Giáo dục giá trị truyền thống văn hóa cho lứa tuổi vị thành niên trong nhà trường - 10

muốn gặp bạn bè, nhưng tụi nó kiếm em hoài, chúng hỏi: "Bộ ba mầy lấy mầy hả". Em xấu hổ muốn chết cho rồi. Mẹ em cứ nhìn em rồi khóc. Lúc đi làm mẹ hay cúi đầu xuống.

* Thủ phạm là cha kế:

Trường hợp LD32, 18 tuổi. Cha ruột của em chết khi em còn nhỏ. Mẹ em một năm sau lấy chồng khác. Mẹ em thường dậy để đi bán sớm, cha kế lợi dụng cơ hội này để cưỡng bức em, lúc đó em mới 14 tuổi. Mẹ kế em khi biết được rất phẫn nộ đi báo công an. Cha kế bị bắt và hiện ở tù.

Trường hợp LD16, 12 tuổi hiện đang học lớp 5. Ba ruột em bỏ mẹ đi lấy vợ khác. Mẹ em đi lấy chồng khác. ba kế cưỡng bức em lúc em 10 tuổi. Nhưng ông rất chìu chuộng em, hay cho em tiền và dẫn đi chơi. Một lần khác ông cưỡng bức em và cậu em thấy được. Ông bị bắt và hiện ở tù. Em vẫn thương ông và mong ông mau được về.

* Thủ phạm là bác ruột:

Trường hợp PV3: Cha em có hai đời vợ. Em con của bà hai. Không biết vì lý do gì mẹ em bỏ em ra đi. Em thường bị cha ngược đãi. Sau một lần bị cha đánh em bỏ nhà đi bụi. Một lần ghé nhà bác chơi bị bác - khoảng 76 tuổi - hãm hiếp. Khoảng thời gian đó em được 10 tuổi. Rồi sau đó em còn bị nhiều người đàn ông khác lạm dụng em. Một lần khác công an bắt được thủ phạm và đưa em về lại gia đình và giải thích cho ba em hiểu. Nhưng khi công an vừa mới ra khỏi nhà, ba em cột tay chân em lại và đánh em. Ông tuyên bố từ rày em không phải là con ông nữa và phải ra khỏi nhà ngay. Em trở lại con đường bụi đời và trôi dạt vào Nam.

* Thủ phạm là anh họ:

Trường hợp PV14, 14 tuổi. Em ở trong một đại gia đình có đến 40 người. Mẹ em có hai đời chồng. Em là con của đời chồng sau. Ba em làm thợ hồ, nghiện rượu nặng và sau mỗi lần nhậu say về hay đánh đập mẹ và em. Mẹ em nghiền đánh đề. Mắc nợ nhiều. Hơn một lần đã phải ra tòa vì mắc nợ. Em cho biết người gia đình em cũng hay coi phim sex. Một tối, em đang treo mùng cho ba thì anh họ ở cùng nhà kéo màn ra và hãm em. Em sợ không dám nói với cha mẹ. Và điều này xảy ra nhiều lần. Đến lần thứ 5 thì bị ba em phát hiện, ba em đánh và đuổi em đi.

* Thủ phạm là bạn bè, người quen hoặc người yêu:

Có một số trường hợp các em bị người yêu hay bạn bè dụ dỗ và có quan hệ tình dục. Sự việc đổ bể vì có người biết, hay vì sau đó các em mang bầu. Nếu chàng trai "truất ngựa truy phong" hay hai bên gia đình không thể đi tới thỏa thuận dàn xếp (thông thường gia đình các em gái đòi đi tới hôn nhân), các em gái cảm thấy mình bị lạm dụng và trong nhiều trường hợp gia đình các em đã kiện các thanh niên lạm dụng ra tòa với tội hiếp dâm. Như trường hợp PV9 đã nêu trên hoặc như các trường hợp PV17, LD8, LD11, LD42, LD46, LD49, LD50....

* Thủ phạm là một thành viên trong gia đình các em giúp việc:

Có trường hợp PV11 cùng mẹ giúp việc cho gia đình chủ, em bị cậu thanh niên con ông chủ cưỡng bức nhưng em không ý thức hậu quả của hành động trên. Em có bầu. Mẹ em muốn dàn xếp. Nhà chủ ban đầu đồng ý bồi thường nhưng sau đó họ lật lọng nên mẹ em đưa đơn kiện tòa.

* "Thủ phạm" là người nước ngoài hay không phải người Kinh:

Trong 50 trường hợp, có hai trường hợp "thủ phạm" là người nước ngoài và người thuộc dân tộc Hoa. Các trường hợp này thường rơi vào các vụ các em gái bị mẹ đem đi bán trinh.

* Thủ phạm là người xa lạ hoàn toàn:

Có trường hợp thủ phạm là người xa lạ với các em. Như trường hợp LD19, em buồn hoàn cảnh gia đình vì mẹ đi lấy chồng khác không nuôi em. Em đi bụi đời và bị kẻ lạ dụ dỗ đưa vào công viên cưỡng bức. Cũng có trường hợp, em gái đi chơi về khuya, xin quá giang xe bị tài xế đưa vào chợ cưỡng hiếp (LD6). Một trường hợp khác, em gái đi mướn băng vidéo bị kẻ lạ dụ đi lạc nhà và bị hãm hại ở công viên (LD24).

2.4. Mối quan hệ giữa các loại hình thủ phạm và tính chất cưỡng bức

Trường hợp các em bị người thân trong gia đình, những người hàng xóm, những người không quen biết, chủ lạm dụng thường là những vụ hoàn toàn có tính chất cưỡng bức.

Trường hợp các em bị người yêu hay bạn bè lạm dụng dĩ nhiên tính chất cưỡng bức ít hơn hay có ít nhiều tính cách tự nguyện.

Bảng 5: Loại thủ phạm và tính chất của việc LDTD

Thủ phạm

Tính chất

Người thân trong gia đình

Bạn bè, người quen

Hàng xóm

Không quen biết

Người nước ngoài

Người yêu

Chủ

Tổng cộng

- Cưỡng bức

15

100,0

2

33,3

20

100,0

2

100,0

1

100,0

40

80,0

- "Tự

1

4

5

nguyện"

50,0

100,0

10,0

- Khó nói:

4

1

5

66,7

50,0

10,0

Có thể bạn quan tâm!

Xem toàn bộ 95 trang: Giáo dục giá trị truyền thống văn hóa cho lứa tuổi vị thành niên trong nhà trường

Giáo dục giá trị truyền thống văn hóa cho lứa tuổi vị thành niên trong nhà trường - 10

2.5. Nơi xảy ra việc bị lạm dụng cũng thay đổi tùy theo các loại thủ phạm Bảng 6: Nơi xảy ra việc bị lạm dụng tình dục

Thủ phạm Tính chất

Người thân trong gia đình

Bạn bè, người quen

Hàng xóm

Khôn g quen biết

Người nước ngoài

Người yêu

Chủ

- Nhà thủ phạm:

X

X

X

X

X

- Nhà của TBLDTD

X

X

- Khách sạn:

X

 

X

- Nơi công cộng:

phạm.

Như bảng 6 cho thấy, nơi xảy ra sự kiện cũng thay đổi tùy theo loại hình thủ

2.6. Việc tái diễn của sự kiện

Hành vi lạm dụng thường tái diễn khi thủ phạm là chủ, người yêu, bạn bè và

ngay với các người thân trong gia đình.

Việc lạm dụng tái diễn thường xuyên đi kèm những hăm dọa. Như trường hợp người cha loạn luân dọa sẽ đánh nếu con nói ra cho người khác biết (PV15). Người bác hăm dọa sẽ không can thiệp cho em bé bị lạm dụng trở về với gia đình (PV1). Hay con người chủ dọa đuổi cả hai mẹ con người giúp việc, nếu con của người giúp việc báo cho mẹ mình biết. Người hàng xóm thì dọa sẽ càng làm nhục trẻ bị lạm dụng, nếu trẻ báo cho gia đình biết.

Bảng 7: Loại thủ phạm và việc tái diễn LDTD

Thủ phạm

Hành vi bị LD:

Người thân trong gia đình

Bạn bè, người quen

Hàng xóm

Không quen biết

Người nước ngoài

Người yêu

Chủ

Có lập lại:

10

66,7

4

66,7

6

31,6

3

100,0

1

100,0

Không lập lại:

5

33,3

2

33,3

13

68,4

2

100,0

2

100,0

Trẻ bị lạm dụng, một mặt sợ do bị hăm dọa, mặt khác không ý thức nguy cơ việc bị lạm dụng có thể gây hậu quả nghiêm trọng như việc mang bầu. Có trẻ sợ rằng vụ việc bị tiết lộ sẽ đem lại tai tiếng cho gia đình và tai tiếng cho chính bản thân. Có trẻ trong trường hợp loạn luân lại không dám tiết lộ hành vi của cha vì sợ mẹ buồn.

2.7. Thời gian sự kiện lạm dụng bị tiết lộ

 

Người thân trong gia đình

Bạn bè, người quen

Hàng xóm

Không quen biết

Người nước ngoài

Người yêu

Chủ

Total

- Biết ngay:

1

46,7

3

50,0

12

66,7

2

66,7

2

100,0

26

53,1

- Sau 1

5

3

3

1

1

1

17

tháng:

33,3

50,0

16,7

33,3

100,0

100,0

34,7

- Sau 1 năm

3

3

6

20,0

16,7

12,2

Không kể đến những vụ lạm dụng có tính chất "tự nguyện", tỷ lệ các vụ lạm dụng được biết ngay sau khi xảy ra thuộc những trẻ bị cưỡng bức bởi những người hàng xóm, những người không quen biết, bởi chủ...

Trong những vụ loạn luân do trẻ thường bị hăm dọa, vụ việc thường được giấu kín, nên tỷ lệ bị tiết lộ ngay không cao. Tỷ lệ được biết ngay sau vụ việc xảy ra chỉ chiếm 46,7% so với các vụ lạm dụng mà thủ phạm là những người thuộc loại khác thường chiếm tỷ lệ cao hơn. Có những vụ loạn luân mà chỉ sau 4, 5 năm trẻ mới thổ lộ với những người quen biết.

2.8. Thái độ của cha mẹ trước sự kiện trẻ bị lạm dụng

Thái độ của cha mẹ trước sự kiện trẻ bị lạm dụng cũng khác nhau, và tùy thuộc tính chất lạm dụng.

Với các thủ phạm: trong trường hợp thủ phạm là một người hàng xóm, người quen của TEBLD, thoạt tiên thái độ của cha mẹ là một thái độ giận dữ. Nhiều cha mẹ của TEBLDTD đã đưa vụ việc ra công an, tòa án. Nhưng cũng có trường hợp cha mẹ muốn bảo vệ uy tín của gia đình, không muốn có tai tiếng ảnh hưởng đến tương lai của TEBLDTD, đã thương lượng với gia đình của thủ phạm để được bồi thường. Nếu thương lượng thành công sự kiện bị lạm dụng tình dục sẽ không còn được công khai đề cập đến.

Nếu việc thương lượng không thành công, sự kiện bị lạm dụng sẽ d đưa ra công an và tiếp tục các thủ tục để truy tố. Theo nhiều cơ quan bảo vệ quyền trẻ em, các vụ việc thương lượng này đôi lúc làm mờ nhạt các tang chứng của hành vi lạm dụng tình dục.

Trong trường hợp chồng loạn luân, thái độ của người vợ cũng rất phức tạp. Có trường hợp người vợ phẫn nộ và đi báo ngay cho công an (LD33). Nhưng rất nhiều bà mẹ không tin khi con gái mình kể lại, như trường hợp LD5: "... mẹ đi khám bệnh cho em, ở nhà dượng ghẻ vừa dụ dỗ vừa hăm dọa. Em sợ quá và dượng đã lạm dụng em... Sau đó em kể liền cho mẹ nghe, nhưng mẹ bênh dượng và mắng em... Kể từ đó mẹ không nhìn mặt em. Em xin đi rửa chén bán và về sống với ngoại. Sau đó em buồn, đi phụ bán cafe và từ từ ra mướn nhà sống riêng..." (LD12).

Nhiều bà mẹ có chồng loạn luân cấm không cho các TEBLDTD tiết lộ. Em LD28 kể lại: "sau vụ đó, mẹ em cấm không được cho ai biết, nếu biết mẹ sẽ đánh".Và từ khi biết được sự việc nhiều bà trở nên trầm cảm hơn: "Từ đó mẹ em không nhìn em và ba em, không nói chuyện với em" (LD1).

Nhiều bà mẹ mặc dù chứng kiến hay biết được các hành vi loạn luân của chồng, nhưng có thái độ rất cam chịu. Cá tính của các bà mẹ trong các gia đình có xảy ra loạn luân cần được nghiên cứu nhiều trường hợp hơn nữa, nhưng một số trường hợp điển hình cho ta thấy hình như đây là những người vợ rất sợ các ông chồng phong kiến, cộc cằn. Các bà vợ này chỉ biết cam chịu các hành vi tồi tệ của chồng: "Một lần mẹ đi bắt cá về sớm mẹ thấy mẹ la lên. Một lát sau ông đánh mẹ liền, cấm mẹ không được nói cho ai biết... Chỉ có lần ổng đánh mẹ đem nhân sông. May có người la lên cứu mẹ. Sau đó mẹ mới thưa với công an luôn" (PV15). Có nhiều bà mẹ còn đổ lỗi cho con tố cáo nên chồng bà mới bị ở tù (LD30).

Với các nạn nhân là các TEBLDTD, thái độ của cha mẹ cũng thay đổi tùy tính chất của việc bị lạm dụng tình dục. Có cha mẹ có thái độ ân cần an ủi con sau khi sự kiện xảy ra, nhất là trong trường hợp trẻ bị lạm dụng bởi những người lạ hay trong trường hợp trẻ bị cưỡng bức. Những trường hợp trẻ bị lạm dụng bởi người yêu, bạn bè, cha mẹ thường la mắng nhưng không đi đến việc xua đuổi. Nhưng cũng có cha mẹ, sau khi sự

kiện bị biết đến đã mắng nhiếc con cái và có trường hợp đuổi các TEBLDTD ra khỏi nhà vì xem điều này làm ảnh hưởng đến uy tín danh dự của gia đình (PV3).

Có cha mẹ tiếc nuối sự kiện trẻ bị lạm dụng. Em PV8 - đi chơi về khuya, quá giang xe bị người ta cưỡng bức ở chọ - đã kể lại: "Mẹ nói: Đẻ mày ra thà mầy đi bán trinh, chứ để mầy đi chơi mầy bị phá...".

Đối với những bà mẹ đã nhẫn tâm "bán trinh" con mình thì dĩ nhiên là an ủi con và đổ lỗi cho số phận hoặc tìm cách biện minh cho hành vi phi đạo đức của mình: "Má buồn, nhưng nói tại thiếu nợ quá phải đưa con "đi" như vậy, con đừng buồn má" (LD10). Hoặc "Má nói: thôi lỡ rồi con đừng buồn má này nọ" (PV7). Hoặc trắng trợn hơn: "Ná nói: thà bán có tiền, chứ nếu không mai mốt mày cho không thằng bồ mày" (LD41), bị mẹ bán trinh lúc 15 tuổi cho một người Hoa tại công viên VănLang).

3. Các yếu tố nguy cơ dễ dẫn đến việc bị lạm dụng tình dục

Nhiều ý kiến cho rằng việc phổ biến phim ảnh đồi trụy, tệ nạn uống rượu, say rượu của đàn ông... là các nhân tố dẫn đến việc lạm dụng tình dục. Trong nghiên cứu của chúng ta cũng có những trường hợp thủ phạm bị khích động bởi phim ảnh hay say rượu... Nhưng thật ra đây là những nguyên nhân gần. Có những yếu tố sâu xa hơn chi phối vấn đề đang được nghiên cứu.

Trước hết là những yếu tố vĩ mô thuộc bối cảnh kinh tế xã hội và văn hóa: trong những năm gần đây, cùng với việc xuất hiện của nền kinh tế thị trường, đã xuất hiện sự phân cực giàu nghèo. Một số người càng ngày càng nghèo đi, nợ nần chống chất đến nỗi phải bán trinh con gái, xem đó như là phương cách giải quyết nghèo khổ. Nhiều em gái đi vào con đường mãi dâm trước hết nhằm giúp gia đình, nhưng dần dà đua đòi, vì ham muốn một cuộc sống giàu sang bằng con đường dễ dãi, các em đã trở thành chuyên nghiệp. Nghèo khổ còn buộc trẻ phải bỏ học, lao động sớm, đi làm mướn. Đây cũng là những điều kiện, dễ đẩy trẻ vào nguy cơ bị lạm dụng.

Nền kinh tế thị trường với mặt trái của nó như chủ nghĩa tiêu thụ, đề cao sự hưởng thụ tình dục đã có ảnh hưởng lớn đến sự gia tăng tệ nạn hiếp dâm: trong số các trường hợp được nghiên cứu, khoảng 10% các vụ hiếp dâm trong đó thủ phạm được gợi dục bằng phim ảnh.

Nhưng chính trong bối cảnh xã hội, văn hóa Việt Nam cũng có những yếu tố làm cơ sở cho tệ nạn lạm dụng tình dục này phát triển.

Trước hết là đầu óc phong kiến trong gia đình Việt Nam. Nhiều bậc cha mẹ quan niệm con cái như là vật sở hữu, như tục ngữ Việt Nam có câu: "Một con một của không chừa". Do đó mẹ có quyền bán con, cha có quyền lạm dụng con và dùng uy quyền hăm dọa để bít kín sự việc. 30% vụ lạm dụng tình dục trong cuộc nghiên cứu này là các vụ loạn luân do cha ruột, cha kết, bác, anh họ... Các trường hợp điển hình trong cuộc nghiên cứu này đã cho thấy nhiều người phụ nữ biết chồng lạm dụng con, nhưng vẫn làm thinh, chịu đựng vì "sĩ diện của gia đình". Và người con gái bị bán trinh lại xem như đây là dịp trả hiếu cha mẹ. Đây là một quan điểm phong kiến xem thường nhân phẩm phụ nữ đã ít nhiều ăn sâu trong quan niệm một số gia đình Việt Nam.

Việc chuyển sang nền kinh tế thị trường kéo theo sự thay đổi thang giá trị trong xã hội. Sự thay đổi hệ thống giá trị cũng là yếu tố làm nhiều gia đình tan vỡ. Tư tưởng thực dụng lấy ý tưởng giàu sang, tiền bạc làm thước đo bậc thang xã hội. Cái đạo lý truyền thống "đói cho sạch, rách cho thơm" không còn tác dụng với lập luận của bà mẹ bán trinh con gái: "thà bán có tiền, chứ không mai mốt mầy cho không mấy thằng bồ của mầy".

Gia đình truyền thống Việt Nam có bổn phậm nuôi nấng, dạy bạo, bao bọc, lo cho trẻ ăn học đến trưởng thành. Nhưng trong xã hội đang biến hiện nay, nhiều bậc cha mẹ bận công việc kiếm sống, bỏ bê, không chăm sóc, không quan tâm đến con cái, nhiều trẻ phải lao động sớm. Đây cũng là một trong những yếu tố làm gia tăng cơ hội dễ bị lạm dụng. Trong các trường hợp TEBLDTD đang được nghiên cứu, chỉ có 30,6% các em hiện còn sống đầy đủ với cha mẹ ruột. Gần 70% các TEBLDTD còn lại thuộc các gia đình thiếu cha hay thiếu mẹ vì cha mẹ mất, cha mẹ ly dị, cha hoặc mẹ tái hôn... Sự tan rã, chắp nối của cơ cấu gia đình là yếu tố nguy cơ dễ dẫn đến việc trẻ bị lạm dụng tình dục. Trong các trường hợp nghiên cứu kể trên, hơn 25% trường hợp loạn luân là do cha kế.

Cũng có những yếu tố nguy cơ gắn liền với đứa trẻ. Một vài trường hợp trên cho thấy các em gái, các trẻ đường phố, các trẻ lao động, các em giúp việc nhà, các em không

còn tiếp tục việc học, các em thuộc những gia đình nghèo, các em bị cha mẹ bỏ bê không chăm sóc dễ bị lạm dụng tình dục hơn các em khác.

4. Một số khía cạnh tâm lý của các TEBLDTD

Như trong phần phương pháp luận chúng tôi đã trình bày, nghiên cứu này sử dụng một số các thang điểm để đo lường một vài khía cạnh tâm lý của TEBLDTD.

4.1. Thang điểm CAT: Thang điểm này gồm 38 câu hỏi, tập trung trong ba vấn đề chính mà chúng tôi gọi là ba yếu tố (factors).

- Yếu tố thứ nhất tạm gọi là NEG, phản ánh sự bỏ bê không chăm sóc con cái của cha mẹ và bầu khí tiêu cực trong gia đình (cha mẹ bất hòa...).

- Yếu tố thứ hai tạm gọi là PUN, phản ảnh việc cha mẹ hay trừng phạt xâm phạm về thể chất các trẻ đang được nghiên cứu.

- Yếu tố thứ ba tạm gọi là SA, phản ánh sự lạm dụng tình dục trong gia đình: chính trẻ bị lạm dụng hay chứng kiến cảnh bị lạm dụng.

Bảng 9: Trung bình của các số đo phụ thuộc theo thang điểm CAT của TEBLDTD và TEBT

TEBLDTD (n = 50)

TEBT (n = 50)

mdyn

- NEG

37,82

32,65

0,102

- PUN

11,68

10,90

0,309

- SA

5,18

0,95

0,000

- Tổng CAT

52,50

44,50

0,031

mdyn = mức độ ý nghĩa

Mặc dù mức độ ý nghĩa không cho thấy sự khác biệt về mặt thống kê, số đo trung bình của các câu hỏi để tìm hiểu về bầu khí tiêu cực trong gia đình và sự không quan tâm của cha mẹ đối với con cái ở TEBLDTD là 37,82, ở TEBT là 32,65.

Số đo trung bình về việc cha mẹ hay trừng phạt, lạm dụng con cái về mặt thể chất là 11,68 ở các TEBLDTD và 10,90 ở TEBT. Các số đo này cũng không có sự khác biệt về ý nghĩa thống kê.

Và cuối cùng, số đo trung bình về việc bị lạm dụng tình dục hay chứng kiến việc lạm dụng tình dục trong gia đình ở các TEBLDTD là 5,18 và ở TEBT là 0,95. Sự khác biệt này rất có ý nghĩa về mặt thống kê (p = 0,000). Có 22% các TEBLDTD chứng kiến cảnh lạm dụng tình dục trong gia đình, trong khi tỷ lệ này ở TEBT chỉ 4%.

Số đo trung bình tổng cộng của thang điểm CAT ở các TEBLDTD là52,50 và 44,50 ở TEBT. Sự khác biệt này rất có ý nghĩa thống kê (p = 0,031). Và như vậy cho thấy tương quan giữa ba yếu tố kể trên và sự khác biệt giữa TEBLDTD và TEBT. Nói cách khác, TEBLDTD thường sống trong gia đình có một bầu khí tiêu cực: cha mẹ bất hòa, hay la mắng, không quan tâm đến con cái và trừng phạt hay xâm phạm thân thể các TEBLDTD.

4.2. Về thang điểm YSR

Bảng 10: Trung bình của các số đo phụ thuộc theo thang điểm YSR của TEBLDTD và TEBT

TEBLDTD

TEBT

mđyn

- YSR - Sc1

6,46

5,36

0,043

- YSR - Sc2

5,48

4,66

0,234

- YSR - Sc3

15,16

9,66

0,000

- YSR - Sc4

6,08

5,44

0,201

- YSR - Sc5

3,74

4,16

0,489

- YSR - Sc6

8,80

6,76

0,002

- YSR - Sc7

4,72

2,74

0,007

- YSR - Sc8

9,32

8,22

0,292

- YSR - Internal

25,96

18,84

0,000

 

14,04

10,96

0,032

- YSR - tcộng

67,64

52,52

0,002

- YSR - External

Qua bảng trên, so với TEBT, các TEBLDTD có số đo trung bình về các thang điểm phụ sau đây có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê.

- Thang điểm phu YSR - Sc1 - đo lường thái độ co cụm, co rút - qua các câu hỏi về sự cô đơn, không muốn trò chuyện, tính kín đáo, rụt rè, thiếu sinh khí, buồn bã, co rút... - cho thấy TEBLDTD có thái độ co rút lại hơn sau biến cố mà các em đã trải qua. Số đo trung bình ở thang điểm phụ này ở TEBLDTD là 6,46 trong khi ở các TEBT là 5,36 (p = 0,043).

- Thang điểm phụ YSR - Sc3 - đo lường mức độ trầm cảm - qua các câu hỏi về sự cô đơn, tính hay khóc, tự làm khổ mình, nghĩ có thể làm điều xấu, tính ưa sự hoàn hảo, sợ không ai thương yêu mình, cảm thấy người khác làm hại mình, cảm thấy vô dụng, cảm thấy căng thẳng, sợ hãi, mặc cảm, quá khổ sở về hành động của mình, tính đa nghi, thích hủy hoại mình, tính hay lo lắng... - cho thấy các TEBLDTD nữ này bị trầm cảm ở mức độ cao, bởi lẽ số đo của các em ở thang điểm này là 15,16 trong khi ở TEBT chỉ 9,66 (p = 0,000).

- Thang điểm phụ YSR-Sc6 - tìm hiểu khả năng tập trung của thanh thiếu niên - qua các câu hỏi: về khả năng tập trung, việc hay cảm thấy bối rối, hay mơ mộng, hành động mà không suy nghĩ, cảm thấy căng thẳng, học hành không tốt, cảm thấy vụng về... Số đo trung bình của thang điểm này ở TEBLDTD là 8,80 trong khi ở TEBT là 6,76 (p = 0,002).

- Thang điểm phụ YSR-Sc7 - để đo lường hành vi phạm pháp của thanh thiếu niên. Thang điểm này thể hiện qua các câu hỏi: thích chơi với kẻ gây rối, không cảm thấy ân hận khi làm điểm không nên... thích nói dối, thích chơi với người lớn tuổi hơn, thích bỏ trốn nhà, thích phá hoại, ăn cắp đồ vật, thích chửi thề, cúp cua, sử dụng các chất gây nghiện... Số đo trung bình này là 4,72 ở TEBLDTD và 2,74 ở TEBT (p = 0,007).

- Thang điểm phụ YSR-Internal, để đo lường tính hướng nội của thanh thiếu niên bao gồm tổng số của 3 thang điểm YSR-Sc1, YSR-Sc2, YSR-Sc3. ở đây ta cũng thấy có

sự khác biệt rất rõ nét giữa TEBLDTD và TEBT. Số đo trung bình ở thang điểm phụ này giữa hai loại trẻ lần lượt là: 25,96 và 18,84 (p = 0,031).

- Mặt khác một điểm cũng đáng lưu ý về tâm lý của TEBLDTD: một mặt sau biến cố bị lạm dụng, các em trở nên lầm lỳ, co rút lại, nhưng mặt khác các em lại muốn đập phá tất cả để giải tỏa những uẩn ức, những mâu thuẫn, cam chịu của mình. Do đó, thang điểm phụ về tính hướng ngoại của các em cũng khá cao, so với các TEBT. Thang điểm phụ YSR-External được tính bằng cách cộng lại hai thang điểm về hành vi phạm pháp (YSR-Sc7) và hành vi gây hấn (YSR-Sc8). Các số đo của các TEBLDTD và TEBT lần lượt: 14,04 và 10,96 (p = 0,000).

Trong các yếu tố có thể ảnh hưởng đến thang điểm YSR, chúng tôi đã kiểm soát các yếu tố: tính chất của việc bị lạm dụng, các loại thủ phạm, mức sống của gia đình các TEBLDTD, thái độ của cha mẹ sau khi vụ lạm dụng xảy ra, tình trạng gia đình của cha mẹ (ly dị hay còn ở với nhau...), thì chỉ có yếu tố tuổi tác có tương quan với các số đo của YSR. Hay nói cách khác các TEBLDTD tuổi càng lớn tuổi càng dễ bị tổn thương bởi yếu tố bị lạm dụng, như bảng sau cho thấy:

Bảng 11: Tương quan giữa thang điểm YSR và một số yếu tố

Tương quan

Mức độ ý nghĩa

- Nông thôn - đô thị:

0,19

0,184

- Tuổi hiện nay:

0,43

0,002

- Tuổi khi bị lạm dụng:

0,28

0,055

- Mức sống:

0,25

0,089

- Thái độ đối xử của cha mẹ:

0,40

0,013

- Thang điểm Punish:

0,02

0,911

- Thang điểm NEGL:

0,44

0,001

- Thang điểm hỗ trợ xã hội:

0,27

0,059

 

0,22

0,115

- Thang điểm CAT:

0,56

0,000

- Thang điểm tự tin:

Bảng 12: Tương quan giữa tuổi tác của các TEBLDTD và các số đo trong thang điểm YSR

Các thang điểm phụ YSR

Hệ số tương quan

Mức độ ý nghĩa

- YSR - Sc1

0,30

0,031

- YSR - Sc3

0,50

0,000

- YSR - Sc5

0,26

0,070

- YSR - Sc7

0,39

0,006

- YSR - Internal

0,45

0,001

- YSR - External

0,41

0,003

- YSR - tcộng

0,43

0,002

Các số liệu thống kê cho thấy số đo thang điểm YSR của lứa tuổi bằng hay dưới 15 tuổi là 54,40 và từ 16 tuổi trở lên là 78,14 (p = 0,001): ở những trẻ đã bị lạm dụng từ 3 năm trở xuống là 61,58 và trên 4 năm là 80,43. Điều này cho thấy biến cố bị lạm dụng đã có ảnh hưởng sâu sắc, lâu dài lên các em. Những trẻ càng lớn tuổi càng bị sự kiện này tác động. Có thể các em càng lớn càng ý thức sự tai hại của biến cố trên. Và trong phần phỏng vấn sâu cũng cho ta thấy nhiều em nhỏ tuổi không biết mình đang bị lạm dụng. Vì không ý thức nên biến cố này cũng ít tác động đến các em. Thời gian không làm khuây khỏa những biến cố này mà càng gia tăng sự chấn động của biến cố.

Nơi cư trú của các em - vùng nông thôn hay đô thị - cũng ít ảnh hưởng đến TEBLDTD ở nông thôn: 60,07, ở các quận nội thành: 70,58 (p = 0,184).

4.3 Thang điểm về sự tự tin (SE)

Nhìn chung, số đo thang điểm SE không có sự khác biệt giữa TEBT và TEBLDTD: 62,6 và 66,50, (p = 0,279).

Bảng 13: Tương quan giữa thang điểm SE và một số yếu tố

Hệ số tương quan

Mức độ ý nghĩa

- Trình độ học vấn:

0,40

0,004

- Cảm nhận về cuộc sống hiện tại:

0,31

0,027

- Thái độ đối xử của cha mẹ:

0,44

0,006

- Tuổi:

0,225

0,115

- Mức sống của gia đình:

0,183

0,207

- Tính chất của cưỡng bức:

0,0012

0,993

Thang điểm này không có tương quan với các yếu tố sau: tình trạng gia đình, mức sống của gia đình, tính chất của sự cưỡng bức.. và ngay yếu tố tuổi tác cũng không tác dụng đến sự tự tin.

Trong các yếu tố tạo được sự tự tin cho trẻ thì trình độ giáo dục, và thái độ cư xử của cha mẹ trong gia đình đối với trẻ(1) có tác động mạnh tạo niềm tự tin cho trẻ: hệ số tương quan lần lượt của hai yếu tố này lần lượt là: r = 0,40 (p = 0,004) và r = 0,44 (p = 0,006). Ngoài ra cũng có tương quan giữa sự tự tin và cảm nhận của trẻ về cuộc sống hiện tại(1): r = 0,31 (p = 0,027).

4.4. Thang điểm về sự hỗ trợ xã hội

Thang điểm về sự hỗ trợ xã hội cho thấy một sự khác biệt có ý nghĩa, nhưng rất nhỏ, giữa các TEBT và các TEBLDTD. Thang điểm về sự hỗ trợ xã hội ở TEBT và 11,94 và ở TEBLDTD là 10,06 (p = 0,052). Điều này có nghĩa là TEBT có được sự hỗ trợ xã hội cao hơn, được nhiều sự giúp đỡ từ gia đình, bà con, bạn bè nhiều hơn các TEBLDTD.

Số đo về sự hỗ trợ xã hội cho thấy có tương quan với mức sống gia đình của các em (r = 0,217, p = 0,030), và với cảm nhận của các em về cuộc sống hiện nay (r = 0,28, p

(1) Được phân ra làm bốn mức độ: gần gũi, chăm sóc / bình thường / ít gần gũi, ít chăm sóc / lạnh nhạt.

(1) Được phân ra làm ba mức độ: rấte thích, rất bằng lòng / tạm được / không

thích thú chút nào.

= 0,004). Hay nói cách khác các em thuộc các gia đình khá giả càng cảm thấy có nhiều sự giúp đỡ và ngược lại. Đồng thời trẻ nào cảm thấy càng thoải mái với cuộc sống hiện tại thì càng có số đo về hỗ trợ xã hội cao.

So sánh tỷ lệ các tác nhân giúp đỡ giữa các TEBLDTD và TEBT

45

40

35

30

TEBLDTD

TEBT

25

20

15

10

5

0

Nhìn chung, TEBLDTD ít có được sự giúp đỡ từ gia đình, họ hàng hơn các TEBT, do vậy các TEBLDTD thường tìm sự giúp đỡ từ bên ngoài gia đình hơn.

5. Tình trạng hiện nay, các khó khăn và mong muốn của các em

Theo bảng 1, trong các TEBLDTD hiện có 26,5% các em đang đi học chữ, 8,2% đang học nghề, 20,4% đang đi làm, 18,4% làm công việc nội trợ giúp gia đình. Tỷlệ các TEBLDTD còn đi học kém xa tỷ lệ đi học của các TEBT. Còn các tỷ lệ các TEBLDTD đang đi làm, đang tìm việc, đang làm việc nội trợ thì cao so với các TEBT.

Do công việc chủ yếu hiện nay khác biệt, do hoàn cảnh gia đình và các biến cố mà các em trải qua cũng khác biệt, các em cũng có những khó khăn khác nhau:

Bảng 14: Những khó khăn lớn nhất hiện nay của các em

TEBLDTD

TEBT

- Khó khăn kinh tế:

29,1

23,3

- Mâu thuẫn gia đình, bị la mắng:

16,4

15

- Khó khăn trong việc làm:

14,5

2,3

 

10,9

5

- Mặc cảm:

9,1

3,3

- Khó khăn nhà cửa:

7,3

20

- Gia đình đông:

3,6

6,7

- Thiếu phương tiện học hành, học kém:

3,6

20

- Bệnh

1,8

1,7

Download pdf, tải về file docx

Bài viết tương tự

Gửi tin nhắn

Bimage 1

Danh mục

Bài viết tương tự

Bimage 2
Bimage 3

Home | Contact | About | Terms | Privacy policy
© 2022 Tailieuthamkhao.com | all rights reserved

Trang chủ Tài liệu miễn phí Thư viện số