Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế hiện nay đến Việt Nam và một số nước đang phát triển - 12

Digg Facebook Google LinkedIn Pinterest Reddit Tumblr Twitter
1

Nội dung:


Ngân hàng Phát triển Việt Nam là cơ quan thực hiện việc cho vay này đối với các doanh nghiệp.

Đối với người lao động bị mất việc làm tại doanh nghiệp mà chủ doanh nghiệp bỏ trốn trong năm 2009 thì UBND cấp tỉnh ứng ngân sách địa phương trả cho người lao động có trong danh sách trả lương của doanh nghiệp khoản tiền lương mà doanh nghiệp đó còn nợ người lao động. Nguồn tạm ứng từ ngân sách địa phương được hoàn trả từ nguồn thu khi thực hiện xử lý tài sản của doanh nghiệp theo quy định hiện hành. Nếu nguồn tài chính của địa phương không đủ để xử lý thì địa phương có báo cáo lên Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Ngoài ra, người lao động bị mất việc làm trong các trường hợp trên, kể cả người lao động đi làm việc tại nước ngoài phải về nước trước thời hạn do doanh nghiệp nước sở tại gặp khó khăn sẽ được vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội để học nghề trong thời gian 12 tháng, kể từ ngày người lao động bị mất việc làm hoặc ngày lao động phải về nước.

Thực hiện tăng thêm dự trữ quốc gia về lương thực để chủ động cứu trợ cho người dân ở các vùng bị lũ, lụt. Tiếp tục thực hiện trợ cấp khó khăn cho người hưởng lương từ ngân sách nhà nước có đời sống khó khăn thu nhập thấp. Đặc biệt quan tâm bảo đảm y tế, giáo dục, nhất là đối tượng chính sách và các khu vực còn nhiều khó khăn.

1.6. Ổn định hệ thống tài chính:

Mặc dù hệ thống tài chính Việt Nam chưa hội nhập sâu với hệ thống tài chính toàn cầu, chúng ta chỉ mới mở cửa tài khoản vốn vào mà hầu như chưa mở cửa dòng ra, do vậy lượng tiền Việt Nam đầu tư ra bên ngoài dường như không đáng kể và dòng vốn gián tiếp đổ vào Việt Nam chưa nhiều nên hệ thống tài chính của Việt nam sẽ không chịu nhiều tác động từ cuộc khủng


hoảng này so với các nước có mức độ hội nhập tài chính sâu rộng. Nhưng điều này không có nghĩa là hệ thống tài chính của chúng ta không bị ảnh hưởng. Do đó, Nhà nước cần có những chính sách để ổn định hệ thống tài chính nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng trước khi có những ảnh hưởng nghiêm trọng.

Ngân hàng hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính chỉ đạo và yêu cầu các ngân hàng thương mại, các tập đoàn kinh tế rà soát ngay các khoản tiền gửi và đầu tư tại các ngân hàng thương mại, tổ chức tài chính nước ngoài cũng như các khoản vay của các tổ chức này. Từ đó thực hiện biện pháp cần thiết thích hợp để giảm thiểu nguy cơ mất vốn hoặc tăng chi phí, đồng thời, rà soát hoạt động đầu tư, kinh doanh của các ngân hàng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Có thể bạn quan tâm!

Xem toàn bộ 114 trang: Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế hiện nay đến Việt Nam và một số nước đang phát triển

Thủ tướng chỉ đạo, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng cần đảm bảo ổn định, an toàn của hệ thống ngân hàng. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần có biện pháp giám sát chặt chẽ và chỉ đạo các ngân hàng thương mại rà soát lại các khoản cho vay đầu tư, đặc biệt là đầu tư vào những lĩnh vực rủi ro cao (bất động sản, chứng khoán, đầu tư đa ngành...), tăng cường hơn nữa kiểm soát và phòng ngừa rủi ro đối với hoạt động cho vay bất động sản.

Nghiên cứu hoàn thiện quy chế mua bán nợ và thiết lập tổ chức mua bán, xử lý nợ khó đòi cho hệ thống ngân hàng thương mại. Sớm xây dựng trình Chính phủ ban hành quy định về việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại, phá sản những ngân hàng gặp vấn đề. Trên cơ sở đó để có căn cứ pháp lý thực hiện chủ trương về cơ cấu lại những ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng yếu kém, bảo đảm lành mạnh, an toàn của hệ thống.

Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế hiện nay đến Việt Nam và một số nước đang phát triển - 12

Bộ Tài chính cần chỉ đạo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước theo dõi, giám sát chặt chẽ luồng vốn ra, vào của nhà đầu tư nước ngoài; đồng thời, xử lý những vướng mắc về thủ tục hành chính trong hoạt động chứng khoán để


đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư từ thị trường này và phát triển thị trường bền vững. Thực hiện rà soát ngay hoạt động của các tổ chức tài chính, các quỹ đầu tư tài chính để đánh giá và xác định tình trạng tài chính hiện nay của từng quỹ và toàn bộ hệ thống; sửa đổi, bổ sung, xây dựng các tiêu chí, điều kiện về cấp phép thành lập và hoạt động đối với các công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm và công ty quản lý quỹ cho phù hợp với tình hình mới.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, cùng với Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo rà soát tình hình thực hiện các dự án đầu tư nước ngoài, đầu tư trong nước để sớm đưa công trình vào sử dụng hoặc đình hoãn đối với những dự án, công trình xét thấy chưa thật cần thiết.

1.7. Thực hiện chính sách tài chính – tiền tệ tích cực và hiệu quả:

Chính sách tài chính tiền tệ chủ yếu tập trung vào những mục tiêu sau: Một là, ổn định kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh xuất khẩu; Hai là, phân phối kinh phí hợp lý, tăng cường chăm lo cho đồng bào nghèo vùng sâu, vùng xa, vùng bị thiên tai; Ba là, đổi mới, sắp xếp lại các doanh nghiệp, duy trì và củng cố lại các doanh nghiệp nhà nước. Sau khi đã tạo ra được mặt bằng lãi suất hợp lý thì chính sách tiền tệ cần tập trung vào giữ ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt nhưng linh hoạt trong điều hành. Chính sách tài chính (thuế, thu chi ngân sách…) phải nhằm khuyến khích phát triển sản xuất, tăng đầu tư cho những dự án có hiệu quả để duy trì tăng trưởng, loại bỏ những dự án chưa thực sự cần thiết, kém hiệu quả. Tiếp tục hỗ trợ vốn, công nghệ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp làm ăn hiệu quả vì các doanh nghiệp vừa và nhỏ mới là động lực chính của phát triển nền kinh tế. Trong số gần 350.000 doanh nghiệp ở Việt Nam, có tới 95% là doanh nghiệp vừa và nhỏ, tạo ra hơn 50% việc làm cho lao động.


Với lợi thế tạo được nhiều việc làm và thu nhập, phát triển được ở mọi vùng, miền ngành kinh tế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ làm cho nền kinh tế trở nên linh hoạt, dễ thích ứng với những biến động của nền kinh tế toàn cầu.

Tạo điều kiện tiếp cận nguồn vốn tín dụng cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu, doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm, thực hiện cơ cấu lại thời hạn vay nợ, giãn nợ vay vốn ngân hàng đối với nông dân bị thiệt hại do thiên tai và các doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm. Điều chỉnh linh hoạt tỉ giá ngoại tệ theo hướng khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu, bảo đảm cán cân thanh toán quốc tế không bị thâm hụt.

Những giải pháp trên đều nhằm đáp ứng các yêu cầu hỗ trợ sản xuất, giữ vững thị trường nội địa, phát huy lợi thế xuất khẩu, giữ vững và thu hút thêm FDI mới. Mọi nỗ lực giải pháp để ngăn chặn phải được thực hiện linh hoạt phù hợp.

Cùng với quá trình cải cách, đổi mới quản lý hệ thống tài chính – tiền tệ; đổi mới thủ tục cho vay dễ dàng hơn; thì Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần phải tăng cường khâu quản lý, kiểm tra, giám sát các tổ chức tài chính – tiền tệ phù hợp với tình hình thực tiễn.

Trong năm 2009, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tạm thời chưa nên cấp giấy phép hoạt động cho các ngân hàng mới.

Trong thanh toán quốc tế, ngoài việc thanh toán bằng đô la Mỹ cũng cần tăng nhanh tỷ lệ thanh toán bằng các đồng tiền khác như Euro, bảng Anh, Yên Nhật, Nhân dân tệ và một số ngoại tệ mạnh khác.

Ngoài dự trữ ngoại tệ bằng đô la Mỹ thì cũng cần tăng thêm dự trữ bằng đồng Euro, bảng Anh, Yên Nhật và Nhân dân tệ. Thực tế chỉ ra rằng nếu thời gian qua tăng dự trữ bằng đồng Euro thì rất có lợi vì đồng Euro đã lên


giá rất mạnh từ năm 2002 – 2008 (Năm 2002: 1 Euro = 0,8 USD thì năm 2008: 1 Euro = 1,5 USD).

1.8. Tăng cường đẩy mạnh quan hệ hợp tác song phương, đa phương khu vực và quốc tế:

Phối hợp với các nước trong khu vực để thực hiện các biện pháp đối phó với khủng hoảng tài chính một cách có hiệu quả. Đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ về tài chính của các quỹ tài chính thế giới như World Bank( WB), tổ chức tài chính quốc tế (IFC)…

2. Giải pháp của các doanh nghiệp:

Doanh nghiệp là một nhân tố hết sức quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO. Một điều quan trọng là phải tập trung mọi nỗ lực để nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. Đây là nhiệm vụ mà tất cả các cấp từ trung ương đến địa phương, các nghành, các cấp, các tổ chức và các doanh nghiệp cần phải cùng nhau thực hiện. Về phía các doanh nghiệp cần phải chú ý thực hiện các biện pháp sau:

2.1. Nâng cao chất lượng nhân lực, hàng hoá, dịch vụ:

Doanh nghiệp cần nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn vốn

nhân lực theo hướng chuyên nghiệp hoá và công nghiệp hoá, nâng cao năng suất lao động, qua đó gián tiếp giảm chi phí hoạt động, có chương trình cụ thể về đào tạo và tuyển dụng, sử dụng và thường xuyên đào tạo lại nguồn nhân lực; nhanh chóng tiếp cận và tiếp thu, áp dụng những kĩ năng quản lý và sử dụng nguồn nhân lực; nhanh chónh hợp lý hoá các quá trình sản xuất- kinh doanh, tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động. Tăng cường triển khai các hệ thống quản lý sản xuất- kinh doanh nhằm giảm rủi ro, giảm tỷ lệ sản phẩm kém chất lượng, tiết kiệm chi phí; khai thác hiệu quả những


tiện ích của công nghệ thông tin và đẩy mạnh ứng dụng thương mại điện tử, nâng cao hiệu qủa sản xuất kinh doanh.

Doanh nghiệp cần đẩy mạnh mối liên kết giữa người sản xuất – cung cấp nguyên, vật liệu đầu vào với doanh nghiệp và các cơ quan nghiên cứu khoa học, tổ chức hiệu quả chuỗi cung ứng từ khâu xuất nguyên liệu, vật liệu đầu vào đến khâu tổ chức sản xuất hiệu quả, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm của doanh nghiệp trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động xúc tiến thương mại như tìm hiểu thị trường, quảng bá sản phẩm, kí kết hợp đồng với đối tác nước ngoài…Đối với nghành nghề liên quan đến thị hiếu, tính sáng tạo, cần tập trung cải thịên kĩ năng thiết kế sáng tạo mẫu mã sản phẩm cho đẹp và cho phù hợp với nhu cầu phong phú của người tiêu dùng. Vấn đề này cần học tập kinh nghiệm của các nước khác. Trong nông nghiệp cần tăng cường xuất khẩu các sản phẩm đã qua chế biến, có chất lượng cao, các mặt hàng có giá trị gia tăng cao; nghiên cứu đưa ra thị trường những sản phẩm mới lạ, dựa trên viêc áp dụng khoa học – kĩ thuật; tiếp tục khai thác thị trường truyền thống, đồng thời không ngừng phát triển xuất khẩu sang thị trường mới, chú ý tập áp dụng khoa hoc – công nghệ tiến bộ trong nông nghiệp, tập trung vào khâu giống, phương pháp nuôi, trồng, đẩy mạnh đầu tư trang thiết bị, công nghệ trong khâu chế biến, thu hoạch sản phẩm; phát triển mạnh công nghiệp chế biến để hàng xuất khẩu có giá trị gia tăng cao và giảm bớt những thịêt hại cho nông dân. Bên cạnh đó cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu và dự báo nhu cầu thi trường từ phía các doanh nghiệp để các doanh nghiệp luôn chủ động trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu hàng hoá, đồng thời có quyết sách phù hợp với cơ hội và thách thức mang lại từ hội nhập kinh tế quốc tế.


2.2. Xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm của doanh nghiệp:

Một vấn đề hết sức quan trọng đối với hàng hoá xuất khẩu nói riêng và của Việt Nam nói chung đó là vấn đề thương hiệu. Hầu hết các sản phẩm của Việt Nam hiện nay hầu hết đều chưa được đăng kí thương hiệu, sản phẩm được tiêu thụ dưới nhãn mác của các thương hiệu nổi tiếng trên thế giới. Việc không có thương hiệu hàng hoá đã ảnh hưởng không nhỏ đến xuất khẩu sản phẩm và lợi nhuận của các doanh nghiệp sản xuất – xuất khẩu. Do vậy bên cạnh các hoạt động nói trên, các doanh nghiệp cần chú ý xây dựng cho mình một thương hiệu riêng, một đặc trưng riêng.

2.3. Đa dạng hóa mặt hàng và thị trường xuất khẩu.

Các doanh nghiệp cần phải giảm sự phụ thuộc vào thị trường truyền thống và mở thêm các thị trường mới. Cụ thể tăng xuất khẩu vào các thị trường thuộc khu vực mậu dịch tự do ASEAN, ASEAN – Trung Quốc, ASEAN – Hàn Quốc… và các thị trường ít bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Trong đó, châu Phi và Trung Đông nổi lên là những thị trường xuất khẩu đầy triển vọng trong tương lai.

Trong bối cảnh khó khăn, bên cạnh việc chú trọng khai thác thị trường nội địa, thì tiếp tục mở rộng thị trường xuất khẩu là giải pháp được nhiều Doanh nghiệp dệt may triển khai. Tập đoàn đã chỉ đạo các Doanh nghiệp thành viên bám sát thị trường, khách hàng xuất khẩu hiện có, làm tốt công tác chăm sóc khách hàng để giữ vững những thị trường xuất khẩu truyền thống. Tập trung khai thác thế mạnh làm hàng chất lượng cao để tăng giá trị gia tăng, giao hàng đúng hạn, đáp ứng cả những đơn hàng số lượng ít và nhất là đáp ứng các yêu cầu tiêu chuẩn môi trường, quan hệ lao động hài hòa... là những lợi thế để doanh nghiệp dệt may giữ chân khách hàng truyền thống và thu hút khách hàng mới. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần tìm mọi cách giảm giá thành để có được giá bán phù hợp thị trường nhưng vẫn duy trì được lao


động, thu nhập. Trong giai đoạn khó khăn hiện nay, sự liên kết, hỗ trợ giữa các doanh nghiệp là rất quan trọng. Các doanh nghiệp lớn có thể hỗ trợ, giúp đỡ doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các địa phương, các đơn vị liên kết của tập đoàn để có đơn hàng ổn định.

Ngoài các thị trường truyền thống, các doanh nghiệp cũng cần năng động tìm kiếm thị trường ngách mà Việt Nam có lợi thế, đẩy mạnh hoạt động xúc tiến nghiên cứu thị trường ngoài nước và đặc biệt quan tâm tổ chức mời khách hàng tiềm năng vào thương lượng tại Việt Nam. Có chiến lược tiếp cận với thị trường Nhật Bản để khai thác tốt Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam-Nhật Bản, đồng thời khai thác thị trường mới đầy tiềm năng tại Trung Ðông, Nam Phi, Nga.

Với sự nỗ lực của nhiều doanh nghiệp, ngay từ những tháng đầu năm nay, nhiều doanh nghiệp trong nước đã ký được những hợp đồng xuất khẩu mặt hàng sợi cao cấp, sợi trung bình sang thị trường Trung Ðông, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ma-lai-xi-a, Phi-li-pin, Trung Quốc... Các mặt hàng áo giắc-két, măng-tô, vét-xtông, khăn các loại, vải cao cấp đã có thêm hợp đồng mới tại thị trường EU, Trung Ðông, Nhật Bản... Tỷ trọng sản xuất hàng FOB tăng do nhiều doanh nghiệp đã đáp ứng yêu cầu về chất lượng, nguyên phụ liệu. Sản phẩm vải 100% cốt-tông cao cấp của Công ty Pang-rim, do Hàn Quốc đầu tư 100% vốn, đã được khách hàng Nhật Bản, Hàn Quốc, EU chấp nhận làm nguyên liệu đặt hàng may mặc xuất khẩu; vải lụa, tơ tằm của Công ty dệt Thái Tuấn được xuất khẩu sang thị trường Trung Ðông; khăn cao cấp của TCT Phong Phú xuất khẩu sang Nhật Bản, EU. TCT cổ phần may Việt Tiến đã đầu tư 11 nhà máy sản xuất các sản phẩm cho hệ thống của NIKE, xuất khẩu không chỉ sang thị trường Mỹ, EU mà năm nay còn mở thêm thị trường châu Á.

https://tailieuthamkhao.com

Bài viết tương tự

Gửi tin nhắn

Danh mục

Bài viết tương tự

Bài viết mới

Home | Contact | About | Terms | Privacy policy
© 2022 Tailieuthamkhao.com | all rights reserved

Trang chủ Tài liệu miễn phí