

194

172

8520

6.25

Có thể bạn quan tâm!

Xem toàn bộ 59 trang: ảnh hưởng của ph đến tai trong bùn hoạt tính

ảnh hưởng của ph đến tai trong bùn hoạt tính - 6

4000

250

3500

200

3000

2500

150

2000

1500

100

COD đầu ra trung bình ổn định

Độ đục đầu ra trung bình

ổn định

1000

50

500

0

0

0,3 0,5 1,0 1,5 2,0 4,0 6,0

Tải trọng (kg COD/m3.ngày)

COD đầu ra trung bình ổn định (mg/l)

Độ đục đầu ra trung bình ổn định (FAU)

Hình 4.18 COD đầu ra và độ đục đầu ra trung bình của thí nghiệm thay đổi tải trọng đối với nước thải chế biến men thực phẩm

tăng.

Nhận xét

- Khi tăng tải trọng, độ đục của nước thải đầu ra tăng và COD đầu ra cũng

- Điều này giải thích dựa vào mối liên hệ giữa độ đục với tổng chất rắn lơ

lửng (TSS) trong nước thải: độ đục càng cao nghĩa là TSS trong nước thải càng nhiều. Điều này chứng tỏ nước thải đầu ra chứa càng nhiều các hợp chất hữu cơ lơ lửng, chất keo và các hợp chất tạo màu. Đó là lý tại sao COD tăng khi tải trọng tăng.

200

9000

180

8000

160

7000

140

6000

120

5000

100

4000

SVI trung bình ổn định MLSS trung bình ổn định

80

60

3000

40

2000

20

1000

0

0

0,3 0,5 1,0 1,5 2,0 4,0 6,0

Tải trọng (kg COD/m3.ngày)

SVI trung bình ổn định (ml/g.SS)

MLSS trung bình ổn định (mg/l)

Hình 4.19 SVI và MLSS trung bình ổn định của thí nghiệm thay đổi tải trọng đối với nước thải chế biến men thực phẩm

Kết luận

- Khi tăng tải trọng, SVI tăng lên và độ đục cũng tăng lên.

- Giải thích: khi tăng tải trọng hiện tượng quá tải xảy ra làm cho bùn lắng kém và nén kém dẫn đến SVI tăng cao. Bùn lắng kém và nén kém có nghĩa là phần nước trong sẽ bị đục. Điều này cũng khớp với số liệu độ đục tăng lên.

- Xét chỉ tiêu COD, ta thấy 4 tải trọng nhỏ là 0,3; 0,5; 1,0; 1,5 kg COD/m3.ngày có COD khá nhỏ và hiệu quả xử lý COD khá cao, trong đó tải trọng 1,5 kg COD/m3.ngày có hiệu quả xử lý cao nhất.

- 3 mẫu tải trọng cao là 2,0; 4,0; 6,0 kg COD/m3.ngày có hiện tượng quá tải xảy ra vì COD đầu ra cao (> 600), hiệu quả xử lý COD không cao, SVI cao và độ đục cao. Như vậy không thể chọn 3 tải trọng này.

- Trong 4 mẫu tải trọng nhỏ, mẫu 1,5 kg COD/m3.ngày có hiệu quả xử lý

COD cao nhất, SVI nằm trong khoảng tối ưu và độ đục đầu ra chấp nhận được. Xét về

mặt kinh tế thì mẫu 1,5 kg COD/m3.ngày có lợi nhất mặc dù COD đầu ra của mẫu tải

trọng này vẫn còn khá cao.

4.3. KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM THAY ĐỔI PH ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI CHẾ

BIẾN MEN THỰC PHẨM

Bảng 4.14 COD đầu ra của thí nghiệm thay đổi pH (pH = 4 – 11) đối với nước thải

chế biến men thực phẩm

pH

Ngày 8

Ngày 11

Ngày 15

Ngày 16

Ngày 17

4

652

524

538

675

727

6.5 – 7.5

367

320

367

407

396

8.5

307

395

358

538

542

10

392

480

473

520

611

11

706

582

659

668

743

800

700

600

500

400

300

pH = 4

pH = 6.5 – 7.5

pH = 8.5

pH = 10

pH = 11

200

100

0

8 9 10 11 12 13 14 15 16 17

Thời gian (ngày)

COD đầu ra (mg/l)

Bảng 4.15 COD đầu ra của mô hình pH = 12

pH

Ngày 1

Ngày 2

Ngày 3

12

1164

2965

2993

Hình 4.20 COD đầu ra khi pH đầu vào thay đổi từ 4 – 11

3500

3000

2500

2000

1500

1000

500

0

pH = 12

1

2

Thời gian (ngày)

3

COD đầu ra (mg/l)

Hình 4.21 COD đầu ra của mô hình pH = 12

Nhận xét

- Sau xử lý, ở mô hình pH = 6.5 – 7.5, COD đầu ra thấp nhất (396 mg/l).

- Sau xử lý, ở pH = 8.5 và pH = 10, COD đầu ra (lần lượt là 542 và 611 mg/l)

cao hơn hẳn so với mẫu pH = 6.5 – 7.5.

- Sau xử lý, ở mô hình pH = 4, pH = 11 có COD đầu ra rất cao (lần lượt là 727 và 743 mg/l).

- Ở mô hình pH = 12, mô hình vận hành được 3 ngày phải dừng lại do COD đầu ra tăng đáng kể (2993 mg/l).

- Như vậy, pH càng xa khoảng tối ưu là 6.5 – 7.5 thì COD đầu ra càng cao

Bảng 4.16 COD đầu vào và COD đầu ra trung bình ổn định của nước thải chế biến

men thực phẩm

pH

COD đầu vào

COD ra trung bình

ổn định

Hiệu quả xứ lý

COD (%)

4

2000

701

65

6.5 – 7.5

2000

402

80

8.5

2000

540

73

10

2000

566

72

11

2000

706

65

90

80

70

60

50

40

30

20

10

0

Hiệu quả khử COD

4 6.5-7.5 8.5 10 11

pH đầu vào

%

Hình 4.22 Hiệu quả xử lý COD của thí nghiệm thay đổi pH đối với nước thải chế biến

men thực phẩm

Nhận xét

- Hiệu quả xử lý COD của mẫu pH = 6.5 – 7.5 là cao nhất (80%).

- Hiệu quả xử lý COD của mẫu pH = 4 bằng hiệu quả xử lý COD của mẫu

pH = 11 và thấp nhất (65%).

- pH quá cao sẽ hạn chế sự phát triển của các loài vi khuẩn vì pH cao sẽ có tác dụng khử trùng. Lúc này, màng tế bào vi sinh vật bị hòa tan, tế bào bị chết nhiều. Khi vừa nâng pH lên đến 11, bùn sẽ bị nhớt và có hiện tượng nổi bọt/váng. Hiện tượng nổi bọt/váng là do các chất hoạt động bề mặt không phân hủy được. Khi pH được nâng lên 12, cấu trúc bông bùn bị phá hủy, thí nghiệm bị ngừng lại. Điều này chứng tỏ bùn phát triển không tốt ở pH quá cao vì hiệu quả xử lý COD thấp.

- Ở pH quá thấp, khi quan sát bằng mắt thấy có hiện tượng bùn phát triển phân tán làm bùn trở nên lắng kém, nén kém. Vì vậy hiệu quả xử lý COD thấp.

Bảng 4.17 Độ đục đầu ra của thí nghiệm thay đổi pH đối với nước thải chế biến

men thực phẩm

pH

Ngày 8

Ngày 11

Ngày 15

Ngày 16

Ngày 17

4

137

125

119

120

126

6.5 – 7.5

65

56

49

42

40

8.5

71

62

81

70

75

10

89

101

93

110

115

11

105

117

139

142

149

160

140

120

100

80

60

pH = 4

pH = 6.5 – 7.5

pH = 8.5

pH = 10

pH = 11

40

20

0

8 9 10 11 12 13 14 15 16 17

Thời gian (ngày)

Độ đục đầu ra (FAU)

Bảng 4.18 Độ đục đầu ra của mô hình pH = 12

pH

Ngày 1

Ngày 2

Ngày 3

12

320

430

484

Hình 4.23 Độ đục đầu ra khi pH đầu vào thay đổi từ 4 – 11

600

500

400

300

200

100

0

pH = 12

1

2

Thời gian (ngày)

3

Độ đục đầu ra (FAU)

Hình 4.24 Độ đục đầu ra của mô hình pH = 12

Nhận xét

- Độ đục đầu ra của mẫu pH = 6.5 – 7.5 thấp nhất (40 FAU)

- Ở pH = 12, độ đục cao nhất (484 FAU) và ngày càng tăng cao do cấu trúc bông bùn bị phá hủy dẫn đến có quá nhiều vi sinh vật lơ lửng nằm trong nước thải đầu ra. Điều này chứng tỏ hệ vi sinh không thích nghi được với pH = 12.

Bảng 4.19 SVI đầu ra của thí nghiệm thay đổi pH đối với nước thải chế biến thực

phẩm

pH

Ngày 8

Ngày 11

Ngày 15

Ngày 16

Ngày 17

4

43

54

59

51

55

6.5 – 7.5

70

67

71

80

82

8.5

67

68

65

68

71

10

80

72

61

67

66

11

89

85

79

66

63

Bảng 4.20 SVI đầu ra của mô hình pH = 12

pH

Ngày 1

Ngày 2

Ngày 3

12

38

40

37

pH = 4

pH = 6.5 – 7.5

pH = 8.5

pH = 10

pH = 11

100

90

80

70

60

50

40

30

20

10

0

8 9 10 11 12 13 14 15 16 17

Thời gian (ngày)

SVI (ml/g.SS)

SVI (ml/g.SS)

Hình 4.25 Biến thiên SVI khi pH đầu vào thay đổi từ 4 - 11

pH = 12

45

40

35

30

25

20

1

2

Thời gian (ngày)

3

Hình 4.26 SVI của mô hình pH = 12

Nhận xét

- Nhìn chung, SVI của tất cả các mẫu đều nhỏ hơn 100 ml/g.SS.

- SVI của mẫu pH = 4 thấp (55 ml/g.SS) là do có hiện tượng bùn phát triển phân tán ở pH này làm cho bùn nén kém dần.

- Mô hình pH = 6.5 – 7.5 bùn có màu nâm sẫm chứng tỏ hệ vi sinh trong bùn sinh trưởng và phát triển tốt. Vì vậy SVI của mô hình (85 ml/g.SS) này nằm trong khoảng tối ưu (70 – 120), bùn lắng tốt.

- SVI ở mô hình pH = 12 quá nhỏ (37 ml/g.SS), bùn rời rạc, không kết dính được với nhau.

Bảng 4.21 Biến thiên MLSS của thí nghiệm thay đổi pH đối với nước thải chế biến

thực phẩm

pH

Ngày 8

Ngày 11

Ngày 15

Ngày 16

Ngày 17

4

5320

3940

2920

2120

1900

6.5 – 7.5

5420

6500

6100

6600

6680

8.5

6960

6160

5880

6080

5925

10

6120

4840

5640

5798

5694

11

3360

3280

2950

2820

2790

Bảng 4.22 Biến thiên MLSS của mô hình pH = 12 đối với nước thải chế biến men

8000

7000

6000

5000

4000

3000

pH = 4

pH = 6.5 – 7.5

pH = 8.5

pH = 10

pH = 11

2000

1000

0

8 9 10 11 12 13 14 15 16 17

Thời gian (ngày)

MLSS (mg/l)

thực phẩm

pH

Ngày 1

Ngày 2

Ngày 3

12

2560

1210

1100

MLSS (mg/l)

Hình 4.27 Biến thiên MLSS khi pH đầu vào thay đổi

3000

2500

2000

1500

1000

500

0

pH = 12

1

2

Thời gian (ngày)

3

Hình 4.28 MLSS của mô hình pH = 12

Nhận xét

- MLSS của mẫu pH = 6.5 – 7.5 cao nhất (6680 mg/l). Thêm vào đó, COD đầu ra cũng như độ đục thấp, SVI nằm trong khoảng tối ưu (70 – 120 ml/g.SS). Như vậy số liệu MLSS cao nhất chứng tỏ hệ vi sinh trong mẫu này hoạt động rất mạnh.

- MLSS của 3 mẫu pH = 4, pH = 11 và pH = 12 rất thấp (1900, 2790 và 1100 mg/l). Hệ vi sinh trong bùn không thích nghi được ở pH = 12 quá cao nên MLSS giảm đáng kể. Khi quan sát bằng mắt ta thấy bông bùn ở mô hình pH = 12 phát triển phân tán, nhiều bông bùn li ti lơ lửng trong nước. Vì vậy, sau mỗi ngày thay nước, lượng vi sinh vật dễ bị trôi ra theo nước thải.

- MLSS của 2 mẫu pH = 8.5 và pH = 10 nhỏ hơn mẫu 6.5 – 7.5 (5925 và 5694 mg/l).

- Như vậy, pH càng xa khoảng tối ưu thì MLSS càng thấp. Hay nói cách

khác, pH càng xa khoảng tối ưu thì hoạt động của vi sinh càng kém.

Bảng 4.23 Biến thiên pH đầu ra của thí nghiệm thay đổi pH đối với nước thải chế

biến men thực phẩm

pH

Ngày 8

Ngày 11

Ngày 15

Ngày 16

Ngày 17

4

4.06

3.41

3.62

3.74

3.72

6.5 – 7.5

7.23

6.91

7.07

7.1

6.94

8.5

8.21

8.29

8.11

8.41

8.32

10

8.11

8.5

8.47

8.58

8.43

11

8.61

8.69

8.98

9.12

8.98

10

9

8

7

6

5

4

3

2

1

0

pH = 4

pH = 6.5 – 7.5

pH = 8.5

pH = 10

pH = 11

8 9 10 11 12 13 14 15 16 17

Thời gian (ngày)

pH đầu ra

Hình 4.29 pH đầu ra khi pH đầu vào thay đổi

Nhận xét

Ở mô hình pH = 10 và pH = 11, pH đầu ra giảm so với đầu vào vì độ kiềm

giảm theo 2 phản ứng sau:

Chất hữu cơ + O2 ( có sự tham giam của vi sinh vật) HCO3- + H2O HCO3- + OH- CO32- + H2O

Bảng 4.24 Kết quả trung bình ổn định của thí nghiệm thay đổi pH đối với nước thải

chế biến thực phẩm

pH

COD

Độ đục

SVI

MLSS

pH

4

701

120

55

2010

3.73

6.5 – 7.5

402

41

78

6640

7.02

8.5

540

73

68

6003

8.37

10

566

113

64

5746

8.53

11

706

141

63

2885

9.05

100

80

60

40

20

0

SVI trung bình

ổn định

4 6.5 - 7.5 8.5 10 11

pH đầu vào

SVI (ml/g.SS)

Hình 4.30 SVI trung bình ổn định của thí nghiệm thay đổi pH đối với nước thải chế

MLSS trung bình ổn định (mg/l)

COD đầu ra trung bình ổn định (mg/l)

biến men thực phẩm

7000

800

6000

700

5000 600

500

4000

400

3000

300

2000 200

MLSS trung bình ổn định

1000

100

0

0

4

6.5 - 7.5

8.5 10 11

COD đầu ra trung bình ổn định

pH đầu vào

Hình 4.31 MLSS và COD đầu ra trung bình ổn định của thí nghiệm thay đổi pH đối

với nước thải chế biến men thực phẩm

800

160

700

140

600

120

500

100

400

80

300

60

200

100

40

20

0

0

4 6.5 - 7.5 8.5 10 11

pH đầu vào

COD đầu ra trung bình ổn định

Độ đục đầu ra trung bình ổn định

10

9

8

7

6

5

4

3

2

1

0

pH đầu ra trung bình ổn định

4 6.5 - 7.5 8.5 10 11

pH đầu vào

COD đầu ra trung bình ổn định (mg/l)

pH đầu ra trung bình ổn định

Độ đục đầu ra trung bình ổn định (FAU)

Hình 4.32 COD đầu ra và độ đục đầu ra trung bình ổn định của thí nghiệm thay đổi pH đối với nước thải chế biến thực phẩm

Hình 4.33 pH đầu ra trung bình ổn định khi pH đầu vào thay đổi

Kết luận

- Đối với nước thải chế biến men thực phẩm, pH tối ưu là 6.5 – 7.5.

- SVI của mô hình pH = 6.5 – 7.5 nằm trong khoảng tối ưu (70 – 120 ml/g.SS)

- pH càng xa khoảng tối ưu thì COD càng cao, hiệu quả xử lý COD càng thấp, độ đục càng cao và MLSS càng thấp. Nguyên nhân là do hệ vi sinh kém hoạt động hơn khi pH xa khoảng tối ưu.

Download pdf, tải về file docx

Bài viết tương tự

Gửi tin nhắn

Bimage 1

Danh mục

Bài viết tương tự

Bimage 2
Bimage 3

Home | Contact | About | Terms | Privacy policy
© 2022 Tailieuthamkhao.com | all rights reserved

Trang chủ Tài liệu miễn phí Thư viện số