Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh Đan Mạch đến quan hệ thương mại của Đan Mạch với Việt Nam - 1

Digg Facebook Google LinkedIn Pinterest Reddit Tumblr Twitter
3

Nội dung:


TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh Đan Mạch đến quan hệ thương mại của Đan 3701

-------------


KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP


Đề tài:

ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HOÁ KINH DOANH ĐAN MẠCH ĐẾN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI CỦA ĐAN MẠCH VỚI VIỆT NAM


Có thể bạn quan tâm!

Xem toàn bộ: Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh Đan Mạch đến quan hệ thương mại của Đan Mạch với Việt Nam (10 trang)

Sinh viên thực hiện : Bùi Diệu Hương

Lớp : Anh 10

Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh Đan Mạch đến quan hệ thương mại của Đan Mạch với Việt Nam - 1

Khóa : 44C

Giáo viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Hoàng Ánh


Hà Nội - 05/2009

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HOÁ KINH DOANH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HOÁ KINH DOANH ĐẾN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 3

1.1. Khái niệm về VHKD 3

1.1.1. Văn hoá 3

1.1.2. 16

1.2. Ảnh hưởng của VHKD đến quốc tế 19

1.2.1. Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh đến tư duy trong kinh doanh 20

1.2.2. Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh đến giao tiếp trong kinh doanh 21

1.2.3. Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh đến marketing 23

Chương 2: ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HOÁ KINH DOANH ĐAN MẠCH ĐẾN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA ĐAN MẠCH VÀ VIỆT NAM 26

2.1. Giới thiệu chung về Đan Mạch 26

2.1.1. Đất nước Đan Mạch 26

2.1.2. Hệ thống chính trị 27

2.1.3. Con người 27

2.1.4. Kinh tế 29

2.1.5. Văn hóa 33

2.2. Quan hệ thương mại của Việt Nam – Đan Mạch 40

2.2.1. Các hiệp định thương mại đã ký kết 40

2.2.2. Trao đổi thương mại 41

2.3. Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh Đan Mạch đến quan hệ thương mại của Đan Mạch với Việt Nam 42

2.3.1. Đặc điểm văn hóa kinh doanh của Đan Mạch 42

2.3.3. Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh Đan Mạch đến quan hệ thương mại Việt Nam – Đan Mạch 55

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ VĂN HÓA KINH DOANH NHẰM TĂNG CƯỜNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – ĐAN MẠCH 61

3.1. Đánh giá nhận thức của thương nhân Việt Nam về văn hóa kinh doanh của Đan Mạch 61

3.1.1. Thành công 61

3.1.2. Hạn chế 62

3.2. Triển vọng phát triển quan hệ thương mại Việt Nam – Đan Mạch 63

3.2.1. Xuất khẩu 64

3.2.2. Nhập khẩu 67

3.3. Một số giải pháp về văn hóa kinh doanh nhằm tăng cường quan hệ thương mại Việt Nam – Đan Mạch 68

3.3.1.Giải pháp đối với Nhà nước 69

3.3.2. Giải pháp đối với doanh nghiệp 74

3.3.3. Một số giải pháp khác 78

KẾT LUẬN 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

DANH MỤC BẢNG BIỂU


Bảng 1: Bảng xếp hạng nền kinh tế phát triển năng động và cạnh tranh nhất của EU năm 2008 29

Bảng 2: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Đan Mạch giai đoạn 2004 – 2008 32

Bảng 3: Tỷ lệ hàng hóa xuất khẩu sang các thị trường chính của Đan Mạch năm 2007 (%) 33

Bảng 4: Tỷ lệ hàng hóa nhập từ các thị trường chính của Đan mạch năm 2007(%) 33 Bảng 6: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – Đan Mạch giai đoạn 2003 - 2007 41 Bảng 7: Cơ cấu tiêu dùng của người Đan Mạch 52


Biểu đồ 1: Cơ cấu ngành của Đan Mạch năm 2006 30

LỜI NÓI ĐẦU


Toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế hiện đang là đặc trưng và xu hướng phát triển phổ biến của nền kinh tế thế giới. Hòa cùng xu hướng chung đó, quá trình mở cửa hội nhập kinh tế của Việt Nam cũng ngày càng diễn ra mạnh mẽ và sâu rộng. Có thể nói quá trình này đã và đang mang lại cho Việt Nam nhiều thành quả tốt đẹp, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong các nội dung của quá trình hội nhập kinh tế thì hoạt động (bao gồm xuất khẩu và nhập khẩu) là một trong những nội dung then chốt và mang lại nhiều lợi ích cho phát triển kinh tế. Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa đã có nhiều thuận lợi hơn nhờ vào việc nhiều rào cản trong hoạt động thương mại quốc tế như thuế quan hay hạn ngạch đã dần dần được dỡ bỏ. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều rào cản khác mà các doanh nghiệp Việt Nam phải vượt qua nếu muốn thâm nhập sâu rộng hơn vào thị trường nước ngoài, trong đó có văn hóa kinh doanh. Đây là yếu tố có tác động rất lớn đến quan hệ thương mại quốc tế và thay đổi theo từng quốc gia. Vì vậy, việc tìm hiểu văn hóa kinh doanh của đối tác nước ngoài luôn là việc làm cần thiết đối với các doanh nghiệp Việt Nam.

Đan Mạch là một trong những nước phương Tây đầu tiên đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam và đã giúp đỡ Việt Nam rất nhiều trong công cuộc khôi phục và phát triển đất nước trong suốt hơn ba mươi năm qua. Gần đây, quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Đan Mạch cũng bắt đầu khởi sắc và đạt được nhiều thành tựu song vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của hai nước. Một trong những nguyên nhân là do sự hiểu biết của các doanh nghiệp Việt Nam về văn hóa kinh doanh Đan Mạch vẫn còn ở mức hạn chế. Với mong muốn được đóng góp một phần vào việc cung cấp thêm những thông tin bổ ích và thiết thực về vấn đề này, người viết đã lựa chọn đề tài “Ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh Đan Mạch đến quan hệ thương mại của Đan Mạch với Việt Nam” cho khóa luận tốt nghiệp của mình.

Mục tiêu cơ bản của khóa luận là nghiên cứu khái quát những nét đặc trưng, tiêu biểu trong văn hóa kinh doanh (VHKD) Đan Mạch cùng những tác động của nó trong các hoạt động thương mại giữa Đan Mạch với Việt Nam, qua đó đề xuất một

số giải pháp về văn hóa kinh doanh nhằm nâng cao hơn nữa mối quan hệ thương mại Việt Nam – Đan Mạch. Để giải quyết những vấn đề có liên quan đến đề tài, khóa luận đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp như phương pháp thu thập thông tin (thông qua các nguồn giáo trình, sách báo, luận án, Internet…) , phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp đối chiếu – so sánh…

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận được chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận chung về VHKD và ảnh hưởng của VHKD đến thương mại quốc tế

Chương 2: Ảnh hưởng của VHKD Đan Mạch đến quan hệ thương mại của Đan Mạch với Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp về VHKD nhằm tăng cường quan hệ thương mại Việt Nam – Đan Mạch

VHKD vẫn còn là một đề tài khá mới mẻ ở Việt Nam. Hơn nữa, do giới hạn về thời gian và trình độ hiểu biết, khóa luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Người viết rất mong nhận được sự đóng góp, phê bình từ phía thầy cô và các bạn sinh viên để có thể hoàn thiện hơn nữa nghiên cứu này.

Qua đây, người viết xin gửi lời cảm ơn chân thành đến nhà trường và các thầy cô trường Đại học Ngoại thương đã giảng dạy và cung cấp những kiến thức bổ ích trong suốt quá trình học tập tại trường. Đặc biệt, người viết xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Tiến Sĩ Nguyễn Hoàng Ánh, người đã hết sức tận tâm giúp đỡ người viết hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.


Hà Nội, tháng 5 năm 2009 Sinh viên thực hiện

Bùi Diệu Hương

Chương 1‌‌


LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HOÁ KINH DOANH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HOÁ KINH DOANH ĐẾN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ


1.1. Khái niệm về văn hóa kinh doanh

Văn hoá kinh doanh là một bộ phận của văn hoá nói chung nên để có cái nhìn sâu sắc và toàn vẹn hơn khi nghiên cứu về mảng này chúng ta không thể không đề cập đến khái niệm văn hoá.

1.1.1. Văn hoá

1.1.1.1. Khái niệm văn hoá

Có thể nói văn hoá là một lĩnh vực rộng lớn, phong phú và phức tạp, do đó khái niệm văn hoá cũng rất đa dạng.

Tiếp cận từ khía cạnh ngôn từ, thuật ngữ văn hoá - tiếng Anh và tiếng Pháp gọi là culture, tiếng Đức gọi là kultur – có nguồn gốc từ tiếng Latin là cultus. Khi lần đầu tiên được đưa vào sử dụng ở Châu Âu thế kỷ thứ XVIII, từ cultus mang ý nghĩa là sự khai hoang, trồng trọt cây lương thực. Sang thế kỷ thứ XIX, nghĩa của từ này được mở rộng ra, bao hàm cả nghĩa nuôi dưỡng, giáo dục và đào tạo con người. Còn ở phương Đông, trong tiếng Hán Việt, văn hoá là một từ ghép giữa chữ văn và chữ hoá. Văn là vẻ đẹp của nhân tính, cái đẹp của tri thức, trí tuệ con người có thể đạt được bằng sự tu dưỡng của bản thân và cách thức cai trị đúng đắn của người cầm quyền. Còn hoá trong văn hoá chính là việc đem cái văn (cái đẹp, cái tốt, cái đúng) để cảm hoá, giáo dục và hiện thực hoá trong thực tiễn đời sống.1 Như vậy, xét về mặt chữ nghĩa, văn hoá chính là sự nuôi dưỡng và phát triển con người một cách toàn diện.

Xét về khía cạnh nội dung bên trong, văn hoá cũng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau tuỳ thuộc vào lĩnh vực nghiên cứu. Từ nửa sau thế kỷ thứ XIX, các học giả bắt đầu tập trung nghiên cứu sâu khái niệm văn hoá và từ đây văn hóa được đề cập đến trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như dân tộc học, nhân loại học, tâm lý học,


1 Đỗ Minh Cương (2001), Văn hoá kinh doanh và Triết lý kinh doanh, NXB Chính trị Quốc Gia, tr.18.

dân gian học, văn hóa học, xã hội học và thậm chí là cả kinh tế học. Trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó định nghĩa về văn hóa cũng khác nhau. Năm 1952, hai nhà nhân loại học Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa.2

Nhân loại học và xã hội học là những lĩnh vực có nhiều nghiên cứu sâu sắc và rộng rãi về văn hoá hơn cả. Định nghĩa về văn hoá đầu tiên được công nhận rộng rãi là định nghĩa của nhà nhân loại học người Anh Edward Tylor (1832 – 1917) đưa ra vào những năm 1980. Theo ông, “Văn hoá là một tổng thể phức tạp bao gồm các kiến thức, niềm tin, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục và bất cứ khả năng, tập quán nào khác mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên trong xã hội” (Culture is that complex whole which includes knowledge, belief, art, morals, law, customs and other capabilities and habits acquired by man as a member of society).3 Định nghĩa này đã nêu ra khá đầy đủ những giá trị “vô hình” song vẫn chưa bao hàm đầy đủ những khía cạnh “hữu hình” - một phần không thể thiếu của văn hoá. Nhà nhân chủng học người Mỹ Melville Jean Herskovits (1985 – 1963) đã bù lấp được phần thiếu hụt này của Edward Tylor với định nghĩa “Văn hoá là phần môi trường do con người tạo nên” (the human made part of the environment).4 Như vậy văn hoá là sự kết hợp của cả hai nhân tố khách quan và chủ quan. Nhân tố khách quan hay còn gọi là mặt “hữu hình” của văn hoá, bao gồm những công cụ, đường xá, chương trình truyền hình, kiến trúc và những vật chất khác do con người tạo ra. Còn nhân tố chủ quan hay còn gọi là mặt “vô hình” của văn hoá, bao gồm những quy tắc, giá trị, tư tưởng, phong tục và những biểu tượng có ý nghĩa khác. Có thể thấy, hai khái niệm trên của hai nhà nhân loại học đều đi theo con đường cổ điển. Trong khi đó, giáo sư tâm lý học người Mỹ Harry Triandis lại có cái nhìn khá mới mẻ. Theo ông, “văn hoá bao hàm những sự tương đồng và khác biệt; các nền văn hoá đều chứa đựng đồng thời những điểm giống và khác nhau” (views culture as an interplay of sameness and differences; all cultures are simultaneously very similar


2 Nguyễn Hoàng Ánh (2004), Vai trò của văn hoá trong kinh doanh quốc tế và vấn đề xây dựng văn hoá kinh doanh ở Việt Nam, Luận Án TS Kinh tế, tr.9.

3 Charles W.L.Hill (2007), International Business, NXB Mc Graw Hill, xuất bản lần thứ 6, tr. 89.

4 S. Tamer Cavusgil, Gary Knight, John R. Riesenberger (2007), International Business: Strategy, Management and The New Reality, NXB Prentice Hall, tr. 129.

Bài viết tương tự

Gửi tin nhắn

Danh mục

Bài viết tương tự

Bài viết mới

Home | Contact | About | Terms | Privacy policy
© 2022 Tailieuthamkhao.com | all rights reserved